Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Học để dùng: Dùng đâu học đấy!

(Tiếp theo số báo 567, ngày 10-10-2019)

 

Chúng tôi đã nói đến sự tự mâu thuẫn – tự trào – của GS. Hồ Ngọc Đại (GS.HNĐ). Giáo sư còn có nhiều câu viết sai sao vội khẳng định học sinh lớp Ba Công nghệ giáo dục (CNGD) không bao giờ viết sai câu!

Trước khi nói về sự mơ hồ chật hẹp trong triết lý Học để dùng, chúng tôi có đôi lời về bộ sách lớp 1 – CNGD của Giáo sư mà Hội đồng thẩm định đã loại ngay từ vòng đầu. Theo Hội đồng thẩm định thì có đến 300 chỗ phải điều chỉnh sửa chữa. GS.HNĐ nói sẽ không điều chỉnh sửa chữa gì hết. PGS. Nguyễn Kế Hào thì cho rằng sửa nội dung (SGK của GS.HNĐ) là rất phức tạp. Nên chăng điều chỉnh các thông tư của Bộ GD-ĐT? (Xem trang mạng GDVN, ngày 3-10-2019).

Theo chúng tôi, Hội đồng thẩm định nên công khai 300 chỗ phải điều chỉnh, sửa chữa. Để công luận, nhất là phụ huynh học sinh Tiểu học, giới giáo viên đứng lớp, giới nghiên cứu giáo dục biết cụ thể. Như thế rất có ích cho đời sống học thuật và là cơ sở để GS.HNĐ cùng Hội đồng thẩm định có thể đối thoại dân chủ với nhau.

Cũng để đánh giá SGK CNGD của GS.HNĐ, chúng tôi đề nghị nên công khai chi tiết các dữ liệu sau:

- Số lượng 800.000 học sinh đã học chương trình của GS.HNĐ là con số trong một niên học cụ thể hay là tổng số trong hơn 40 năm thực nghiệm của chương trình.

- Số lượng 48 tỉnh thành sử dụng chương trình của GS.HNĐ là đại trà trong cả tỉnh hay chỉ một số trường trong mỗi tỉnh thành.

- Công văn hướng dẫn của nguyên Bộ trưởng Nguyễn Vinh Hiển có vai trò như thế nào trong việc các địa phương sử dụng SGK CNGD. Là vô tư học thuật hay có sự can thiệp, hướng dẫn chỉ đạo của lãnh đạo ngành.

Trên cơ sở dữ liệu đó dư luận mới đánh giá được.

Cũng cần lưu ý, Thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh không sử dụng chương trình CNGD của GS.HNĐ. Đây là dữ liệu hết sức quan trọng. Một là, vị trí chủ chốt, nêu gương của Thủ đô. Hai là, số lượng rất lớn học sinh Tiểu học của TP. Hồ Chí Minh. Nếu trong 40 năm qua sự nghiệp giáo dục Tiểu học ở hai vị trí trọng yếu này diễn ra bình thường thì chương trình của Bộ GD-ĐT và GS.HNĐ ở thế quân bình (?), không bên nào là ưu việt hơn bên nào.

Cũng cần khảo sát non 1 triệu học sinh Tiểu học theo chương trình CNGD khi lên các cấp học tiếp theo có ưu việt hơn chương trình của Bộ GD-ĐT hay không. Lâu nay chỉ thấy nói nhiều đến thời gian thử thách của SGK CNGD, số lượng học sinh theo học mà không thấy nói đến hiệu quả tiếp theo. Chẳng hạn lớp Hai CNGD làm được phép tính 2+3=11. Lên các lớp trên, tư duy này tiếp tục như thế nào?

Căn cứ trên thực tiễn 40 năm qua ở Thủ đô Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh, chúng tôi thấy có thể xếp chương trình CNGD của GS.HNĐ vào chương trình tự do như của Nhóm Cánh Buồm do nhà giáo Phạm Toàn chủ trì. Nghĩa là không bắt buộc phải lựa chọn đối với giáo viên và học sinh. Và càng không nên có áp lực của lãnh đạo như nguyên Bộ trưởng Nguyễn Vinh Hiển. Như thế là dân chủ – khoa học.

So-568--Anh-minh-hoa---Hoc-de-dung-Dung-dau-hoc-day---Anh-1

Chúng tôi muốn lưu ý về sức hấp dẫn của SGK CNGD về phương pháp tổ chức học. Vừa chơi vừa học vừa học vừa chơi, không phải làm bài tập, không cho điểm. Cùng nhau học – cùng nhau lên lớp. Không khen thưởng cũng không phê bình. Như vậy thì số lượng 931.000 hiện nay hay 800.000 hay 650.000 học sinh lựa chọn Thầy Đại quả là còn quá ít. Lẽ ra phải là 100%. Và học như thế thì các thầy cô hẳn rất được nhẹ mình. Đề nghị Bộ GD-ĐT đánh giá trên thực tiễn. Nếu phương pháp của Thầy Đại hấp dẫn được hầu hết các thầy và trò bậc Tiểu học thì nên hoan nghênh và vận dụng đại trà, đỡ tốn kém về mọi phương diện cho ngành giáo dục.

Nhưng sau lớp Ba CNGD thì vấn đề đặt ra là như thế nào. Cái nếp vừa học vừa chơi, không làm bài, không chấm điểm – dĩ nhiên là 100% lên lớp… sẽ ảnh hưởng như thế nào trên con đường dạy và học của thầy và trò, của nhà trường. Đây là vấn đề đơn thuần chuyên môn, chúng tôi chờ đợi ở Bộ GD-ĐT.

Song, dẫu chương trình của GS.HNĐ được hân hoan chào đón, áp dụng 100% cho cả nước, chúng tôi vẫn muốn trao đổi với GS.HNĐ về triết lý giáo dục Học để dùng, như chúng tôi đã nói ở trên, là rất mơ hồ và hạn hẹp, thực dụng. Nếu quan hệ giữa HỌC và DÙNG không được hiểu thấu đáo sẽ rất nguy hiểm không chỉ cho giáo dục mà là cho văn hóa dân tộc. Học để dùng đúng thế. Nhưng cái dùng của người có thực học chính tâm thành ý mong đến chỗ tân dân, chí thiện khác với cái dùng để cầu hư danh thực lợi.

GS.HNĐ cho rằng “Công nghệ giáo dục là một công nghệ sản xuất, làm ra sản phẩm tất yếu. Giáo dục hiện đại làm ra sản phẩm tất yếu thì cũng như nền sản xuất hiện đại làm ra sản phẩm tất yếu bằng công nghệ thực thi” (Tia Sáng. Bđd. Trg.38).

Thế thì nhẹ nhàng cho giáo dục quá nhỉ?

Chúng tôi đang tưởng tượng đầy hứng khởi. Nếu chương trình CNGD được Nhà nước thông qua vận dụng thì GS.HNĐ sẽ đưa ra một kế hoạch dài hạn, 10 năm chẳng hạn. Đến 2030, sẽ có bao nhiêu chuyên gia cao cấp ở lĩnh vực Cm 4.0. Bao nhiêu nhà toán học, vật lý, hóa học, bao nhiêu nhà kinh tế, nhà dự báo, bao nhiêu nhà văn nhà thơ có thể tranh giải Nobel, bao nhiêu minh tinh màn bạc và hoa hậu hoàn vũ… GDP sẽ là… Xuất siêu là… Công nghệ ông có rồi. Chỉ còn cơ sở vật chất không thể hơn được và một lý thuyết không thể bắt bẻ được (Xem Tư tưởng giáo dục của Hồ Ngọc Đại. Luận chiến văn chương Q.V. NXB. Văn học – 2019 và các bài Hồ Ngọc Đại đại ngôn… và Cách nhìn thời đại và triết lý giáo dục của cùng tác giả trên Văn Nghệ TP. Hồ Chí Minh các số 531 và 535 năm 2018).

Cơ sở vật chất thì Nhà nước phải lo. Công nghệ giáo dục và lý thuyết không thể bắt bẻ được, GS.HNĐ sẽ lo…

Chúng tôi tưởng tượng và rùng mình: một cuộc đại sụp đổ của tất cả. Bởi vì đem bán tất cả đất nước này cũng không đủ cho xây dựng cơ sở vật chất không thể hơn được cho một nền giáo dục mà 100% trẻ em đều đi học, với một đất nước có 100 triệu dân.

Lúc đó GS.HNĐ sẽ xoa tay: tại Nhà nước không lo đủ cơ sở vật chất và ngành giáo dục không tuân thủ công nghệ của ông!

Vì cái yêu cầu cơ sở vật chất không thể hơn được nó vô cùng lắm! Như Dự án Cát Linh.

Vậy thì ta tránh trước đi là hơn. CNGD của Giáo sư vận dụng cho đào tạo nghề hay các chuyên môn kỹ thuật thì được. Còn lĩnh vực nhân văn, công nghệ của Giáo sư sẽ như thế nào. Mà trong xã hội hiện đại, nếu con người không được đào tạo về nhân văn thì sẽ như thế nào? Những tệ nạn xã hội hiện nay chứng tỏ giáo dục – đào tạo về nhân văn chưa đáp ứng được sự tồn tại bình thường của xã hội, chưa nói là một xã hội phát triển. Trong tình hình đó mà tung ra triết lý Học để dùng thì hậu quả sẽ như thế nào.

Vì từ tháng 9-2018 đến nay chỉ thấy GS.HNĐ nêu ra và phê phán mặt bất cập của Nho giáo, của đạo lý Khổng – Mạnh, nên chúng tôi mong ông hãy xem xét Nho giáo và Khổng – Mạnh trên tinh thần khoa học. Để hiểu và vận dụng cho đúng triết lý Học để dùng.

Nếu nói về học để dùng thì xưa nay không ai nói đúng hơn, sâu sắc hơn, hay hơn Khổng Tử trong thiên Đại học. Chúng tôi cho rằng tư tưởng học để dùng của Khổng Tử đúng với mọi lớp người, mọi thời đại, mọi nơi. Vì khuôn khổ bài báo chúng tôi không dẫn lại. Nhưng nó chỉ có 205 chữ theo bản của Đoàn Trung Còn, Giáo sư nên tham khảo.

Khổng Tử nói đại ý người không học thì không biết cái lý. Lại nói sáng được nghe một câu đạo lý, chiều chết cũng vui lòng. Ông lại nói đại ý, có món ăn ngon mà không ăn thì sao biết được cái ngon đó. Có đạo hay mà không học thì sao biết được cái hay của đạo đó. Có học mới biết mình còn thiếu thốn đặng lo mà học để biết. Cái dùng của Khổng Tử là kinh bang tế thế cứu đời giúp dân. Tú – Tề – Tri – Bình… đâu chỉ là học theo công nghệ sản xuất như sản xuất vật chất mà đem ra mà dùng. (Nội dung trên do Cụ Trần Quốc Tường, một bậc hậu Nho giảng giải lại cho. Xin cảm ơn Cụ)

Sự học ngày nay, nên theo khuyến nghị của Hội đồng UNESCO: Học để biết. Học để làm. Học để làm người. Học để chung sống.

Xin lưu ý là Ngài Phó Tổng Giám đốc UNESCO đã khẳng định: “Có một mối tương liên giữa ý nghĩ của Hồ Chí Minh rằng mục tiêu cuối cùng của việc học là trở thành con người theo đúng nghĩa của từ này với 4 trụ cột của việc học đã được Ủy ban về Giáo dục cho thế kỷ XXI xác định là: Học để biết. Học để làm. Học để làm người. Học để chung sống” (Hồ Chí Minh. Anh hùng dân tộc và tầm thời đại của Người. GS. Hà Minh Đức biên soạn. NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật. 2018).

Tư tưởng về học để dùng từ Khổng Tử đến Hồ Chí Minh đến UNESCO là như thế. Giáo sư Hồ Ngọc Đại nghĩ sao? Có nên sửa lành ra què không?!

Nếu GS.HNĐ thấm nhuần triết lý trên thì chắc không tự đắc xưng xưng cuộc cách mạng giáo dục của tôi và cũng sẽ không hạ lời nhục mạ đồng nghiệp, coi thường kỷ cương phép nước khi nói rằng tất cả 15 người trong Hội đồng thẩm định đều không đủ tư cách thẩm định sách của ông (An ninh Thế giới, số 217, tháng 9-2019).

Thưa Giáo sư, Nguyễn Du đã viết Mà trong lẽ phải có người có ta (Kiều). Nếu chỉ có triết lý của tôi, cuộc cách mạng giáo dục của tôi, công nghệ giáo dục của tôi… thì hay quá nhỉ! Con người đó là tất cả. Cả thế giới. Cả nhân loại rồi. Miễn bàn!

Thế nhưng, vẫn phải bàn lại với GS.HNĐ, vì rất hay là, trong số tạp chí Tia Sáng đó, (số 18, tháng 9-2019) ở ngay sau bài của Giáo sư, Tòa soạn Tia Sáng cho đăng bài “Shibusawa Eiichi – Doanh nhân lập quốc vĩ đại của Nhật Bản minh trị” của tác giả Nguyễn Xuân Sanh. Theo đó thì Nhật Bản thành công nhờ đường lối Khoa học công nghệ phương Tây. Đạo đức phương Đông. Cụ thể là vẫn giữ lại Luận ngữ của Khổng Tử và kết hợp với bản tính (abacus) của người Nhật. Chúng tôi thấy Tòa soạn Tia Sáng có ý lắm. Họ muốn GS.HNĐ và Shibusawa cùng đối thoại với bạn đọc. Nếu họ đăng Shibusawa trước hoặc có thông tin cho Giáo sư, chắc Giáo sư phải rút lui bài viết của mình.

Kết luận ở đây là nên tiếp thu Khổng Tử một cách khách quan, đừng nhắm mắt phủ nhận tất cả. Khổng Tử có câu Quân xử thần tử… nhưng cũng có câu Quân quân thần thần… nghĩa là vua phải ra vua quan phải ra quan cha phải ra cha con phải ra con thầy phải ra thầy trò phải ra trò… Tức là tư tưởng chính danh, là ý thức về trách nhiệm và bổn phận. Cái rất thiếu trong nhà trường hiện nay còn chính là chỗ này. Nhầm lẫn kiểu Nguyễn Hải Thần(*) giữa thiết kế các môn khoa học với thiết kế các môn học còn thể tất được. Nhưng vốn sống của trẻ em là tưởng tượng phản khoa học không thể chấp nhận được ở một vị Giáo sư. Học để dùng thể hiện tham vọng triết học hóa CNGD nhưng mới ở dạng một phác thảo, đề cương đang còn “mắm nhiều hơn cơm” chúng tôi sẽ nói đến vào một dịp khác.

3-10-2019

Lê Thọ Xuân
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 568

——————-

(*) Nguyễn Hải Thần ở Tàu lâu ngày quên cả tiếng Việt nên ông ta phát cáu “tùng tào tùng tào địt mẹ cái tùng tào!”.

Ý Kiến bạn đọc