Tản văn

Hoài niệm một thoáng đường Trường Sơn 50 năm trước

Ngày chúng tôi vượt Trường Sơn vào Nam đánh giặc rơi vào đúng mùa mưa năm 1968, đường Trường Sơn lúc đó khai mở được 9 năm do “Đoàn công tác quân sự đặc biệt” làm nhiệm vụ mở đường, vận chuyển hàng quân sự vào Nam, tổ chức đưa đón cán bộ, bộ đội, chuyển công văn tài liệu từ Bắc vào Nam và từ Nam ra Bắc. Để kỷ niệm ngày sinh nhật Bác Hồ (19/5), đoàn được mang tên Đoàn 559. Ra đi sau N1/68 nên phải đối mặt với 2 vấn đề lớn có tính chất sinh tử. Thứ nhất là sau đợt 1 Mậu Thân (gọi là N1), địch tăng cường ngăn chặn mọi sự chi viện của hậu phương miền Bắc vào miền Nam, nên chúng đánh phá rất ác liệt các tuyến đường nhất là đường Trường Sơn. Dù đường đã mở được 9 năm, chúng tôi hành quân vẫn phải đi bộ hoàn toàn (theo ghi chép những ngày đó nay may sao còn giữ lại được) đi hết 3 tháng 11 ngày từ Nho Quan (Ninh Bình) tới huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai. Sau này biết được nguồn tin từ Lầu Năm Góc của Mỹ nói rằng “Ngăn chặn được chi viện của miền Bắc, ngăn chặn đường Trường Sơn, chiến tranh sẽ kết thúc, thắng lợi thuộc về Mỹ”. Đi trên đường sau 9 năm được mở này không còn cảnh vừa đi vừa “bẻ cò” làm dấu mà đường Trường Sơn lúc này đã trở thành “trận đồ bát quái xuyên rừng rậm” rộng mênh mông, qua 21 tỉnh của 3 nước Việt Nam, Lào, Campuchia. Ba cái không là “Đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng” nay chỉ còn 1 không là “Nấu không khói”. Đây lại chính là điều rất không lợi cho cuộc hành quân vào mùa mưa, củi rừng bị ướt nấu cơm rất dễ bị khói. Thường phải đối mặt với bom từ máy bay B52 rải thảm, bom nổ chậm, bom phát quang, bom từ trường, bom lade, bom chùm, bom bi, mìn vướng, mìn trái, mìn lá… Điều khó thứ 2 là hành quân đường rừng và leo nhiều dốc cao vào mùa mưa đường lầy lội, trơn trượt. Đợt đi này bộ đội được trang bị loại “dép râu” do nước bạn Trung Quốc sản xuất, đạt chuẩn chất lượng vào loại cao, dép vừa nhẹ, vừa mềm, bền đến độ đang đi do đường quá trơn trượt dép bị lật nằm ngược trên mu bàn chân mà quai dép vẫn không bị đứt, không tuột quai ra khỏi đế dép, không gây đau chân. Tuy nhiên, trước tình hình này bộ đội hành quân vào mùa mưa, để bảo đảm an toàn từng bước đi, thế là xuất hiện thêm một chân phụ cho người lính chính là cây gậy. Phải chăng xuất phát từ thực tế này mà có chuyện về “Chiếc gậy Trường Sơn” (quê hương xuất xứ câu chuyện này là tại xã Hòa Xá, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Tây) vào năm 1968, ba thanh niên tái ngũ gồm Đỗ Tít, Phùng Quán, Lưu Long đi đến trạm cuối cùng vượt Trường Sơn, từ đây các anh gửi về quê hương Hòa Xá 3 cây gậy để tỏ lòng nhớ quê hương và quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ. Như một điều kỳ diệu, cả 3 cây gậy đều được chuyển về tới quê hương Hòa Xá làm vỡ òa niềm xúc động vô tận, dấy lên “Phong trào Chiếc gậy Trường Sơn” toàn xã. Đảng ủy xã Hòa Xá nhạy bén chính trị liền phát động phong trào thi đua yêu nước rộng khắp. Đảng ủy tặng gậy Trường Sơn, vợ tặng gậy Trường Sơn cho chồng, người yêu tặng gậy Trường Sơn cho người yêu trong giờ phút lên đường ra đánh giặc. “Chiếc gậy Trường Sơn” là đầu đề ca khúc có sức lan tỏa nhanh và rộng khắp lúc đó của nhạc sĩ Phạm Tuyên.

Xuan-2019--Mot-doan-Truong-Son---Vu-Giang-Huong---Anh-1
Một đoạn đường Trường Sơn (1971) – ký họa – Vũ Giáng Hương.

Cây gậy Trường Sơn đối với chúng tôi hành quân Trường Sơn gặp những ngày mưa gió đường lầy lội, khi nghỉ giải lao không thể có chỗ ngồi, chỗ đặt ba lô thì người lính đành phải nghĩ bằng cách khác chính là đứng nghỉ, những cây gậy trở thành cột đỡ balo nặng mấy chục kilogram không còn bị đè nặng xuống đôi vai. Có đường Trường Sơn lầy lội nên bộ đội ta mới có chuyện khi gặp nữ thanh niên xung phong đang sửa đường, lúc chia tay bộ đội nói “Tạm biệt các em nhé. Chờ vào mùa mưa như thế này các em hãy lấy chồng (chống lầy) giúp cho các anh với nhé”. Có một “nỗi sợ nhớ đời” là rừng Trường Sơn mùa mưa nhất là khi đường Trường Sơn Đông bị máy bay đánh phá, bộ đội chuyển sang đi Tây Trường Sơn qua nhiều rừng le, nứa, có một loại con vật đông như kiến cỏ chuyên hút máu người ấy là loài vắt, rất hiếm người đi qua đây không bị vắt hút máu.

Ở đường Trường Sơn có nhiều thứ chết luôn rình rập người lính đi bộ, trước hết là bom đạn phi pháo của giặc. Nạn sốt rét rừng ác tính bỏ mạng dọc đường hành quân cũng không thiếu. Một cây rừng đổ, mùa mưa lở đường, đá đè, một cú cắn của con rắn độc, một lần vô ý ngã từ trên võng xuống đất lởm chởm những đá tai mèo, hoặc một lần trượt chân trên đường… tất cả đều phải trả giá cực đắt bằng mạng sống con người. Có ai đó đặt câu thơ quá đúng, quá sát thực tế, quá hay, đậm chất chân lý rằng: Trường Sơn đông nắng tây mưa. Ai chưa đến đó như chưa hiểu mình; chưa hiểu được chính sự bền bỉ, sức chịu đựng muôn vàn gian khó để giữ được an toàn cuộc vượt đường Trường Sơn, đồng thời cũng là thước đo phẩm giá đời người. Lúc đó còn được nghe nói lại là có vị lãnh đạo cao cấp nói đại ý rằng: chỉ cần một người vượt được Trường Sơn an toàn, không vi phạm dọc đường, tới trạm an toàn, người đó đã đáng được tặng huân chương.

Thời gian qua đi không ngừng nghỉ, đó là quy luật của tạo hóa. Những kỷ niệm máu xương sinh tử ai đã thực tế trên đường Trường Sơn lúc đất nước có chiến tranh ác liệt thì những ấn tượng khắc cốt ghi xương ấy mãi mãi đọng lại trở thành bất tử với mỗi con người trong cuộc, không thể quên, không thể nhạt nhòa cho dù tháng ngày đang vẫn đi qua.

Nguyễn Thế Kỷ
(Q. Bình Tân – TP. Hồ Chí Minh)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số Xuân 2019

Ý Kiến bạn đọc