Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Học để dùng: Dùng đâu học đấy!

 

Giáo sư Hồ Ngọc Đại (GS.HNĐ) là ngòi bút tự trào lớn nhất thời đại ở Việt Nam hiện nay. Ông cho rằng “Môn tiếng Việt cổ truyền” thường chịu một hậu quả truyền kiếp: Cuộc cải cách giáo dục năm 1985 có đến 650.000 học sinh lớp 1 lưu ban. Ngày nay, học sinh lớp 12 còn viết sai câu, tốt nghiệp đại học viết đơn xin việc sai ngữ pháp… Chỉ có Môn tiếng Việt Công nghệ giáo dục (CNGD) mới tránh được “hậu quả truyền kiếp”:

- Lớp 1 đọc thông viết thạo, viết đúng chính tả.

- Học hết lớp 2, em viết thành câu.

- Học hết lớp 3, em không bao giờ viết sai câu (Hồ Ngọc Đại – Học để dùng. Tạp chí Tia Sáng số 18 – 20/9/2019).

Chúng tôi không tin điều đó, vì ngay câu đầu tiên ở bài viết trên, Giáo sư đã rất sai: “Tôi dùng triết lý này (học để dùng) để thiết kế các môn khoa học theo 3 nguyên tắc: Phát triển – Chuẩn mực – Tối thiểu” (Bđd. Trg.37).

Học sinh lớp Ba CNGD dĩ nhiên chưa thấy cái sai của câu này. Vì các em chưa thể biết được thuật ngữ bài học, môn khoa học và các môn khoa học. Đây là bài viết không phải cho học sinh lớp Ba CNGD. Vậy chúng ta phải chỉ ra cái sai trong câu này, để thấy bút lực tự trào của GS.HNĐ.

Chưa thấy ai thiết kế môn khoa học. Càng chưa thấy, trong lịch sử khoa học nói chung, một nhà khoa học nào thiết kế được các môn khoa học. Người ta chỉ có thể nói một người nào đó đã khởi xướng, là ông tổ của môn khoa học nào đó. Như Đề-các là ông tổ của (môn khoa học) tư duy duy lý. Hay Hegel là ông tổ của triết học duy tâm (nói một cách tương đối, vì trước Hegel đã có rất nhiều ông tổ duy tâm, đến Hegel mới là tập đại thành). Hoặc Khổng Tử là ông tổ của giáo dục nói chung và giáo dục nhà trường (mở trường dạy học) nói riêng. Hoặc ông tổ của các ngành nghề trồng dâu dệt vải, nghề kim hoàn, phở Nam Định hay cốm vòng, nghề hát chèo, cải lương, ca trù (hát ả đào)… Một môn khoa học nào đó hình thành trong cuộc sống, trải qua thời gian, qua rất nhiều thế hệ đóng góp vào mà hình thành nên. Từ những đo đạc đầu tiên của người Ai Cập đến con số của người Ả Rập… đến Ngô Bảo Châu hôm nay là một lịch sử lâu dài, cực kỳ phong phú, ai dám bảo ai là người thiết kế ra môn khoa học Toán học! Cũng như Cao Văn Lầu là ông tổ của bản Dạ cổ hoài lang mà không thể nói là người thiết kế bộ môn vọng cổ. Vì từ bản Dạ cổ hoài lang của Cao Văn Lầu đến nay, bộ môn vọng cổ (ca vọng cổ) đã cực kỳ phong phú.

Bởi thế, cái gọi là “học hết lớp 3, em không bao giờ viết sai câu”, nếu có, cũng chỉ là tương đối thôi. Bởi khẳng định như thế, GS.HNĐ phải đưa ra thống kê trong hơn 40 năm qua, có bao nhiêu học sinh đã qua lớp Ba CNGD và họ đã viết, cho đến nay, như thế nào.

GS.HNĐ có thể phản bác lại, ở bậc tiểu học, hẵng cứ dạy cho các em biết viết câu cho đúng, về hình thức (logic). Còn nội dung là chuyện sau này.

Thế cũng được. Nhưng với bạn đọc Tia Sáng hay An ninh Thế giới (xem số 217/ tháng 9-2019), thì không thể như thế được. Chúng tôi rất lấy làm tiếc, khi cười ra nước mắt, là người đầu tiên “thiết kế” môn Công nghệ giáo dục ở Việt Nam”, chỉ trong một bài viết ngắn – 2 trang tạp chí khổ 16×24 – mà quá nhiều câu sai. Sai trầm trọng cả về câu lẫn nội dung của câu. Xin tiếp tục:

“Cuộc cách mạng đầu tiên, lịch sử thay cày chìa vôi bằng máy hơi nước, mang một giá trị triết học vĩ đại là thay sức mạnh cơ bắp bằng sức mạnh trí óc, thay kinh nghiệm bằng khoa học” (Bđd. Trg.38).

Xin bóc tách câu văn trên, dạng câu phức hợp.

- Lịch sử thay cày chìa vôi bằng máy hơi nước. Xin thưa, máy hơi nước do Giêm Woat, người Anh, phát minh vào thế kỷ XVII, mở đầu cho Cuộc cách mạng công nghiệp ở Anh mà ngành dệt vận dụng sớm nhất, nhiều nhất. Còn cày chìa vôi là vật dụng ở Việt Nam, và mãi đến cuối thế kỷ XX (khoảng những năm 80) mới “kết thúc sứ mệnh”, vì chỉ đến khi người nông dân miền Bắc biết và có điều kiện sử dụng máy cày tay thay cho trâu bò kéo cày chìa vôi. Về lĩnh vực này, nông dân Nam bộ đi trước nhiều thập kỷ. Chúng tôi có thể nói như thế vì vào những năm 60 thế kỷ trước, cụ thể là trước năm 1967, tôi là xã viên HTX nông nghiệp ở Thanh Hóa, vẫn còn phải dùng cày chìa vôi, tuy có cải tiến ở cái diệp cày. Chủ trương cơ giới hóa nông nghiệp, dùng máy cày bánh xích loại lớn, nhập của Liên Xô, đã có từ những năm 60 (1960). Nhưng không thể phổ biến được. Vì sao? Xin tặng GS.HNĐ câu đối của những nông dân xã viên ở Hoằng Hóa, Thanh Hóa do nhà thơ Minh Tâm – phóng viên báo Nông thôn Ngày nay đã quá cố – ghi lại:

Trâu Đen ăn cỏ. Trâu Đỏ ăn gà. Hợp tác xã ta lên Liên Hiệp Cuốc.

Đây là câu tiêu biểu cho sự tham nhũng vặt thời bao cấp.

Câu đối này đến nay chưa ai đối lại được. Chúng tôi đặt câu này sau câu Gái Nguyệt Viên trăng tròn mười độ, đến nay cũng chưa ai đối lại được. Đáng khâm phục các nhà Nho dân gian ở Hoằng Hóa – Thanh Hóa, quê hương Trạng Quỳnh! Viết “lịch sử thay cày chìa vôi bằng máy hơi nước” cũng là câu vừa sai vừa không sai, nhưng có vẻ “hoa hòe hoa sói” lắm. Vì máy hơi nước ra đời ở thế kỷ XVII như đã nói, nó thay cho lực thủ công dùng sức mạnh cơ bắp của tay chân như trong ngành dệt, hay khi có tàu hỏa, rồi tàu thủy và sau này, cho đến nay các loại ô tô, máy bay… thay cho sức kéo, sức chuyên chở thủ công như thuyền, xe kéo, xe ngựa… Đem cái cày chìa vôi ra đây làm ví dụ, nó sên sến thế nào ấy.

“Thay sức mạnh cơ bắp bằng sức mạnh trí óc” cũng vẫn bị sến. Nói đúng ra, là thay sức mạnh cơ bắp bằng sức mạnh cơ giới (máy móc). Còn sức mạnh trí óc, thì hiển nhiên rồi, nhưng nó trừu tượng và phải dùng ở một ngữ cảnh khác. Bởi sức mạnh cơ bắp hay cơ giới cũng đều là sức mạnh của trí óc (tư duy) khi con người biết chế tạo công cụ sản xuất. Để phân biệt với con vật chỉ biết lợi dụng tự nhiên mà không biết tạo ra một tự nhiên mới cho mình (công cụ lao động).

“Mang một giá trị triết học vĩ đại…” khi thay sức mạnh cơ bắp bằng sức mạnh cơ giới cũng là rất sến. Tư duy và ngôn ngữ kiểu này thì “giá trị triết học vĩ đại” thành ra sáo ngữ, có thể dùng cho vô vàn trường hợp, như cái máy tính, điện thoại thông minh, máy giặt, máy hút bụi, máy massage… Giá trị triết học vĩ đại của tất cả các hiện tượng sự vật đó là vật chất quyết định ý thức trong sự vận động của cuộc sống.

“Cuộc cách mạng 1.0 này cấp sức mạnh vật chất lịch sử dứt khoát vượt bỏ quá khứ động vật – phạm trù con, chuyển hẳn sang phạm trù người…” (Bđd. Trg.38).

Quá sến!

Cách mạng 1.0 là từ máy hơi nước, với Giêm Woat thế kỷ XVII. Còn phạm trù người có từ bao giờ? Chúng tôi tha thiết mong GS.HNĐ hãy tôn trọng tồn tại khách quan, sự thật khách quan, thực tiễn lịch sử. Lịch sử loài người là vấn đề vô cùng rộng lớn. Các công trình về môn khoa học này chắc phải chất cao như núi. Chúng tôi tạm nói theo các nhà khoa học, gần nhất là GS. Trần Đức Thảo (Triết gia Trần Đức Thảo – NXB Đại học Huế. 2016). Con người và phạm trù người xuất hiện, được khẳng định khi có ngôn ngữ, khi con người hình thành gia đình và tiếp đó là xã hội. Lịch sử đó trải dài hàng vạn hàng triệu năm, sao lại là bắt đầu từ cách mạng 1.0 thế kỷ XVII?

GS.HNĐ tỏ ra rất bảo thủ khi ông vẫn tiếp tục cho rằng cuộc cách mạng 2.0 là thay máy hơi nước bằng hơi nổ (Bđd. Trg.38).

Chúng tôi đã nói (trên Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh, các số 531-535, năm 2018) rằng hơi nước và hơi nổ chỉ khác nhau về kỹ thuật và vật liệu nhưng có cùng nguyên lý tạo áp suất, đâu phải mang tính cách mạng như từ cơ bắp sang cơ giới. Chúng tôi thấy tác giả Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (NXB Thế giới, lần in thứ 2. Hà Nội – 2018) đưa ra luận điểm có cơ sở:

- Cuộc cách mạng 1.0: Máy hơi nước.

- Cuộc cách mạng 2.0: Điện khí hóa – Sản xuất dây chuyền và hàng loạt.

- Cuộc cách mạng 3.0: Máy tính hoặc cách mạng số.

- Cuộc cách mạng 4.0: Trí tuệ nhân tạo và máy tự học. (Xem sách trên. Tr.20-21)

Tác giả sách này, Klaud Schwab là người sáng lập và là Chủ tịch điều hành Diễn đàn kinh tế thế giới.

Nhà thơ Trần Đăng Khoa đang sử dụng một máy phiên dịch, thay cho người phiên dịch, đó cũng là một trí tuệ nhân tạo, một máy tự học.

Bài viết trên của GS.HNĐ là nhân chuyện Tiếng Việt 1 – CNGD bị Hội đồng thẩm định loại ngay từ vòng đầu. Trên An ninh Thế giới số 217 tháng 9-2019, GS.HNĐ cho rằng Hội đồng này không đủ tư cách thẩm định Tiếng Việt 1 – CNGD.

Chúng tôi chưa bình luận công việc của Hội đồng thẩm định SGK cấp I do GS. Trần Đình Sử làm Chủ tịch.

Chúng tôi chỉ muốn nói rằng, tâm huyết của GS cả đời dành cho Công nghệ giáo dục là rất đáng trân trọng. Nhưng tâm huyết dù cả đời vẫn là chủ quan. Công trình, sản phẩm là khách quan. Ta không nên kỳ vọng hay lầm lẫn giữa việc dạy cho trẻ mới bắt đầu đi học – lớp 1 – với sự hình thành (hay đào tạo) các nhà khoa học cỡ bác học như Ngô Bảo Châu. Trẻ em mới đến trường lần đầu, năm đầu mà mỗi ngày đến trường, ngày nào cũng làm ra cái mới thì không biết các em làm ra được cái gì mới, hôm nay khác hôm qua. Giáo sư hãy cho một vài ví dụ. Còn nếu học sinh lớp 2 – trường Thực nghiệm còn có thêm cái-chưa-hề-có: 2+3=11, thì cũng nên xem lại.

Thưa Giáo sư! Cái chưa-hề-có của các em là do GS dạy cho các em, chứ các em lấy đâu ra. Các em có thể hôm nay ăn bằng thìa, dĩa; mai ăn bốc; ngày kia uống… Hôm nay ngồi thế này, hát bài này; mai ngồi thế khác, hát bài khác… Còn 2+3=11 là của Thầy Đại đấy chứ! Và sẽ có hại nếu các em vận dụng vào sinh hoạt. Chẳng hạn, một ví dụ:

- Cô giáo: Em… Mẹ em dặn mỗi ngày em được ăn 5 cái kẹo. Sáng nay em ăn 3 cái rồi. Chiều nay còn 2 cái. 2+3=5 cái nhé.

- Học sinh: Thưa cô, Thầy em bảo 2+3=11 cái kia cô ạ. Cô phải cho em 6 cái nữa!

Đấy, đại loại như thế.

Tâm huyết thì đáng quý rồi. Nhưng cực đoan bảo thủ, nôn nóng đốt cháy quy luật hay giận quá mất khôn như nói về tư cách Hội đồng thẩm định thì một nhà khoa học, một người thầy, dù không cãi lý với Hegel cũng nên phải mô phạm để con em noi theo! Từ khi chúng tôi vào lớp 1 (1954) đến nay chưa hề nghe hay đọc được câu: “Nhà trường hôm nay vẫn treo câu khẩu hiệu: Khai thác vốn sống của trẻ em”. Giáo sư thấy treo ở đâu vậy?

(Còn tiếp)

Lê Thọ Xuân
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 567

Ý Kiến bạn đọc