Người tốt - Việc tốt

Học tập đạo đức Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ vĩ đại của Đảng và nhân dân ta, “Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa kiệt xuất”. Nghiên cứu, học tập và làm theo Chủ tịch Hồ Chí Minh ở góc độ đạo đức – Người là bậc “đại nhân”. Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà chính trị, nhà tư tưởng vô sản lỗi lạc ở thế kỷ XX có đạo đức cao cả. Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” (10/1947), Chủ tịch Hồ Chí Minh có viết: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nước thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì?” (Sửa đổi lối làm việc, xem bản in của NXB CTQG và NXB Trẻ, năm 2005, tr. 40). Cuộc đời cách mạng vô cùng gian khổ, anh dũng và trong sáng của Người là một hệ thống minh chứng cho điều đó.

Đạo đức Hồ Chí Minh trước hết thể hiện ở lòng yêu nước nồng nàn, thương dân sâu sắc; tinh thần hy sinh, phấn đấu đến cùng vì độc lập của Tổ quốc, vì tự do và hạnh phúc của nhân dân

Năm 1911, thầy giáo Nguyễn Tất Thành ở trường Dục Thanh (Phan Thiết) đã từ bến cảng Nhà Rồng (Sài Gòn) xuất dương tìm đường cứu nước. Sao bao nhiêu năm hoạt động cách mạng ở nước ngoài, đặc biệt ở Pháp, Liên Xô và Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh cực lực lên án chính sách cai trị tàn bạo của thực dân Pháp đối với nhân dân ta và nhân dân các thuộc địa của chủ nghĩa thực dân. Suốt 60 năm hoạt động cách mạng, chịu bao nhiêu vất vả, khó khăn, tù đày, Người trở về nước kịp thời lãnh đạo Đảng và nhân dân ta đứng lên làm cuộc cách mạng tháng Tám 1945 thành công, xây dựng nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Từ đấy, Người càng dốc hết tâm huyết, trí tuệ của mình vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, tiến hành công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc, chiến tranh chống đế quốc Mỹ, cứu nước, nhằm giải phóng miền Nam, cho đến hơi thở cuối cùng. Hồ Chủ tịch từng bộc bạch tâm tư của mình: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” (Hồ Chí Minh – Toàn tập, tập IV, NXB Sự Thật, Hà Nội – 1984, tr. 100). Đấy là lý tưởng mà Người suốt đời phấn đấu thực hiện. Tinh thần quyết tâm phấn đấu hy sinh cho lý tưởng của Đảng, phục vụ Tổ quốc và nhân dân là cốt lõi đạo đức Hồ Chí Minh.

Đạo đức Hồ Chí Minh là Cần – Kiệm – Liêm – Chính – Chí công vô tư

Suốt đời Bác Hồ là tấm gương Cần – Kiệm – Liêm – Chính – Chí công vô tư. Đây là bản sắc, tinh hoa của đạo lý dân tộc và lương tâm của thời đại, được tập trung biểu hiện ở Bác Hồ. Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhận định: Đó là những “mỹ đức” của Hồ Chủ tịch, đồng thời là “đời sống thật sự văn minh mà Bác Hồ nêu gương sáng trong thế giới ngày nay” (Phạm Văn Đồng – Tổ quốc ta, nhân dân ta, sự nghiệp ta và người nghệ sĩ. NXB Văn học, Hà Nội – 1973, tr. 279). Bác suốt ngày làm việc, thậm chí nhiều khi không chợp mắt nghỉ trưa: từ việc chỉ đạo TƯ Đảng và Chính phủ định ra những chủ trương, đường lối, chính sách lớn, tiếp khách trong nước và nước ngoài, đến thăm và làm việc với các cơ sở, hoặc viết thư thăm hỏi thương binh, các gia đình liệt sĩ, các bậc phụ lão, các cháu thanh thiếu niên và nhi đồng… Bác ăn uống đạm bạc. Những ngày ở Việt Bắc, Bác thường ăn chung với các đồng chí giúp việc. Bữa cơm của Bác thường chỉ có vài món bình dị. Bác thích ăn cá kho tương và cà pháo nén – món ăn quen thuộc của đồng bào Nghệ An quê hương. Khi ăn, không để rơi vãi một hột cơm. Những thức ăn còn lại, được thu dọn tươm tất, để dùng cho bữa sau. Trở về Hà Nội, tháng 10/1954, Bác Hồ không ở tòa nhà lộng lẫy trong Phủ Toàn quyền của Pháp, mà ở ngôi nhà sàn chỉ có 3 phòng nhỏ, như nhà sàn của đồng bào Việt Bắc. Các chính khách quốc tế đến thăm nhà sàn của Bác đều hết sức kinh ngạc và thán phục khi thấy tài sản của một vị Chủ tịch nước chẳng có gì ngoài bộ quần áo kaki, đôi dép lốp, chiếc mũ cát, mẩu bút chì và một chiếc đài nhỏ để nghe tin tức.

So-528--Hoc-tap-dao-duc-Ho-Chi-Minh---Anh-1
Bữa cơm đạm bạc của Bác Hồ trên đường đi công tác tại Việt Bắc (ảnh tư liệu).

Chủ tịch Hồ Chí Minh không bao giờ ham muốn danh lợi, chức quyền. Người từng nói: “Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào. Bây giờ phải gánh chức Chủ tịch là vì đồng bào ủy thác thì tôi phải gắng làm, cũng như một người lính vâng lệnh quốc dân ra trước mặt trận. Bao giờ đồng bào cho tôi lui thì tôi rất vui lòng lui. (…). Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh nước biếc, để câu cá, trồng rau. Sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi” (Hồ Chí Minh – Toàn tập, tập IV, Sđd, tr. 100).

Đạo đức Hồ Chí Minh là sống khiêm tốn, gần dân, thấu hiểu và đồng cảm với tâm tư, nguyện vọng của nhân dân

Nhà thơ Tố Hữu đã viết về đức khiêm tốn của Bác Hồ:

Như đỉnh non cao tự giấu hình,
Trong rừng xanh lá, ghét hư vinh
(Trích Theo chân Bác)

Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói về nếp sống gắn bó với nhân dân của Bác Hồ: “Hồ Chủ tịch là vị chỉ huy cao nhất và gần gũi nhất, đem lại tin tưởng cho chiến sĩ và đồng bào. Đối với mỗi nhà Việt Nam, Bác là một người trong gia đình, thân thiết như cha với con. Đối với mỗi người Việt Nam, Bác là lương tâm tuyệt vời trong sáng, luôn luôn thấu hiểu từ bên trong mọi ý nghĩ và nguyện vọng của mình” (Phạm Văn Đồng – Tổ quốc ta, nhân dân ta, sự nghiệp ta, và người nghệ sĩ, Sđd, tr. 256). Là lãnh tụ tối cao của Đảng và dân tộc, nhưng Bác Hồ luôn luôn sống hòa đồng với nhân dân, như cá với nước, không hề cách biệt với đồng bào. Kể từ sau ngày hòa bình lập lại ở miền Bắc (7/1954), Bác Hồ đã hơn 700 lần về thăm và làm việc với cấp cơ sở: từ các hợp tác xã nông nghiệp, ngư nghiệp, các xí nghiệp, nhà máy, hầm mỏ, các đơn vị bộ đội và thanh niên xung phong, các trường học, từ miền xuôi đến miền ngược, từ đất liền ra hải đảo. Bác cùng tát nước chống hạn với bà con nông dân, thăm tận nơi ăn ở của công nhân và bộ đội, ân cần thăm hỏi đời sống của mọi người.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thường căn dặn các cán bộ, đảng viên: “Ta phải liên lạc mật thiết với dân chúng. Không được rời xa dân chúng. Rời xa dân chúng là cô độc. Cô độc thì nhất định thất bại” (Sửa đổi lối làm việc; sđd, tr. 18); và Bác nhấn mạnh: “Đạo đức cách mạng là hòa mình với quần chúng thành một khối, tin quần chúng, hiểu quần chúng, lắng nghe ý kiến của quần chúng. Do lời nói và việc làm, đảng viên, đoàn viên và cán bộ làm cho dân tin, dân phục, dân yêu, đoàn kết quần chúng chặt chẽ chung quanh Đảng, tổ chức, tuyên truyền và động viên quần chúng hăng hái thực hiện chính sách và nghị quyết của Đảng” (Bài Đạo đức cách mạng – 1958; in trong Hồ Chí Minh – Về vấn đề giáo dục, NXB Giáo dục, Hà Nội – 1990, tr. 176). Sống gần dân, vì thương dân và tin dân, nên Bác đã xây dựng được khối đại đoàn kết dân tộc một cách vững chắc, đề ra được những chủ trương, chính sách đúng đắn, sáng suốt, kịp thời, hợp lòng dân, và nhân dân càng kính yêu Bác, càng tin tưởng và đoàn kết dưới ngọn cờ của Hồ Chủ tịch.

Đạo đức Hồ Chí Minh còn thể hiện đậm nét ở việc Bác rất giỏi dùng người, giỏi “chiêu hiền đãi sĩ” để phục vụ cách mạng

Trên cơ sở lòng yêu nước, thương dân vô hạn và quán triệt tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”, Bác Hồ rất tin tưởng vào sức mạnh của nhân dân, khéo động viên, khai thác nguồn sức mạnh to lớn đó vào công cuộc kháng chiến và kiến quốc. Về việc dùng người để phụng sự cho công cuộc cách mạng, Bác luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải thực hiện tốt câu nói của các bậc túc nho thủa trước: “Dụng nhân như dụng mộc”. Gỗ quý, gỗ tốt thì dùng vào các việc quan trọng; gỗ bình thường thì làm những thứ bình thường. Ai cũng được Bác quan tâm, sắp xếp công việc phù hợp với khả năng, tài trí của mình. Trong việc “lựa chọn cán bộ” (chữ Bác dùng – ĐNĐ ghi chú) để giao việc, cất nhắc, Bác đặc biệt chú ý đến: “Những người đã tỏ ra rất trung thành và hăng hái trong công việc, trong lúc đấu tranh” và “Những người liên lạc mật thiết với dân chúng, hiểu biết dân chúng. Luôn luôn chú ý đến lợi ích của dân chúng. Như thế, thì dân chúng mới tin cậy cán bộ và nhận cán bộ đó là lãnh đạo của họ” (Sửa đổi lối làm việc, sđd, tr. 72).

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng suốt thực hiện thành công chủ trương trọng dụng hiền tài, “chiêu hiền đãi sĩ” để đoàn kết toàn dân, đưa cách mạng đến thắng lợi. Bác nói: “Phong trào giải phóng sôi nổi, nảy nở ra rất nhiều nhân tài ngoài Đảng. Chúng ta không được bỏ rơi họ, xa cách họ. Chúng ta phải thật thà đoàn kết với họ, nâng đỡ họ. Phải thân thiết với họ, gần gũi họ, đem tài năng của họ giúp ích vào công cuộc kháng chiến cứu nước” (Sửa đổi lối làm việc, sđd, tr. 73). Trong cuộc cách mạng tháng 8-1945, Hồ Chủ tịch bố trí thành phần trong Chính phủ lâm thời chỉ có một số ít là đảng viên cộng sản, còn phần đông là đại diện các đảng phái, các nhân sĩ, trí thức có tài năng và tinh thần dân tộc. Bác mời cả Bảo Đại ra làm “cố vấn”. Bác đề cử nhà nho Huỳnh Thúc Kháng làm Phó Chủ tịch nước, và khi Bác sang Pháp đàm phán thì Cụ Huỳnh được giữ chức Quyền Chủ tịch nước. Các nhân sĩ, trí thức yêu nước và tài trí, như Bùi Bằng Đoàn, Nguyễn Văn Tố, Võ Liêm Sơn, Phan Kế Toại, Phạm Khắc Hòe… Có người từng làm quan to trong triều đình Bảo Đại cũng được Bác Hồ mời đảm nhiệm chức vụ quan trọng. Trí thức Tây học yêu nước và tài giỏi, như Nguyễn Văn Huyên, Vũ Đình Tụng, Vũ Đình Hòe, Tạ Quang Bửu, Phạm Quang Lễ (người được Bác Hồ đặt tên mới là Trần Đại Nghĩa), Vũ Trọng Khánh… và biết bao người con ưu tú của dân tộc đã đi theo tiếng gọi ái quốc thiêng liêng của Bác Hồ, từ bỏ giàu sang phú quý, dốc lòng phục vụ cách mạng, làm nên sự nghiệp vẻ vang. Những lời kêu gọi: “Nhân tài và kiến quốc” (14/11/1945) và “Tìm người tài đức” (20/11/1946) với câu mở đầu: “Nước nhà cần phải kiến thiết. Kiến thiết cần phải có nhân tài” (Hồ Chí Minh – Toàn tập, tập IV, sđd, tr. 57 và tr. 192) của Bác Hồ đã khích lệ những người có tài, có đức hăng hái cống hiến tâm trí của mình cho kháng chiến và kiến quốc thành công. Bác kêu gọi Thi đua ái quốc (1948), liên tục mở ra các phong trào thi đua trong tất cả các lĩnh vực của đời sống đất nước, thu được nhiều thành quả to lớn. Với mỗi người tốt, làm được một việc tốt trong đời sống hàng ngày, Bác cũng trân trọng, không bỏ sót và kịp thời thưởng Huy hiệu và gửi thư khen. Tấm lòng Bác bao dung và nhân ái biết chừng nào.

Đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức cách mạng cao cả, kết tinh và phát huy cao độ truyền thống đạo lý dân tộc, đồng thời kết hợp với tinh hoa của lương tâm loài người ở thời đại văn minh. Chủ tịch Hồ Chí Minh là một bậc “đại trí, đại nhân, đại dũng” của thế kỷ XX – trong đó chữ “nhân” là nền tảng đạo đức của Người. Cốt lõi chữ “nhân” của Bác là lòng yêu nước, thương dân vô hạn, tin dân sâu sắc, suốt đời hy sinh phấn đấu vì độc lập của Tổ quốc, vì tự do và hạnh phúc của nhân dân, không ham chức quyền, danh lợi. Chính điều đó làm cho nhân dân ta cảm phục, kính yêu, tin tưởng đi theo Người, làm nên sự nghiệp cách mạng huy hoàng. Chính vì thế, Bác Hồ sống mãi trong lòng nhân dân Việt Nam và bạn bè quốc tế.

Học tập đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh theo Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị nằm trong tổng thể “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” là một việc hết sức quan trọng và cần kíp trong thời kỳ xây dựng nền kinh tế thị trường và mở rộng giao lưu quốc tế, trong bối cảnh toàn cầu sôi động và tình hình đất nước hiện nay – khi quốc nạn tham nhũng, những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, về “tự diễn biến, tự chuyển hóa” trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên có chiều hướng gia tăng, ngày càng tinh vi và phức tạp. Do đó, cần phải thực hiện Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị một cách nghiêm cẩn, thường xuyên, vừa có chiều rộng trong toàn Đảng, toàn dân, vừa có chiều sâu về chất lượng, nhằm thu được những hiệu quả thiết thực, cụ thể.

Học tập đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh không phải là một việc khó. Điều quan trọng là mỗi cán bộ đảng viên, đặc biệt là những cán bộ lãnh đạo các cấp phải biết nêu gương về tự phê bình và phê bình, đấu tranh không khoan nhượng với mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân. Bác đã nói: “Người đảng viên, người cán bộ tốt muốn trở nên người cách mạng chân chính không có gì là khó cả. Điều đó hoàn toàn do lòng mình mà ra. Lòng mình chỉ biết vì Đảng, vì Tổ quốc, vì đồng bào thì mình sẽ tiến đến chỗ chí công vô tư” (Sửa đổi lối làm việc, sđd, tr. 38). Bác còn dạy rằng: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong/ Có gì vẻ vang hơn là trau dồi đạo đức cách mạng để góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và giải phóng loài người!” (Bài Đạo đức cách mạng, in trong tập Hồ Chí Minh – Về vấn đề giáo dục, NXB Giáo dục, Hà Nội – 1990, tr. 178).

Đào Ngọc Đệ
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 528

Ý Kiến bạn đọc