Tản văn

Hoa lửa trời xuân

 

Ngày 12/9/2017, sau bao năm mong ước, tôi mới có dịp cùng đồng đội chiến đấu cũ trở về Vùng 4 – Kiến Tường (cũ, nay là huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An), để thăm lại chiến trường xưa, thắp nén hương thơm viếng Nghĩa trang Liệt sĩ, cảm ơn tình cảm của đồng bào, đồng chí và chứng kiến sự đổi thay kỳ diệu của Chiến khu Đồng Tháp Mười năm xưa.

Đứng trên cây cầu kênh Bằng Lăng, tôi bồi hồi, xúc động nhớ tới những kỷ niệm chiến đấu sâu sắc, đặc biệt là chiến công bắn rơi hàng loạt máy bay địch trên vùng đất này. Như những chùm hoa lửa rực sáng bầu trời mùa xuân năm ấy.

Trước Tết Giáp Dần xuân 1974, Trung đoàn 3, Quân khu II (cũ), sau khi hoàn thành nhiệm vụ tham gia Chiến dịch “Cắm cờ, Giữ đất, Giành dân” năm 1973 ở địa bàn xung yếu Chợ Gạo – Gò Công và ven thị xã Mỹ Tho, trở về Vùng 4 – Kiến Tường (cũ), để thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu bảo vệ nhân dân vùng giải phóng vui xuân đón Tết đầu tiên, sau ngày 27/1/1973 có Hiệp định Paris về “Ngừng bắn lập lại hòa bình ở miền Nam Việt Nam”, hai bên cùng chung sống theo tinh thần “Hòa hợp Dân tộc”.

Để tăng thêm tinh thần khí thế cách mạng, chào mừng mùa xuân năm mới Tết 1974. Từ sáng 30 Tết, đơn vị chúng tôi tổ chức công khai treo thật cao những lá cờ Mặt trận, có ngôi sao vàng 5 cánh, trên nền vải nửa đỏ nửa xanh, trên các ngọn cây ô môi, cây trâm bầu, ở đầu mấy bờ kênh lớn, bất chấp địch có thể đánh phá. Đây thực sự là niềm hạnh phúc lớn lao, nhờ biết bao công sức và máu xương của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta cả hai miền Nam – Bắc, đã phấn đấu vượt qua mọi hy sinh, gian khổ, thực hiện thắng lợi Di chúc thiêng liêng của Hồ Chủ tịch: “Đánh cho Mỹ cút. Đánh cho Ngụy nhào. Bắc – Nam sum họp…”. Thắng lợi lớn nhất của Hiệp định Paris là chúng ta đã đánh cho Mỹ cút khỏi miền Nam Việt Nam, làm giảm tối đa mức độ ác liệt do bom đạn địch trút xuống chiến trường. Nhưng chúng tôi cũng không khỏi băn khoăn, lo lắng, mặc dù hai bên đã tuyên bố thỏa thuận ngừng bắn trong thời gian 2 ngày Tết. Nhưng với bản chất ngoan cố, hiếu chiến, địch có thể lật lọng khi thấy ta tổ chức treo cờ, chúng sẽ lấy cớ để đánh phá.

So-534--Hoa-luc-troi-xuan---Anh-1
Tác giả (bên phải) trên cầu kênh Bằng Lăng ngày 12/9/2017.

Đúng 11 giờ trưa hôm đó, cán bộ và chiến sỹ chúng tôi ngồi quây quần bên mâm cỗ chuẩn bị ăn Tết. Bỗng nghe có tiếng máy bay trinh sát của địch loại L19 quen thuộc từ phía Đông vọng tới, mỗi lúc một gần. Chúng tôi nhanh chóng tản ra các công sự chiến đấu và chăm chú quan sát thấy chiếc L19 đang bay thẳng, bỗng đổi hướng, nghiêng cánh bay lượn vòng lại, xà thấp và phóng một loạt đạn Rocket xuống khu vực có lá cờ, treo trên ngọn cây me già, đầu ngã tư kênh Bằng Lăng. Đúng lúc nó vừa ngóc đầu bay lên thì tôi nghe thấy có một tiếng nổ nhỏ, trầm từ phía kênh Tè, kéo theo một chấm sáng và luồng khói trắng mỏng từ quả đạn A72 của ta phóng vút lên trời bám theo, rồi lao thẳng vào đuôi chiếc L19, khiến nó bốc cháy thành một khối lửa rực sáng và tuôn ra làn khói đen dày đặc giữa không trung. Chiếc máy bay tăng ga, lồng lộn điên cuồng trong giây lát rồi đâm đầu thẳng xuống đất ngập hết 1/3 phần thân, như một mũi tên chổng ngược, gần khu vực kênh Một Ngàn.

Tổ trinh sát kỹ thuật của Trung đoàn thông báo:

- Địch không hiểu lý do gì khiến chiếc L19 bị rơi? Nên chúng ra lệnh cho máy bay trực thăng đi tìm kiếm và xác minh tại chỗ. Lúc 12 giờ trưa hôm đó, tôi thấy một chiếc trực thăng vũ trang loại HU1A của địch từ hướng Nam bay tới. Hình như nó cố tránh đường bay cũ của chiếc L19 xấu số, nên không dám bay vào trung tâm Vùng 4 – Kiến Tường, mà chỉ lởn vởn lượn vòng ở phía kênh Bích. Đúng lúc nó chuẩn bị đổi hướng bay đi, tôi lại nghe thấy một tiếng nổ nhỏ và chấm sáng, cột khói trắng vút lên từ phía đó rồi lao thẳng vào chiếc HU1A, biến nó thành khối lửa tuôn ra khói đen khổng lồ từ trên cao rơi xuống cánh đồng hoang phía trước. Trong khi chúng tôi còn đang say sưa vui mừng ngắm nhìn cảnh tượng chiếc trực thăng đã bị “hóa vàng” dưới đất, thì lại thấy có một chiếc L19 nữa bay rất cao, từ phía Đông tới. Tôi đoán là nó cũng đang quan sát chiếc trực thăng rơi dưới đất bị phủ kín trong khói lửa. Nhưng có lẽ nó chủ quan với độ cao đang bay, khiến đối phương không thể làm gì được, nên nó vẫn giữ đường bay thẳng vào Vùng 4 này. Tôi hồi hộp theo dõi và chờ đợi được chứng kiến thêm một quả đạn A72 nữa của ta phóng lên, để vít cổ chiếc L19 này xuống đất. Quả đúng như vậy, nhưng lần này tôi thấy khi nó phát hiện đạn tên lửa của ta phóng lên, thì chiếc L19 này tỏ ra khôn ngoan hơn, đột ngột tắt máy rơi tự do, hạ thấp độ cao, hòng cố tránh tên lửa của ta bám đuôi. Song quả đạn A72 của ta có mắt thần, đã kịp thời đón đúng hướng rơi của chiếc L19, làm nó trúng đạn bốc lửa và tuôn khói đen cuồn cuộn giữa trời, xoay tròn mấy vòng như chiếc lá rơi, rồi nằm chềnh ềnh trên mặt đất gần kênh Bùi.

Bọn địch vô cùng cay cú, liền cầu cứu lực lượng không quân Mỹ đến yểm trợ. Lúc 16 giờ cùng ngày, tôi nhìn thấy 1 chiếc máy bay vận tải quân sự loại C130 của Mỹ, từ phía Bắc bay đến bầu trời đoạn kênh Dương Văn Dương, nó không hạ thấp độ cao, nghiêng cánh để quan sát như mọi khi, mà bắn như vãi đạn 20 ly xuống kênh Năm Ngàn – Trung tâm Vùng 4. Tôi được biết: Đây là loại máy bay quân sự hiện đại đa năng, trực tiếp do lính Mỹ lái, được trang bị hệ thống rađa dẫn đường, có khả năng phòng tránh lưới lửa phòng không của đối phương, rất khó bị bắn hạ. Ngoài ra, nó còn được trang bị cả kính quan sát bằng tia hồng ngoại tuyến laser, có thể nhìn rõ và tiêu diệt mục tiêu của đối phương trong đêm tối. Trong lúc chúng tôi còn đang tranh luận sôi nổi về việc ta có khả năng tiêu diệt chiếc máy bay C130 này không, thì lại thấy 1 quả đạn A72 nữa của ta được phóng lên từ kênh Phụng Thớt, đâm thẳng vào chiếc C130, khiến nó chòng chành, lật ngửa và bốc cháy, tuôn khói đen mù mịt giữa trời, rồi rơi xuống cánh đồng trước mặt. Đúng lúc đó, tôi không hiểu sao mấy bốt địch trên kênh Dương Văn Dương lại bắn pháo sáng và hàng loạt đạn lửa đỏ lừ chỉ thiên lên trời, như thể vĩnh biệt và tiễn đưa linh hồn những tên lính trên chiếc máy bay Mỹ xấu số vừa bị ta bắn hạ.

Lúc 17 giờ cùng ngày, nắng xuân đã nhạt vàng, ánh hoàng hôn chuẩn bị phủ xuống Đồng Tháp Mười. Chúng tôi vẫn còn tụ tập ngoài bờ kênh, say sưa nói về những chiến công trên bầu trời Vùng 4 – Kiến Tường hôm nay và nhận định có thể đã kết thúc một ngày đầu tiên của mùa xuân năm mới, ra quân chiến đấu giành thắng lợi lớn, chưa từng có của bộ đội Phòng không Quân khu. Bỗng tôi lại nghe thấy có tiếng máy bay trực thăng từ phía Đông Nam vọng lại. Chúng tôi cảnh giác nhìn lên bầu trời, thấy chiếc trực thăng vận tải quân sự loại cần cẩu hai chèo Sinúc khổng lồ ầm ầm bay qua, nó dường như không biết gì về lưới lửa phòng không của ta dưới đất, đã kết thúc số phận của 4 chiếc máy bay của chúng trong ngày. Nó thản nhiên hạ thấp độ cao, bật tín hiệu các đèn xanh đỏ nhấp nháy dưới bụng, xin hạ cánh xuống sân bay phía thị trấn Mộc Hóa. Lập tức chúng tôi thấy chiếc Sinúc bị một quả đạn A72 nữa của ta từ kênh Giữa phóng lên, nó trúng đạn bốc cháy, thân đứt làm đôi, cùng các kiện hàng hóa và xác những tên lính xấu số trên máy bay tung ra và rơi thẳng đứng xuống đất gần kênh Bằng Lăng. Ta thu được 1 két bạc chứa đầy tiền Việt Nam Cộng hòa còn nguyên vẹn, ở nơi chiếc Sinúc bị rơi xuống.

Buổi tối hôm đó, Đài phát thanh Sài Gòn đưa tin và thừa nhận thất bại, đã bị ta dùng tên lửa tầm nhiệt vác vai A72 lần đầu tiên xuất hiện ở vùng Đồng Tháp Mười, bắn hạ tại chỗ 5 máy bay trong ngày mùng 1 Tết. Chúng ra thông báo khẩn cấp, cho lực lượng không quân Sài Gòn tạm thời cấm bay qua vùng trời Vùng 4 chiến thuật. Vì ở đó có khoảng 100 quả đạn A72 của Việt Cộng hoạt động. Chúng tôi sung sướng bảo nhau:

- Đúng là “Đom đóm biến thành ma trơi”, chúng nó lo sợ khiếp đảm nên mới thổi phồng quá mức lực lượng của đối phương. Thực ra phân đội A72 của ta chỉ có 6 đồng chí với 6 quả đạn đã bắn đi 5 quả đạn và chỉ còn 1 quả đạn dự trữ. Quân khu đã chỉ đạo phân đội A72 áp dụng linh hoạt, sáng tạo lối đánh du kích, nổ súng xong, cơ động ngay, tiếp tục phục kích đón lõng diệt tiếp các máy bay địch, đủ cả 4 hướng trên Vùng 4 – Kiến Tường này.

Từ đó, máy bay các loại của địch không còn dám bay qua và bắn phá tự do, bừa bãi vùng giải phóng Đồng Tháp Mười. Đồng bào ta vô cùng phấn khởi, tin tưởng, yên ổn làm ăn, sinh sống, xây dựng căn cứ cách mạng của Quân khu 2 (cũ) ngày càng lớn mạnh, góp phần cùng với quân và dân cả nước giành thắng lợi vĩ đại trong chiến dịch mùa Xuân lịch sử 1975.

Bùi Ngọc Quế
(Hội LHVHNT Phú Thọ)
Tuần Báo Văn Nghệ Tp.HCM số 534

Ý Kiến bạn đọc