Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Hoa lê-ki-ma vẫn nở bởi người thiếu nữ ấy như mùa xuân

Năm 1957, khi miền Nam còn rên xiết dưới gông cùm, dây thép gai, lưỡi lê, nhà tù tàn bạo của chế độ độc tài Ngô Đình Diệm, khi chưa một lần đặt chân đến Côn Đảo, khi khát vọng hòa bình và thống nhất đất nước cháy bỏng trong lòng mỗi người dân Việt Nam, đã ra đời một nhạc phẩm sống mãi với thời gian – “Biết ơn chị Võ Thị Sáu” của nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn. Bài hát đã trở thành một “Giai điệu tự hào” trong kho tàng âm nhạc cách mạng Việt Nam đi suốt chiều dài 60 năm lịch sử. Dân gian có câu “Ngọc càng mài càng sáng”. Ca khúc này nằm lòng những thế hệ trải qua lửa đỏ và nước lạnh thời đại cách mạng và chiến tranh. Với tâm thế ấy, khi đọc “Tình Đất Đỏ – Võ Thị Sáu, nữ anh hùng huyền thoại” (NXB CAND, 2014) của tác giả Lê Văn Thiện (nguyên Đại tá, PGĐ Công an TP.HCM), độc giả càng thấm thía một sự thật hiển nhiên – Thời đại anh hùng đòi hỏi một nền nghệ thuật anh hùng. Từ sự tích đầy tính huyền thoại về Anh hùng Võ Thị Sáu, năm 1994, đạo diễn Lê Dân đã hoàn thành xuất sắc bộ phim “Người con gái Đất Đỏ”. Trong thơ, hình tượng người anh hùng Võ Thị Sáu lồng lộng qua tác phẩm của nhà văn Phùng Quán – “Tiếng hát trên địa ngục Côn Đảo” (Trường ca, 1955) và Phan Thị Thanh Nhàn – “Truyền thuyết trên đảo Côn Sơn” (Thơ, 1976). Vậy là, từ một nguyên mẫu Anh hùng CAND Võ Thị Sáu đã xuất hiện những hình tượng nhân vật – người anh hùng thời đại trong những loại hình nghệ thuật khác nhau.

Không có con đường nào thuyết phục công chúng nghệ thuật bằng sự thật. Hồ Chủ tịch đã từng kêu gọi các nghệ sĩ cần phải phản ánh cho “chân thật và hùng hồn” hiện thực đời sống chiến đấu và sản xuất của nhân dân Việt Nam trong thời đại cách mạng. Không phải là nhà văn chuyên nghiệp nhưng tác giả Lê Văn Thiện trong tác phẩm “Tình Đất Đỏ” đã tuân thủ những nguyên tắc tối cao của sáng tạo văn học. Có người cho rằng đây là tác phẩm thuộc phạm trù lịch sử truyền thống ngành CAND, vì nó viết về người thật việc thật. Nhưng nếu nhớ lại tác phẩm “Sống như Anh” (Ký, 1965) của nhà văn Trần Đình Vân viết về Anh hùng – Liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi thì chúng ta sẽ tri nhận được một quy luật của sáng tạo nghệ thuật: SỰ THẬT LÀ PHẨM CHẤT HÀNG ĐẦU. Nhưng vấn đề đặt ra là làm thế nào để làm chủ được SỰ THẬT VÀ TRUYỀN TẢI NÓ bằng ngôn ngữ giản dị nhưng có sức lay động lòng người đến độc giả? Tác giả dĩ nhiên không tiếp cận được nhân vật Võ Thị Sáu theo con đường trực tiếp. Nhưng như thế không có nghĩa là khi viết ông phải “bịa đặt” ra mọi chuyện. Trong cái khó ló cái khôn. Và cũng đôi khi là sự may mắn nằm ngoài chủ đích. Tác giả Lê Văn Thiện (sinh 1930) sớm bước vào trường đấu tranh cách mạng. Trong “Lời tác giả” (in đầu sách), độc giả thấy cái cơ may đã đến khi: “Cuối thập niên 50, tôi lúc ấy là Tỉnh ủy viên Tỉnh ủy Gia Định, bị đày ra Côn Đảo, giam chung phòng giam với ông Tám Vàng (ông là tù thường án, người cao tuổi nhất (70 tuổi), thời gian ở tù lâu nhất (40 năm). Được ông Tám tin tưởng, tôi lần lượt nghe ông kể về các sự kiện xảy ra ngày xử bắn nữ anh hùng Võ Thị Sáu cùng những tác động sau đó mà ông đã trực tiếp chứng kiến nhưng từ trước nay ông chưa dám kể”. Vậy là tri âm tri kỉ như các cụ ta xưa từng nói. Đó là “cú huých” để cho nhiều năm sau trở lại thăm Côn Đảo, viếng mộ Anh hùng – Liệt sĩ Võ Thị Sáu, kí ức tràn về và vị cựu sĩ quan Công an Lê Văn Thiện thấy không thể không cầm bút viết về một CON NGƯỜI. Viết để bạch hóa một số khía cạnh mà có thể trước đó sách báo chưa phản ánh hết được. Đó là một thiện ý. Đó là tiếng gọi của lương tâm. Đó là sự thôi thúc nội tâm mạnh mẽ khiến một người “ngoại đạo” với văn chương đã dũng cảm cầm bút. Nói theo cách của nhà thơ Hữu Thỉnh thì “Chúng tôi làm thơ ghi lấy cuộc đời mình” (Trường ca “Đường tới thành phố”).

Tuong-chi-Vo-Thi-Sau-tai-Con-Dao
Tượng chị Võ Thị Sáu tại Côn Đảo. Ảnh: N.P.Q.

SỰ THẬT được tái hiện như thế nào trong tác phẩm “Tình Đất Đỏ”? Độc giả có dịp đọc văn bản này sẽ thấy cách tổ chức kết cấu tác phẩm đã thể hiện cái đích mà tác giả nhằm đạt tới – tiệm cận SỰ THẬT. Lần lượt gồm các phần: Côn Đảo – “Địa ngục trần gian”, Người được chứng kiến Võ Thị Sáu bị xử bắn, Trở lại ngày xử bắn Võ Thị Sáu ở Côn Đảo, Tấm bia của vợ chồng Tỉnh trưởng Côn Sơn, Người y tá làm nổi danh chị Sáu, Trở lại quê hương Đất Đỏ, Xin được ngỏ lời cảm ơn, Rạng ngời tên em, Nghĩa trang Hàng Dương Côn Đảo, với mộ chị Võ Thị Sáu và tình cảm của mọi người. Ngoài 9 phần chính này còn thêm 3 phần “hỗ trợ” (Lời giới thiệu, Lời tác giả, Đôi nét về tác giả). Như vậy đây là một chỉnh thể ngôn từ thống nhất.

Để tác phẩm có tính bao quát, tác giả đã sử dụng thủ pháp “nhiều góc quay” của điện ảnh. “Góc quay” chính diện là ông Tám Vàng (người được chứng kiến chị Võ Thị Sáu bị bắn). Lời kể của ông với tư cách nhân chứng: “Trước khi xử bắn, bọn chúng tập trung tại văn phòng Giám thị trưởng, trước sự chứng kiến của tên chúa đảo Jarty. Vị cố đạo làm thủ tục rửa tội, nhìn chị Võ Thị Sáu và bảo:

- Cha rửa tội cho con nhé?

Chị Võ Thị Sáu nhìn thẳng vào mặt vị cố đạo, với thái độ thẳng thắn và dứt khoát.

- Cám ơn Cha quan tâm, tôi tội gì mà rửa? Giết quân xâm lược và tay sai, không phải là tội, kẻ xâm lược đất nước tôi và tay sai mới có tội. Cha cần rửa cho họ.

Một chi tiết rất thiêng: Bảy người lính lê dương châu Phi được lệnh ra pháp trường hành quyết chị Võ Thị Sáu đã bắn… lên trời (!?). Cũng theo lời ông Tám Vàng, chính ông là người vuốt mắt cho chị Sáu, đi tìm được mấy tấm ván làm “hòm dã chiến” (chỉ khép ván lại không đóng thành hòm) để đưa chị về cõi của Phật. Sau cái chết linh thiêng của chị Võ Thị Sáu, tất cả công chức, giám thị, binh lính và cả gia đình của họ ở Côn Đảo đều đến mộ đốt hương khấn vái cô Sáu phù hộ.

“Góc quay” thứ hai rất có ý nghĩa để làm rõ sự thật như một huyền thoại là “Tấm bia của vợ chồng Tỉnh trưởng Côn Sơn”. Năm 1964, thiếu tá Tỉnh trưởng (Chúa đảo) Côn Sơn là Tăng Tư đã đặt bia mộ bằng đá cẩm thạch, chọn giờ tốt, thắp hương khấn vái, dựng bia, trên bia khắc LIỆT NỮ VÕ THỊ SÁU. Một năm sau viên thiếu tá mất chức(!?). Ở Sài Gòn, vợ chồng ông ta vẫn bí mật thờ cô Sáu tại nhà riêng. Đúng là Liệt nữ như hiển Thánh.

“Góc quay” thứ ba là “Người y tá làm nổi danh chị Sáu”. Anh y tá tên Vĩnh. Khi ra Côn Đảo hành nghề, nhờ có tay nghề giỏi, nên được tôn vinh thành bác sĩ có bàn tay vàng. Một lần châm cứu cho vợ viên giám thị bị bệnh nặng, bà ta qua cơn hiểm nghèo. Trước mọi lời khen, anh Vĩnh chỉ một mực: “Tôi châm cứu cho bà giám thị khỏi bệnh là nhờ cô Sáu phò hộ giúp tôi”.

“Góc quay” thứ tư là “Trở lại quê hương Đất Đỏ”, nơi “chôn nhau cắt rốn” của người Anh hùng Võ Thị Sáu. Tại đây tác giả cho độc giả hiểu rõ hơn gia cảnh của chị, hiểu rõ con đường chị đến với cách mạng, quá trình chiến đấu và hi sinh anh dũng của chị.

“Góc quay” thứ năm là sách “Thương binh, Liệt sĩ Công an nhân dân” (NXB CAND, 2007). Mục “Liệt sĩ Võ Thị Sáu – Người con gái Đất Đỏ anh hùng” (tr.28-30). Đây là nguồn tư liệu chính thống, tuyệt đối chính xác, được sử dụng như là tài liệu gốc cho mọi kết luận về Anh hùng – Liệt sĩ Võ Thị Sáu.

Thiết nghĩ, năm “góc quay” này như năm cánh sao, soi chiếu dưới thanh thiên bạch nhật cuộc đời một con người “Vì nước quên thân, vì dân phục vụ” – như là một truyền thống vàng của lực lượng CAND Việt Nam.

Có một danh ngôn thế giới được nhiều người ưa thích “Mở một cuốn sách thấy một con người” (có thể hiểu người viết ra nó hoặc người được viết). Đọc “Tình Đất Đỏ – Võ Thị Sáu, nữ anh hùng huyền thoại”, độc giả như đứng trước một tượng đài bằng ngôn từ về một thế hệ anh hùng Việt Nam hiển linh qua một điển hình chiến sĩ Công an nhân dân Võ Thị Sáu. Chị sinh năm 1933, quê xã Phước Lợi, quận Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa (nay thuộc huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu). Sinh ra trong một gia đình và quê hương giàu truyền thống cách mạng, chị Võ Thị Sáu đã sớm giác ngộ và tham gia hoạt động kháng chiến. Năm 1947, qua nhiều thử thách, chị được kết nạp vào Đội Công an xung phong huyện Đất Đỏ. Với vóc dáng nhỏ bé của một cô gái mới lớn nhưng chị đã có một tư thế người chiến sĩ. Từ ngày tham gia Đội Công an xung phong, chị đã lập được nhiều chiến công xuất sắc. Trong một trận đánh diệt ác trừ gian (năm 1950), chị bị địch bắt, bị giam giữ tại các nhà tù ở địa phương, Sài Gòn, sau đó bị đày ra Côn Đảo. Kẻ địch dùng mọi cực hình tra tấn, nhưng chị vẫn kiên trung giữ vững khí tiết của người chiến sĩ Cộng sản (“Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành”), tin tưởng tuyệt đối vào thắng lợi cuối cùng của cách mạng. Tháng 4-1951, chị bị kết án tử hình. Dư luận mạnh mẽ trong và ngoài nước khiến cho bọn địch không dám xử bắn công khai chị ở Sài Gòn, sau đó chúng bí mật đưa chị ra Côn Đảo để thực hiện bản án. Ngày 23-1-1952, chị Võ Thị Sáu đã hiên ngang trước họng súng quân thù cho đến phút cuối cùng ngã xuống trên pháp trường. Trước lúc vĩnh viễn đi xa chị còn kịp cất lên tiếng hát những bài hát cách mạng. Đúng như nhà thơ Tố Hữu đã viết về sự hi sinh cao cả của Anh hùng – Liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi: “Có những phút làm nên lịch sử/ Có cái chết hóa thành bất tử/ Có những lời hơn mọi bài ca/ Có con người như chân lý sinh ra” (“Hãy nhớ lấy lời tôi”, 1964). Với thành tích xuất sắc trong chiến đấu, dũng cảm kiên cường trong lao tù, ngày 2-8-1993, đồng chí Võ Thị Sáu đã được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân.

Nhà thơ Nguyễn Thành Vân (Nguyễn Trọng Oánh) mượn lời một chiến sĩ Giải phóng hi sinh ở tuổi 20 để nói với các thế hệ sau: “Tôi nằm nơi đây/ Quê hương chị Sáu/ Hoa lê-ki-ma/ Đang mùa nở rộ…/ Giữa tuổi hai mươi/ Tôi còn trẻ lắm/ Hoa lê-ki-ma/ Đang mùa nở trắng/ Chị Sáu chưa về/ Chị còn đang hát/ Tiếng hát đêm nay/ Trăng vàng bát ngát/ Tôi nằm dưới mộ/ Nghe nhựa trong cây/ Chuyển từ lòng đất/ Đang nuôi tháng ngày” (“Sống chết quang vinh”, 1968). Ông chính là tác giả bộ tiểu thuyết về chiến tranh nổi tiếng “Đất trắng” (2 tập, 1979-1984), đã chia sẻ với độc giả: “Nói về quá khứ một cách nghiêm túc và trung thực thì không sợ không có điều gì để nói với hôm nay”.

Hà Nội, 27-7-2017

Nhà văn Bùi Việt Thắng
(Quận Đống Đa, Hà Nội)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 462

Ý Kiến bạn đọc