Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Họ đã viết gì?

Tập thơ “Biến tấu với những mảnh vỡ cuộc sống” của nhà thơ Trần Hữu Dũng và Trường ca “Mặt đất – Bầu trời” của nhà thơ Hồ Thi Ca là 2 trong số 38 tác phẩm được trao giải từ Cuộc vận động sáng tác Văn học – Nghệ thuật cho nhiều thể loại, do Ủy ban Nhân dân TP.Hồ Chí Minh và Liên hiệp các Hội Văn học – Nghệ thuật TP.Hồ Chí Minh tổ chức năm 2015 nhân kỷ niệm 40 năm ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước.

Trong tập thơ “Biến tấu với những mảnh vỡ cuộc sống” của nhà thơ Trần Hữu Dũng, bài thơ đầu tiên có tựa đề “Thơ về Bác Hồ”. Thật ra, đã có rất nhiều tác giả dùng nhiều thể loại để sáng tác thơ về đề tài Bác Hồ. Nhưng làm thơ như Trần Hữu Dũng về Bác Hồ thì chưa có. Thử đọc xem anh đã viết như thế nào?

Lời ghi

Dân Việt ghi tên Người vào phả hệ gia tộc mình
Nên phút yếu lòng, hạnh phúc, đớn đau
Chợt thảng thốt gọi:
Bác ơi!

Nỗi buồn

Tôi biết Bác Hồ có nỗi buồn
Treo nơi chiếc đồng hồ quay ngược thời gian
Trăn trở, bôn ba khắp năm châu tìm đường cứu nước

Tôi biết Bác Hồ có nỗi buồn
Dằn vặt, lo toan của người lãnh tụ
Canh cánh bên lòng
về chuyện ấm no, hạnh phúc người dân

Tôi biết Bác Hồ có nỗi buồn
Khi thăm đồi thông Côn Sơn, Thạch Bàn, Ngũ Nhạc
Đau đáu mối oan tình Lệ Chi Viên
Chỉ thẳng tà dương chiếu cổ bia (*)

Thương sao những nỗi buồn dào dạt tình người
Làm nổi sóng yêu thương bao trái tim xúc động
Càng yêu Bác hơn với những nỗi buồn chân thật.

Nguyện thề

Anh tạc tượng Bác Hồ
Phác thảo này đến phác thảo khác
Những mảnh vụn đâm đau nhức
Đá lặng lẽ, thở hơi tê buốt thời gian
Nụ cười bao dung của Người
Thôi thúc nhà điêu khắc kiên trì sáng tạo
Đá – Năm tháng – Bác Hồ
Anh nguyện thề
Tạc nên bức tượng Người
Với tình yêu Việt Nam đích thực.

42 bài thơ còn lại, nhà thơ Trần Hữu Dũng dành cho những mối tri ngộ trong cuộc đời, như buổi chiều ngồi uống rượu với nhà văn Đoàn Giỏi trong căn phòng nhỏ ở đường Võ Văn Tần, tâm sự viễn du qua mấy chặng ga đời, cuối cùng thì còn lại tiếng còi nhức nhối thúc dục chuyến du hành xa rời cõi tạm.

Rồi anh ghi lại cảm xúc của lần đến với Trường Sa (Bài thơ viết muộn sau 25 năm ở cụm đảo Sinh Tồn; Tháng 5 ở Trường Sa; Cây bàng trái vuông; Lính đảo Trường Sa đọc thơ nhà; Thời khắc nghiệt ngã…). Và những sáng tác khác liên quan đến lịch sử chiến đấu giành tự do độc lập cho đất nước, anh nhắc đến những địa danh đó bằng những bài thơ được đặt tên: Ở Côn Đảo; Những đôi mắt vọng phu ở đảo Lý Sơn; Trai đàn trên sông Thạch Hãn; Ở nghĩa trang Trường Sơn; Những người hướng dẫn địa đạo Củ Chi… đó là cảm xúc thật của người làm thơ.

Nhìn tấm ảnh giàn khoan Trung Quốc HD981
Ở lãnh hải Việt Nam
Giận dữ tôi buột miệng phát ra từ Xâm lược
Biển dường như không còn xanh màu bích ngọc
Đàn hải âu hoảng loạn kêu chói tai…

(Thời khắc nghiệt ngã, tr.58)

Những bài thơ còn lại là những tình cảm dành cho những người yêu thương nhất trong đời tác giả (Thơ viết cho bé Thanh Thảo, tr.10; Bài dân ca, tr.15; Bàn tay má tôi, tr.34); dành cho bạn bè (Một ngày tốt lành, tr.24; Requiem cho Linh, tr.41; Bầy mèo hoang ở trụ sở 81, tr.48; Gặp gỡ, tr.54…) và những đoản ngắn, khúc xao xuyến rời, tản mạn (Tiếng hú câm, tr.11; Phát hiện, tr.12; Mùa nước nổi, tr.13; Ở Bảo tàng Chứng tích chiến tranh, tr.14; Ánh sáng, tr.16; Nụ hôn, tr.17; Nhiều lần như thế, tr.18; Nhật ký ở sân chim Đồng Tháp Mười, tr.19; Về miệt đồng bằng, tr.20; Mùa lũ, Bài thơ, tr.21; Chiếc lông tơ, Vạt sành, tr.22; Bông dại, Bài học thuộc lòng, tr.23; Lời con đom đóm, tr.25; Ngày hè, tr.26; Tháng 12, tr.27; Đáy mộ, tr.28; Tâm thức đồng bằng, tr.,40; Trước biển lớn, tr.42; Đà Lạt, tr.44; Bài jazz cho ngày hạnh phúc tan loãng, Đối thoại với số phận, tr.52.)
Tất cả những vui, buồn, ngắn, dài đó đã phần nào cho bạn đọc hình dung được chân dung nhà thơ Trần Hữu Dũng, và tập thơ “Biến tấu với những mảnh vỡ cuộc sống” của nhà thơ gồm 43 bài được Hội đồng giám khảo nhận định như sau: “43 bài thơ mang tiếng lòng của tác giả, bằng cái nhìn mới mang đậm tính nhân văn, cố thoát khỏi định kiến chủ quan của người sáng tác…”.

Còn Trường ca “Mặt đất – Bầu trời” của nhà thơ Hồ Thi Ca gồm 3 chương: Giải phóng; Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh; Tổ quốc dậy sóng. Trường ca tái hiện một phần lịch sử của đất nước, của TP.Hồ Chí Minh qua cái nhìn và tấm lòng của tác giả bằng thơ. Lời thơ mềm mại nhưng nói lên được cái bi hùng của dân tộc.

Trường ca là một thể loại khó viết, để viết được một trường ca hay không phải là chuyện dễ dàng. Vì thế, chúng tôi đã đặt cho nhà thơ Hồ Thi Ca câu hỏi: “Ý tưởng đầu tiên khi anh nghĩ mình sẽ viết trường ca là gì?”.

Nhà thơ HỒ THI CA: Trường ca hàng ngàn câu thơ hay một bài thơ tứ tuyệt chỉ 4 câu cũng chỉ là phương tiện để chuyển tải những cảm xúc bằng ngôn từ của tác giả đến người đọc. Chọn viết trường ca hay làm thơ tứ tuyệt cũng chỉ là chọn “chiếc giỏ” nào có sức chứa đủ cho mình chuyển tải ngôn từ và cảm xúc. Khi bạn đi chợ mà xách chiếc giỏ quá lớn, không khéo sẽ dễ gặp nhiều bất lợi: cồng kềnh, nặng nề, khó luồn lách qua các khe chật hẹp… Việc chọn trường ca để thể hiện cũng giống như vậy, không khéo sẽ rơi vào tình trạng lê thê, dàn trải, buồn chán. Nhưng vì đề tài lớn, cần chứa đựng nhiều nên tôi đã chọn trường ca khi viết tác phẩm gần đây nhất của mình: Trường ca Mặt đất – Bầu trời. Tôi chưa đếm tác phẩm này có hết thảy bao nhiêu câu thơ nhưng khi in thì dày gần 100 trang sách. Chương Giải phóng tường thuật lại dưới con mắt của một chàng trai tuổi mới lớn về một thành phố Sài Gòn những ngày trước và ngay sau ngày lịch sử 30/4/1975; trước ngày này là những lo lắng, bế tắc, mất phương hướng trước cuộc chiến tranh của một thế hệ trẻ miền Nam, sau ngày đó lại là những chuỗi ngày hòa bình trong gian khổ, thiếu thốn.

Chương 2: Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh lại nói một thành phố vươn lên từ tàn tích chiến tranh, từ hai bàn tay trắng và quan trọng nhất là:

Nếu ngọn lửa tắt đi
sẽ không còn gì
dù là một giọt nước mắt…

Bởi lửa đó là:

Ngọn lửa được bụm lại trong hai bàn tay đất nước
đi ngược vào lòng hướng bão cơn giông
đi như tên bắn
đi trong chớp lóe của bộc phá
đi qua những cây cầu gãy vụn…

(trích Trường ca Mặt đất – Bầu trời)

Với chương 3 mang tên Tổ quốc dậy sóng, tôi dành để viết về các cuộc chiến tranh biên giới, công cuộc chiến đấu giữ gìn lãnh thổ, biển đảo của chúng ta suốt 40 năm qua…

Với những nội dung rộng lớn như vậy nên chọn thể loại trường ca là ý tưởng đầu tiên khi tôi ngồi vào viết tác phẩm Mặt đất – Bầu trời, và may mắn là tác phẩm này đã được công nhận bằng giải thưởng.

Theo anh, trường ca có ảnh hưởng như thế nào trong văn học?

Nhà thơ HỒ THI CA: Hiện giờ ít thấy trường ca xuất hiện nhưng khoảng mươi năm về trước, rất nhiều tập trường ca liên tục ra đời và tạo thành một mảng thể loại có sức nặng riêng trong nền văn học Việt Nam. Tôi nghĩ, có thể do nhịp sống ngày càng nhanh, tình cảm con người hiện đại ngày càng gãy vụn nên các thể loại dài hơi như truyện thơ, kịch thơ hay trường ca khó tìm được chỗ đứng vì độc giả không còn đủ thời gian và kiên nhẫn để đeo đuổi mạch cảm xúc dài và lớn. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là trường ca đã chết! Như với trường hợp của tôi, để chuyển tải một “dung lượng dữ liệu” lớn các nội dung như Mặt đất – Bầu trời thì việc chọn trường ca là tất nhiên chứ không thể là những bài thơ ngắn!

Để trường ca đi vào lòng người, theo anh thì cần có những yếu tố gì?

Nhà thơ HỒ THI CA: Hiểu nôm na thì trường ca là một bài thơ dài, có khi rất dài. Đã là thơ, dù ngắn hay dài, cũng phải đặt cảm xúc lên hàng đầu. Vì là bài thơ rất dài nên trường ca cần được chú trọng về bố cục như nhà văn chăm chút cho diễn biến một cuốn tiểu thuyết. Khá giống tiểu thuyết, trường ca cũng có nhân vật trữ tình mà lại không cần quá cụ thể như phải có tên tuổi, chân dung… Nhưng khó hơn tiểu thuyết, ngôn từ trong trường ca phải được chắt lọc, tinh chất như trong mọi bài thơ ngắn khác! Tôi nghĩ, khi cố gắng đáp ứng được các tiêu chí tối thiểu đó, một tác phẩm trường ca mới có hy vọng len lỏi vào tâm hồn người đọc.

Trân trọng cám ơn anh về những ý kiến trên.

P.N. Thường Đoan
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 391

Ý Kiến bạn đọc