Văn học nước ngoài

Hố-sâu

 

Sally ghét mang lỉnh kỉnh đồ ăn thức uống khi đi picnic. Lần này cả gia đình đi Osler Bluff bởi vùng này hữu ích cho việc nghiên cứu địa chất của chồng cô, Alex, vả lại Sally và lũ trẻ cũng chưa từng đến đó.

Họ đã rẽ vào con đường vùng quê gồ ghề, lái xe vài dặm thì tìm thấy một chỗ đậu, không có chiếc ô tô nào trong đó. Một tấm biển: “CẨN THẬN. HỐ-SÂU”.

Gạch ngang, tại sao? Sally nghĩ. Nhưng ai quan tâm? Lối vào rừng trông khá bình thường và không đáng sợ. Sally hiểu, tất nhiên, rằng khu rừng này đất dốc đứng nhưng không muốn thấy cảnh báo nguy hiểm lúc nào cũng treo lơ lửng trước mặt.

Nhiều cái hốc sâu thực sự có kích cỡ của một chiếc quan tài, vài cái hốc còn lớn hơn thế nhiều, có cả những “hành lang” ngoằn ngoèo giữa chúng, và rêu, dương xỉ bám đầy thành.

*
“Ối, ui!”, tiếng kêu của hai thằng Kent và Peter, 9 và 6 tuổi.

“Cấm chạy quanh đây”, Alex hét. “Nghe không? Có hiểu không? Trả lời nhanh”.

Chúng đáp ô-kê, và dường như anh tin rằng khỏi cần nói thêm. Sally vất vả theo sau anh với cái túi tã và bé Savanna. Cô thấy hai thằng con vừa chạy lon ton vừa liếc nhìn các chỗ nứt, miệng vẫn tía lia dù vẻ hơi sợ. Cô chắc phát khóc vì chúng.

Họ đi theo con đường đất đá lởm chởm được gần 1/3 dặm thì nhìn thấy bầu trời. Phía trước, chồng cô đã dừng chân. Anh reo mừng vì đến nơi, còn hai thằng quỷ sứ rống lên một cách kinh ngạc. Sally chậm chạp xuất hiện sau cùng. Cô thấy họ trên một vạt đất lộ thiên, trồi lên rất cao, cao hơn cả tầng cây xung quanh. Nhìn xuống, xuyên qua những sợi tơ trời xanh vàng lung linh hư ảo là những cánh đồng bên dưới trải dài đến vô tận.

Ngay khi cô đặt Savanna xuống mền, bé bắt đầu khóc.

“Đói”, Sally nói.

Alex nói: “Anh nghĩ nó đã ăn trưa trong xe”.

“Ăn rồi, nhưng nó lại đói nữa”.

Cô bế Savanna lên còn tay kia tháo cái giỏ xuống. Alex thở dài vẻ cảm thông và móc trong túi ra mấy cái ly rượu đặt xuống vạt cỏ.

“Ực, ực. Con cũng khát”, Kent nói, và Peter lập tức bắt chước theo. “Ực, ực. Con cũng khát. Ực, ực”.

“Im đi”, Alex nói.

Kent tơm tớp: “Im đi, Peter”.

Alex quay sang Sally, “Em có mang cái gì cho chúng uống không?”.

“Có nước uống hương trái cây trong cái bình xanh đó. Ly nhựa trong khăn ăn ở trên cùng”.

Tất nhiên, Alex nghĩ rằng Kent chỉ chuyên gây rối.

Họ rót nước ướp hương trái cây rồi sâm-banh ra. Sally và Alex cụng ly, bé Savanna ngồi ở giữa. Sally ước gì mình có thể nhấm thêm chút nữa. Cô mỉm cười nhìn Alex uống rượu.

Trong khi họ chuẩn bị ăn bánh sandwich, Kent lén uống ly rượu của Sally. Peter chắc nhìn thấy nhưng im lặng. Sally mãi sau mới phát hiện ra còn Alex không bao giờ biết chuyện đó, anh mải kể cho hai thằng nhóc nghe về loại đá dolomit.

“Con phải đi”, Kent nói.

“Đi đâu?”.

“Con phải đi tiểu”.

“Ôi, đi đi”.

“Con nữa”, Peter nói.

Sally ra dấu hiệu phải kiểm tra bọn chúng cẩn thận. Alex nhìn mỉm cười vẻ đồng ý.

Savanna đã ngủ, môi vẫn ngậm chặt núm vú.

Khi đang cài lại nút áo, Sally nghe có tiếng kêu thất thanh. Alex vọt tới trước, cô theo sau, chạy dọc theo đường mòn. Sau đó, tiếng kêu nghe to, rõ, gần hơn. Đó là Peter.

“Kent ngã… rớt xuống…”.

Bố cậu hét lớn: “Bố tới ngay!”.

Sally biết ngay nếu có đứa bị tai nạn thì sẽ là Kent – vì Peter dù hơi lì nhưng chẳng táy máy cũng không ưa thể hiện như Kent. Cô có thể hình dung cảnh chúng giữ thăng bằng trên mỏm đất, vừa tiểu xuống cái hố vừa chọc ghẹo nhau.

Nó còn sống. Nó nằm dưới hố, đang yếu ớt di chuyển cánh tay cố nâng mình lên. Chân cong queo…

“Coi bé cho mẹ”, Sally bảo Peter. “Quay lại chỗ cũ, đặt em gái con nằm xuống mền rồi canh chừng nó. Đấy, con trai ngoan của mẹ. Đứa con cưng mạnh mẽ của mẹ”.

Sally lao tới. “Em đây. Mẹ đây”, cô hét toáng lên.

Vợ chồng cô hợp lực, kéo được Kent lên. Nó mở mắt rồi ngất đi.

*
Kent bị gãy cả hai chân phải nghỉ học nửa năm. Tai nạn và thời gian dài nghỉ dưỡng bệnh dường như đã làm nó thay đổi. Bây giờ lối cư xử, thái độ của nó có vẻ già trước tuổi, bớt cợt đùa, trầm tính hơn.

Khi Kent đi học trở lại, nó chín chắn hẳn, kiên nhẫn nhường nhịn với hai em Savanna và Peter. Và nó đặc biệt cảm kích, thần tượng người cha xả thân cứu mình.

Khi Kent lên trung học, cậu quyết tâm theo đuổi con đường nghiên cứu khoa học. Cậu chọn các ngành khoa học khó khăn và cực nhọc hơn việc nghiên cứu lớp vỏ trái đất của bố mình – ông Alex – rất nhiều. Càng khó càng tốt.

Nhưng sau 6 tháng đại học, Kent biến mất. Vài người biết chút chút bảo, cậu ấy nói về việc dự định tới miền biển phía tây. Khi bố mẹ cậu chuẩn bị báo cảnh sát thì có thư: cậu đang làm cho một hãng buôn tại vùng ngoại ô phía bắc Toronto. Alex đến đó thuyết phục cậu trở lại trường nhưng Kent từ chối. Cậu nói rằng cậu rất hài lòng với công việc, kiếm ra tiền và sẽ thành đạt sớm. Sau đó Sally có ghé thăm mà không nói cho Alex biết và thấy cậu vui vẻ, mập lên độ 4, 5 kí. Cậu bảo, do uống bia và bây giờ có bạn có bè rồi.

“Chỉ là giai đoạn phát triển”, cô nói với Alex khi cô sau đó thú nhận chuyến viếng thăm. “Nó muốn tự lập”.

Khi mẹ cậu tới hãng lần nữa thì nghe ông chủ bảo là cậu đã bỏ việc. Cô chẳng hỏi Kent đã đi đâu vì chắc cậu sẽ liên lạc ngay khi cậu ổn định ở chỗ nào đó.

*
Ba năm sau, cậu viết một lá thư được gửi về từ vùng Needles, California, nhưng cậu nhắc họ khỏi phí công tìm – cậu chỉ ghé qua đó thôi. Giống như Blanche, cậu viết. Alex hỏi: “Blanche là gã quái nào vậy?”.

“Nó đùa thôi”, Sally đáp. “Không thành vấn đề”, Kent không cung cấp thêm thông tin cũng chẳng xin lỗi hay hỏi thăm gia đình. Thay vì điều đó cậu ta lại kể cậu tin là cậu nên và đang làm thế, làm cho bằng được.

“Ý con là mình phải mặc đồ bác sĩ, kỹ sư hoặc là một nhà địa chất và khám phá thế giới của toàn bộ những phần đẹp đẽ lẫn kinh tởm cùng niềm vui và những đớn đau, cũng như cái hỗn mang chao đảo. Có thể bố mẹ cho là phô trương nhưng một thứ mà con phải học cách chối bỏ đó là niềm kiêu hãnh trí tuệ”.

“Nó say thuốc”, Alex nói. “Đang chết mòn vì ma túy”. Nửa đêm, ông lại nói “Tình dục. Nó không bình thường, ý anh là vậy”.

Trong thư Kent còn thêm – Alex gọi là phần trách cứ điên điên – rằng cậu ta đã may mắn hơn nhiều người vì có “khoảnh khắc cận kề cái chết”, tình trạng “sống dở” cho cậu nhận thức hơn người và cậu sẽ mãi biết ơn bố, mẹ. Cậu viết: “Có lẽ con đã được sinh ra lần thứ hai”.

Lá thư đó, kết thúc với chữ kính yêu, là lá thư cuối cùng họ nhận được từ Kent.

So-613--Anh-minh-hoa---Ho-sau---Anh-1
Nguồn: virtualgallery.com.

*
Peter theo ngành y, Savanna học luật. Sally thì bỗng thích địa chất. Một đêm, tâm trạng đang phấn khích sau khi làm tình, Sally nói với Alex về những hòn đảo – dù không hé lộ rằng cô hình dung Kent đang sống trên một hòn đảo nào đó.

Nhà địa chất Alex đã nghỉ việc giảng dạy. Từ khi về hưu ông chuyên tâm vào việc viết sách. Rồi một ngày hè, ông phải vào bệnh viện để phẫu thuật. Không ngờ lại là những ngày cuối đời.

Mùa thu năm đó có một cuộc hỏa hoạn thảm khốc ở Toronto. Sally ngồi trước TV xem tin hỏa hoạn đầy những cảnh thương tâm. Đó là một quận mà bà biết rõ, chính xác là đã từng biết. Nơi đó thật sự tạp nham, những tòa nhà xây dựng từ thế kỷ XIX, chốn cư ngụ của các thành phần bất hảo. Giờ những tòa nhà này bị thiêu rụi.

Chừng 10 phút sau, chuông điện thoại reo. Đó là Savanna. “Mẹ. Mẹ có mở tivi không? Mẹ thấy chứ?”.

“Con nói vụ cháy…? Mẹ có xem, nhưng vừa tắt”.

“Không. Mẹ có thấy – giờ con đang đi tìm anh ấy đây – con đã nhìn thấy anh 5 phút trước… Mẹ, đó là Kent.

Con vẫn chưa tìm được. Nhưng con đã nhìn thấy”.

“Sao không? Mẹ bật ngay đây. Anh con có bị sao không?”.

“Không, anh ấy đang cứu giúp mọi người, đang đẩy cáng. Chính xác là Kent mà. Thậm chí mẹ có thể thấy anh khập khiễng. Mẹ thấy chưa nào? Con cá là anh đã vào lại tòa nhà”.

“Nhưng… họ sẽ không cho…”.

“Anh ấy có thể là một bác sĩ…”.

Savanna chưa biết nhiều về anh trai mình – khi anh nó rời gia đình, nó mới 9 tuổi. Có phải cái chết của người cha khiến nó cảm nhận được tình cảm và sự cần thiết của gia đình? Nó sẽ kết hôn rồi có con sớm thôi, Sally nghĩ.

Và trong vòng một tuần, Savanna đã biết tất cả về Kent. Anh sống ở Toronto nhiều năm nay, thường đi qua tòa nhà nơi Savanna làm việc và dĩ nhiên là anh đã không ít lần chạm mặt, nhận ra cô trong đám đông, còn cô thì không, vì anh ấy khoác áo choàng tu sĩ.

Kent đã hẹn gặp Savanna tại một quán cà phê nơi mà cô nói thẳng với Kent là “chốn rác rưởi”.

“Anh thì thấy khác”, Kent nói, nhưng rồi anh lại bảo anh không phản đối cách nhìn nhận của mọi người.

“Ồ, anh vĩ đại thật!”, Savanna tếu táo.

Anh bảo anh có thấy cáo phó của Alex trên báo và anh hãnh diện về những đóng góp của bố cho ngành địa chất. Và anh khá ngạc nhiên thấy tên mình có trong danh sách người thân. Trước khi chết… bố lập à? – Anh hỏi.

Savanna nói không phải – bố đi đột ngột. Đại gia đình đã quyết ghi tên Kent.

“Không phải bố”, Kent thốt lên. “Ôi, không!”.

Sau đó, anh hỏi về Sally.

“Con đã nói gì?”, giọng Sally nghèn nghẹn.

“Con nói mẹ ổn, có lẽ mẹ hơi hụt hẫng, bố mẹ luôn gắn bó và thời gian chưa khỏa lấp được nỗi cô quạnh của mẹ. Rồi anh bảo: “Nói mẹ đến thăm anh, nếu mẹ muốn”, và con hứa sẽ chuyển lời”.

“Anh con có nói khi nào hay ở đâu không?”.

“Không. Con định tuần sau gặp sẽ nói”.

“Nó làm việc như thế có mạo hiểm…?”.

“Anh sẽ không nói đâu. Nhưng theo thông tin con biết thì có đấy. Sau này mới vỡ lẽ là anh ấy cũng khá “nổi tiếng” trong khu vực nào đó, với hạng người nào đó”.

*
Bà Sally nhận được mẩu giấy. Bản thân nó quá đặc biệt bởi mọi người mà bà biết, và cả bà, đều dùng điện thư hoặc phone. Bà vui vì thằng con đã không gọi. Bà chưa chuẩn bị và không đủ tự tin để nghe giọng nói con trai. Tờ thư hướng dẫn bà để xe trong bãi đậu xe điện ngầm và lên tàu đi đến một ga, nơi anh ta sẽ gặp bà.

Bà mong chờ gặp con phía ngoài cửa xoay, nhưng anh không ở đó. Có lẽ anh ngụ ý rằng anh sẽ gặp bà phía bên ngoài. Bà trèo lên các bậc tam cấp và bước ra chỗ sáng ánh mặt trời và dừng lại trong khi mọi người vội vã vượt qua bà. Bà cảm giác mất tự tin và xấu hổ. Mất tự tin vì không có Kent và xấu hổ vì con người và khung cảnh nơi này chẳng khác ở những nước chậm phát triển.

Trên bậc thềm tòa nhà ngân hàng khi xưa ngay phía trước cổng ga điện ngầm, vài người đàn ông đang ngồi, uể oải, hoặc ngủ gật. Tòa nhà không còn là ngân hàng nữa, mặc dù tên ngân hàng vẫn còn khắc trên bức tường đá. Bà nhìn vào cái tên ngân hàng hơn là quan tâm mấy gã dáng điệu lỏng khỏng liêu xiêu và sự vội vã của đám đông đang ra khỏi ga xe điện ngầm.

“Mẹ”. Một người đàn ông bước lên bậc thềm tiến về phía bà chẳng có gì vội vã. Bà nhận ra Kent và đợi anh ta lề mề bước đến. Bà hầu như muốn chạy khỏi chốn này. Rồi bà thấy không phải tất cả bọn đàn ông đều nhớp nhúa hoặc có ánh nhìn vô vọng. Vài người liếc xéo bà, chẳng ý đe dọa hoặc xem thường mà thậm chí còn khá vui vẻ thân thiện, bây giờ bà đã được biết là mẹ của Kent.

Kent không mặc áo choàng. Anh mặc chiếc quần xám quá khổ, chiếc áo thun trơn cổ tròn, và chiếc áo khoác xơ mòn. Mái tóc cắt quá ngắn đến nỗi khó thấy xoăn. Làn da nhợt nhạt, người ốm nhom làm anh nhìn già trước tuổi. Anh đã rụng vài chiếc răng. Anh không ôm mẹ – bà cũng chẳng mong thế – nhưng đặt nhẹ bàn tay lên lưng bà rồi hướng bà về phía anh muốn cả hai đi đến.

“Con vẫn còn hút tẩu chứ?”, bà hỏi, hắt mũi, và nhớ lại cái kiểu cầm tẩu thuốc của thằng con thời trung học.

“Tẩu thuốc? Ồ, không! Đó là mẹ ngửi thấy mùi khói từ đám cháy ấy mà. Con lo rằng chỗ ta qua đám cháy sẽ mạnh hơn”.

“Chúng ta sẽ đi qua đó ư?”.

“Không. Chúng ta không thể. Quá nguy hiểm. Vài tòa nhà sẽ sập. Đừng lo quá, mẹ. Mọi việc ổn thôi. Chúng ta ở trong một khu nhà an toàn, cách đám cháy này hơn một dãy”.

“Căn hộ của con?”, bà chỉnh lại từ chúng ta.

“Đại loại thế. Vâng. Mẹ sẽ thấy ngay”.

Anh ta nói nhanh gọn, giọng nhẹ nhàng, nhưng có vẻ cố gắng hệt người ta đang nói tiếng nước ngoài. Rồi anh dừng trong chốc lát, bảo đảm bà đã nghe được.

Khi hai mẹ con bước khỏi lề đường, anh chạm nhẹ tay bà – có lẽ anh sẩy chân – và anh nói, “Xin lỗi”. Bà cảm thấy anh ta hơi run rẩy.

“AIDS. Tại sao mình không nghĩ đến nhỉ?

“Không”, anh nói, “Hiện thời con khỏe. Con không nhiễm HIV dương tính gì hết. Con bị sốt rét vài năm trước nhưng giờ tất cả đều trong vòng kiểm soát. Con có lẽ mệt nhưng không có gì để lo hết. Chúng ta quẹo vào đây. Chúng con sống trong tòa nhà này.

Chúng con.

“Con không phải ông đồng bà cốt… Chúng ta tới rồi. Con vẫn độc thân”, anh nói, tay giữ cánh cửa mở. Một mảnh bìa giấy đính tạm trên ô cửa chỗ lẽ ra phải lắp kính. Sàn nhà trống trơn và cọt kẹt tiếng chân. Cái mùi kỳ cục, hỗn tạp, xú uế lan khắp nơi: mùi khói trộn lẫn với mùi đồ ăn, cà phê rang, mùi bệnh, mùi thối rữa…

“Độc thân có vẻ là từ không mang nghĩa tốt đẹp cho lắm…”, anh nói khi dẫn mẹ đi vòng cầu thang và vào bếp.

Một phụ nữ to lớn đứng xoay lưng về phía hai mẹ con, đang khuấy thứ gì đó trong nồi.

Kent nói: “Này, Marnie. Đây là mẹ anh. Em có thể chào mẹ?”.

Bà chú ý con mình đã đổi giọng. Tự nhiên, trung thực, có lẽ một chút nể trọng.

Đi xuống bậc cấp mới tới căn phòng của anh ta, thực ra là một căn hầm. Có chiếc ghế dài cũ đã sứt bể, vài chiếc ghế mất thanh ngang.

“Những cái ghế rất vững”, anh nói. “Hầu hết vật dụng ở đây được lượm bên ngoài, nhưng con sẽ đánh dấu số ghế mà mẹ không thể ngồi”.

Bà Sally ngồi xuống với cảm giác vô cùng mệt mỏi. “Con làm gì? Đây là nhà trọ giữa đường hả?”.

“Không. Chúng con chào đón tất cả mọi người tá túc”.

“Kể cả mẹ”.

“Cả mẹ luôn”, anh nói, chẳng hề cười. “Chúng con tự lo tất – tận dụng mọi thứ nhặt nhạnh được”.

“Sống nhờ từ thiện?”.

“Ăn xin”, anh đáp.

“Trên đường phố?”.

“Còn chỗ nào tốt hơn?”.

“Chính con làm điều đó?”.

“Khó có thể đòi hỏi người khác làm nếu con không tự làm. Đó là chuyện mà con, vâng tất cả chúng con, phải vượt qua. Điều đó có vẻ xấu hổ. Chẳng qua là khái niệm “của tôi”. Khi ai đó thả 10 đô vào mũ thì lập tức ý niệm tư hữu hiện hình. Của ai hở? Của chúng tôi, của chúng ta – ừm – hay của tôi? Nếu câu trả lời là của…”.

“Kent…”.

“Ở đây tên con là Jonah”.

“Jonah?”.

“Con mới chọn tên đó. Mẹ có thể gọi con là Kent, nếu mẹ thích”.

“Mẹ muốn biết những gì đã xảy ra với con. Ý mẹ là… không phải những người này…”.

“Họ là cuộc đời con”.

“Mẹ biết con sẽ nói thế”.

“Đây là những gì con đã và đang làm – 7 năm? 9 năm?”.

Bà vẫn tiếp tuc: “Còn trước đó?”.

“Những gì con biết? Trước đó? Trước đó. Ngày tháng như cỏ rác vậy. Cắt hết và bỏ vào lò. Hãy nghe con nói. Con tận hưởng mỗi ngày như nó hiện-đang có. Mẹ không thể hiểu đâu. Con không phải, không thuộc thế giới của mẹ, và ngược lại – con không là của mẹ. Mẹ có biết tại sao con muốn gặp mẹ ở đây hôm nay?”.

“Không. Mẹ đã không nghĩ về điều này. Tự nhiên mẹ cho là đã đến lúc…”.

“Tự nhiên. Khi con đọc tin cha chết trên báo, con đã nghĩ… tiền ở đâu?

Con đã nghĩ… có lẽ mẹ sẽ nói cho con biết”.

“Nó thuộc về mẹ”, bà Sally nói với một chút thất vọng nhưng bà kìm được. “Lúc này. Cả ngôi nhà nữa, nếu con quan tâm”.

“Con nghĩ có khả năng là vậy.

Tốt thôi!”.

“Khi mẹ chết thì để lại cho Peter và con của nó, và Savanna”.

“Tuyệt đấy!”.

“Peter không biết anh nó còn sống hay đã chết”.

“Mẹ nghĩ rằng con đang đòi hỏi tiền bạc cho chính bản thân sao? Con đã sai lầm lớn khi nghĩ ngợi mình sẽ sử dụng nó như thế nào cho mọi người ở đây. Giờ thì con cảm thấy vui rồi”.

“Mẹ có thể… cho con mượn”.

“Mượn? Ở chỗ ghẻ lạnh này chúng con không có từ mượn. Xin lỗi, con phải làm tỉnh trí lại đã. Mẹ đói không? Mẹ dùng một ít súp nhé?”.

“Không, cảm ơn”.

Khi nó đi ra, bà nghĩ đến việc bỏ trốn. Giá bà biết chỗ cửa để khỏi phải ngang qua nhà bếp… Nhưng bà không thể làm điều đó bởi nếu vậy bà sẽ không bao giờ gặp lại nó nữa. Và sân sau ngôi nhà chẳng có lối thông ra đường.

Khoảng nửa tiếng sau, anh quay lại, có chút ngạc nhiên, chút bối rối khi thấy mẹ anh còn ở đó.

“Xin lỗi. Con phải giải quyết vài việc. Và sau đó con đã nói chuyện với Marnie. Cô ấy luôn làm cho con bình tĩnh lại”.

“Con đã viết một lá thư cho bố mẹ”, Sally nói. “Đó là lần cuối cùng gia đình biết tin tức về con”.

“Làm ơn đừng gợi lại, Sally… cho phép con gọi thế. Từng khoảnh khắc lăn lộn ngoài đời, con nhận ra mình hạnh phúc”.

“Con… hạnh phúc?”.

“Vâng”.

“Sống… trong hiện tại?”.

“Con không quan tâm nếu mẹ cho là sáo rỗng xuẩn ngốc”.

“Mẹ không…”.

“Con không quan tâm. Nếu mẹ nghĩ con muốn moi tiền, bám mẹ, tốt thôi. Con không nói con yêu mẹ. Và con cũng không cố đến nơi nào đó để trò chuyện với ai. Con tránh những mối quan hệ cá nhân. Tránh quan hệ”.

“Mẹ đang nghĩ về lời Chúa Giêxu…”.

“Mẹ không chán à? Mẹ không mệt mỏi bởi sự khéo léo? Tỏ vẻ tử tế, thông minh… mẹ không ớn sao? Con không thể tiếp tục nói chuyện kiểu này. Thứ lỗi, con có việc phải làm”.

“Mẹ cũng vậy”, bà Sally bịa.

“Chúng ta sẽ…”.

“Đừng…”.

“Tốt hơn chăng?”.

*
Bà Sally bị lạc, sau đó tìm thấy lối ra. Lại tòa nhà ngân hàng, lại những kẻ lang thang rồi chuyến xe điện ngầm trở về, bãi đỗ xe, chùm chìa khóa, đường cao tốc, các phương tiện giao thông vun vút. Rồi đến con đường nhỏ hơn, hoàng hôn buông xuống, không tuyết rơi, những hàng cây trụi lá và những cánh đồng thẫm màu.

Bà yêu vùng quê này, vào thời điểm này của năm. Giờ chắc bà cảm thấy bản thân mình vô dụng? Con mèo vui mừng khi thấy bà. Có vài tin nhắn của bạn bè trong máy. Bà hâm nóng đồ ăn, uống một ít rượu trong lúc đợi.

Bà lắc đầu vẻ giận dữ. Phải làm gì đây? Trở lại cái ổ chuột đó, nấu lại những miếng thịt gà đã bị quăng đi và ngập ngụa trong chán chường khổ đau cùng hạng người như Kent, như Marnie?

Kent bệnh hoạn thật rồi, nó đang chết mòn. Nó sẽ không bao giờ cảm ơn bà về những tấm ra sạch sẽ và thức ăn tươi ngon. Nó thà chết trên cái giường nhỏ, người trùm cái mền rách nát loang lổ vết cháy – nó thích như vậy và sẽ như vậy.

Còn tấm séc – bà có thể viết – không phải cho chuyện vớ vẩn không cần thiết. Không quá nhiều cũng không quá ít. Cũng chẳng ích gì cho bản thân nó, tất nhiên nó vẫn xem thường và sẽ không ngưng miệt thị bà đâu.

Xem thường. Không. Không có lý gì. Vấn đề không ở chỗ đó, chả có gì riêng tư ở đây cả, với nó thảm họa là không tránh khỏi. Rất trầm trọng, phải vậy chăng? Bà đã nói, “có lẽ vậy” còn nó chẳng thèm đính chính…

Thời gian mờ xóa. Bà đã không nhận ra rằng mình cũng thay đổi như nó, đã khác trước hoàn toàn do tuổi tác. Hiển nhiên là bà đã từng gặp những người lớn tuổi, rõ ràng họ chỉ biết suy nghĩ và làm theo ý họ.

(Từ nguyên bản tiếng Anh Deep-Holes)

So-613--Alice-Munro---Anh-1

Nhà Văn Canada Alice Munro Đoạt Giải Nobel Về Văn Chương Năm 2013. Hội Đồng Tuyển Chọn Của Hàn Lâm Viện Hoàng Gia Thụy Điển Đã So Sánh Bà Với Anton Chekhov, Một Văn Hào Người Nga Trong Thế Kỷ Xiv Được Tôn Vinh Là Người Viết Truyện Ngắn Hay Nhất, Và Gọi Bà Munro Là “The Master Of The Contemporary Short Story”, Bậc Thầy Của Truyện Ngắn Đương Thời.

Alice Munro (Canada)
Nguyễn Trung (dịch)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 613

Ý Kiến bạn đọc