Truyện ngắn

Hoa trong gió biển

 

Thời tiết mỗi ngày một lạ lùng, khởi đầu từ ngọn gió bấc đầu tiên trong năm thổi đến vùng cửa biển này, nước biển bắt đầu biến sắc như loài phù du. Nước lũ từ ngọn nguồn xa lắc xa lơ nào, dồn phù sa về tận cửa biển, khiến con sông có màu đỏ sậm đến nôn nao. Người già bảo: “Đích thị vì anh gió bấc, như chàng trai cường dục lạ lùng, mà ả sóng biển mê mệt, phù sa dồn ứ không chịu nổi”. Mây sóng đã vậy, dáng vẻ con nước triều cũng căng ứ lên khác thường. Các con thuyền như bị che khuất, chưa ra xa bờ bao nhiêu mà đã nhỏ nhoi mong manh như chiếc lá. Chim biển cũng lạ, chúng như bị phù sa hút xuống, đến nỗi cả đàn chim trên cao như cụm lại thành một mảng mây chực bị hút dần xuống nước. Chúng kêu những tiếng lạ, đầy bỡ ngỡ…

Mới thoạt nhìn để dùng loại văn tả cảnh là như vậy, ở lâu dăm ngày mới thấy nét lạ lùng của nó, sau mỗi trận gió bấc. Màu biển ngày trong thì thật trong đến nao lòng, ngày đục thì đục đến mức không tả được. Mới trong hôm qua, sáng ra đã đục ngầu, rồi ngày mai lại trong xanh khác thường. Cứ hệt như tính khí đàn bà con gái đẹp. Người ta bảo: chỉ tại anh gió bấc…

Trong lán nghe thấy thiếu nữ thì thào:

- Gió bấc là gió gì nhỉ. Có phải gió bắc không?

- Mày dở người. Gió bấc là gió bấc. Sao lại gọi là gió bắc được!…

Xóm biển mỗi ngày một khang trang, nhất là vào cuối năm. Đến đây ta nhận ra tín hiệu mùa xuân rõ nhất, trong cuộc sống đời thường, trong đất trời, nhất là trong lòng người. Gió bấc thì mặc anh gió bấc, bão tố thì cũng mặc. Mùa xuân như đến từ cái màu sóng mà phù sa dồn căng đỏ sậm thấm dần vào bờ. Các hàng cây khẳng khiu trong năm giờ mới lên dáng, thân các cây dương phô lên trước biển, như bắp chân bắp tay các chàng trai còn gầy nhưng đã có sức. Người ta không mắc võng vào đó nữa, mà nhất loạt cất đi những chiếc võng hình cánh chim như đêm gió bấc tràn về. Dăm loài cây thấp bị bão biển vặt hết lá từ dạo trước, thân cành ngỡ khô đi, nhưng không phải, bao chồi non đang nứt ra từ kẽ cây… Có loài cây thấp lá cứng, người ta gọi là na dại, thì lạ lùng nhất, thân nó lẳn như bắp chân con gái vùng biển.

Chủ, khách gặp lại nhau, mừng như người thân từ xứ xa xôi nào về. Ba túp nhà giữa xóm biển là của ba người thương binh, với ba người vợ xinh đẹp đảm đang và ba nét khác nhau. Nhà giữa của anh thương binh cụt một chân, năm ngoái tôi đã nghỉ lại một đêm. Chị vợ anh này thấp tròn, trắng trẻo, má lúm đồng tiền, miệng lúc nào cũng cười. Trước nhà họ có một cây na dại đẹp nhất. Bên phải là anh thương binh cụt một tay, chị vợ anh này có dáng như con gái Đức Mẹ, sống mũi và cặp mắt rất đẹp. Anh này từ dạo hè làm nghề nhiếp ảnh, chụp cho khách nghỉ biển, một tay mà chụp những bức ảnh đẹp lạ lùng. Bên trái cũng thương binh, hỏng một mắt, cô vợ trẻ như người mẫu, nước da giòn, cặp mắt rất sáng. Anh này gần đây phát nghề bẫy chim biển. Vợ anh đã đẹp giòn càng đẹp giòn hơn nhờ ăn nhiều thứ chim trời mà chồng bắt được. Anh ta bảo “lộc chim” này có được là nhờ hồi ở chiến trường, anh là tay bắt chim bẫy cá có hạng.

So-627--Anh-minh--hoa---Hoa-trong-gio-bien---Anh-1

Người ta kháo nhau: mấy anh thương binh này tốt số. Trong khi đàn ông nhiều người lành lặn, chức tước tiền bạc có thừa mà vớ phải người vợ chẳng ra gì. Có người xem đất địa lý, bảo ba nhà này ở trên mạch nước ngầm ngày trước có các cô tiên biển đến tắm… Các ông chồng đều cười khiêm tốn: “Chúng tôi thương tật, được các cô ấy thương, số xiếc gì đâu”. Anh thương binh cụt chân nhà giữa là người lạc quan nhất, cũng lắm mơ mộng nhất, thì kể một chuyện. Dạo đầu hè có mấy anh ở thành phố về, nghe đâu chức to lắm, đánh xe đi nghỉ biển một mình. Đêm đêm nhờ mấy cô em mắc cho chiếc võng, cứ thế mà nằm lịm đi, mắt nhìn ra biển. Vợ anh thương binh thấy lạ, ra lay võng, mời vào ăn cơm thì thấy cả hai anh đều nước mắt rơm rớm, càng nhìn cô vợ đẹp của anh thương binh thì nước mắt càng rơi… Khi vào, nắm lấy tay anh thương binh mà bảo rằng: “Cậu tốt số quá, vợ hiền, đẹp như tranh. Chúng tớ thì…”. Sau hỏi ra mới biết hai anh cốp này không có hạnh phúc, hai bà vợ ở nhà chê chồng không ra anh đàn ông, hai anh đều bị vợ cắm sừng… Tạo hóa oái oăm quá!

Anh thương binh mơ mộng tinh ý biết tôi dừng lại đây vì mục đích gì. Cách đây hai năm tôi đến đây và gặp một cô gái xinh đẹp nhỏ nhắn tên là Mai. Em Mai lúc đấy chỉ tầm 16, 17 tuổi, mái tóc mềm, đôi mắt đẹp như vợ anh thương binh bên cạnh. Nghe đâu quê em Mai ở một vùng núi xa. Nhà nghèo, học xong phổ thông, không có tiền học lên, nghe tin xóm biển dưới này làm ăn được, em rủ bạn xuống tìm việc làm. Chẳng ngờ ở đây cũng chẳng khá bao nhiêu, em buồn lắm!

Xóm biển rất thương Mai và các bạn em, nhà nào cũng muốn nhận em làm chân giúp việc. Em Mai nghĩ thế nào đến khóm nhà mấy chú thương binh. Mai tự bảo: “Các chú ấy mất mát khổ đau nhiều, thế mới biết thương người”.

Em Mai chịu thương chịu khó. Chưa sáng, xóm biển đã thấy em quét một vệt lá dài trước biển. Em dừng lại rất lâu trước cây na dại em trồng, đứng mãi như nói thầm với cây điều gì đó. Quét tước, tưới cho hàng cây xong đâu đấy, mặt trời lên, cô gái xỏ chân vào đôi giày vải, tập chạy trước biển. Cô gái hồng hào khoẻ đẹp như nàng tiên, tuy đôi mắt vẫn giấu nỗi buồn, thường nhìn ra biển.

Cô gái chăm chỉ muốn tìm cách kiếm thêm tiền cho gia đình chú thương binh xóm biển, nhưng khó quá. Dịp ấy rất lạnh, cô về thăm nhà. Khi cô xuống đem theo một bó song. Vùng quê trên ấy có loài song thân vàng óng đẹp nổi tiếng. Cô thấy dịp xóm biển nhiều khách du lịch, các bà các cô sau ngày nghỉ ngơi đều muốn tập luyện thân thể. Cô tính ra cách dùng cây song này làm những chiếc vòng lắc. Đêm đêm trên bãi cát cô uốn những chiếc vòng rất đẹp. Những áng mây ở biển cùng những cánh buồm đánh cá như thu lại trong vòng song của cô… Nhưng đến mùa lạnh biển vắng thì không có ai cần đến những chiếc vòng kia nữa!

Còn nhớ ngày cuối cùng chia tay, cô áp má vào má tôi và nói: “Anh cứ về đây. Em nghĩ anh cũng là người đã qua nhiều mất mát như những chú thương binh kia!”…

Một ngày có chàng trai từ quê nhà vượt cả trăm dặm xuống đón cô đi…

Anh thương binh mơ mộng tinh ý hỏi: “Anh buồn hả?”. Rồi như muốn xóa đi giây phút chìm lặng đáng sợ trước biển, anh chìa cả bàn tay ra phía trước như để che ngọn gió bấc và chỉ vào cây na dại trước nhà, nói lảng đi:

- Cây này cứng cáp, gió biển không làm gì được. Chàng gió biển như thù hận cứ vặt trụi hết lá, nhưng bão biển chưa hề nhổ bật được gốc của nó. Chưa biết quả của nó hình thù mùi vị ra sao. Chỉ biết hoa, dù rất hiếm hoi. Cứ đến mùa xuân thì nó nở kín đáo vào kẽ cây dăm nụ hoa vàng như hoa mai, nhưng màu nhạt lạ lùng dễ thương lắm… Nhà nào kiếm được dăm nụ cài vào cành hoa Tết là cực hiếm, sẽ có lộc quanh năm…

Rồi anh thương binh dí dỏm:

- Ông anh đỡ buồn chưa nào? Cây này do bé Mai trồng đấy. Ông anh cứ vô tư đi, người như bé Mai thì ở góc biển chân trời nào mà chẳng sống được!

Rồi nói thêm:

- Dịp Tết anh về đây không? Nếu cây này có hoa thì nhất định chúng em dành cho ông anh một nụ thật đẹp!…

Gió vẫn thổi chan chứa, từ khơi xa…

 Phan Cung Việt
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 627

Ý Kiến bạn đọc