Truyện ngắn

Họ đã đi qua Mậu Thân như thế

Với người Sài Gòn, dường như từ thuở khai sinh lập địa mọi sinh hoạt như vẫn theo nếp cũ. Một ngày mới chỉ bắt đầu từ sau 8 giờ sáng, lúc ấy hàng quán mới dọn ra. Chiến tranh ở đâu chứ Sài Gòn thì bình yên. Nhưng dù thế nào thì vẫn có những người hoài nghi. Để xóa tan đi sự lo lắng, Tổng thống từng có lúc buộc phải lên tiếng trấn an. Nhưng vừa trấn an bữa trước thì bữa sau đạn cối đã nổ ở ngay đầu Hotel Majestic, theo đường đạn có thể xác định được bắn từ phía bên Thủ Thiêm qua. Tháp bên hữu nhà thờ Đức Bà cũng dính một phát gãy ngang. Mặc dù thiệt hại chẳng đáng kể nhưng hậu quả tâm lý thì không thể đo đếm. Tổng thống nói đô thành bình yên nhưng rõ ràng Việt Cộng không biến mất. Họ vẫn đang hiện diện ở ngay giữa lòng Sài Gòn.

Một buổi sáng cuối năm 1967. Không khí vô cùng trong trẻo. Trên đường Hai Bà Trưng ở khúc Tân Định, một phụ nữ chừng 30 tuổi tóc bới cao, áo dài dáng quí phái vừa đi vừa có vẻ lơ đãng ngắm nhìn phố xá. “Sài Gòn đẹp lắm, Sài Gòn ơi!”, có ai đó đi ngang qua, vừa đi vừa hát. Tiếng hát chỉ thoáng qua nhưng cũng đủ khiến cho lòng chị xao xuyến. Hình ảnh con sông Tiền quê hương với những cánh cò trắng bay rợp trên cánh đồng khi chiều buông bất chợt hiện lên. Phải, chừng nào đất nước thanh bình thật sự thì chừng đó mình sẽ về lại quê hương. Tới gần ngã tư Nguyễn Đình Chiểu nối sang Duy Tân, chị dừng lại, mở cái sắc mạ vàng nãy giờ vẫn quàng hờ trên vai lấy chìa khóa. Vừa tra chìa vào ổ thì đột nhiên, như từ trên trời rơi xuống, một viên cảnh sát xuất hiện.

Người phụ nữ tỏ ra vô cùng bình tĩnh, đưa mắt nhìn anh ta. Trong thâm tâm, bằng trực giác của một người hoạt động ở nội thành, chị biết hẳn đã có chuyện. Chị nghĩ nhanh trong đầu và tìm phương án đối phó.

- Ông cần gì? – Chị lên tiếng, giọng nhỏ nhẹ.

- Tôi là cảnh sát. Chúng tôi được tin báo trong nhà quí bà có chứa đồ lậu.

Gã trình thẻ rồi rút súng lên đạn đánh rốp. Tìm kiếm trong nhà một hồi chẳng thu được gì, anh ta đòi căn cước của chị rồi bỏ đi. Tấm thẻ có dán hình chị, do cơ sở mật của ta làm. Chưa đầy phút sau, tên an ninh đội lốt cảnh sát, bao năm hoạt động nội thành chị lạ gì đám này, cùng đồng bọn ập tới.

- Mấy ông ăn hiếp người ta quá vậy! – Vài người xung quanh la lên, phản đối việc vô cớ bắt người. Nhưng đám an ninh bỏ ngoài tai. Cả chục thằng đàn ông, đứa nào đứa nấy hí hửng, áp tải người phụ nữ ra xe.

Đám an ninh quá rành về chị. Trước đó có kẻ chiêu hồi đã khai ra.

- Bà là Phó Bí thư Ban Phụ vận Sài Gòn chớ gì, tụi này chả lạ, khai ra vài đứa rồi hưởng khoan hồng của Quốc gia!

- Đẹp và giỏi giang như vầy sao lại đi làm Việt Cộng!

- Vợ của ông Tư Ánh, Bí thư Đặc khu ủy Sài Gòn – Gia Định, biệt danh con hùm xám Đông Nam bộ đây rồi!

Ở Tổng nha tụi địch không ngớt hăm dọa. Chúng biết người nữ Việt Cộng là Nguyễn Thị Chơn, tên khai sanh là Tôn Thị Hưởng, sinh ngày 23-6-1927 tại xã Lương Hòa Lạc, quận Chợ Gạo, tỉnh Mỹ Tho. Xuất thân trong một gia đình nhà giáo nghèo nhưng giàu lòng yêu nước. Lớn lên trong cảnh đất nước và đồng bào đang rên xiết dưới ách áp bức bóc lột của đế quốc thực dân, cô bé Tôn Thị Hưởng đã sớm giác ngộ lý tưởng cộng sản, dấn thân vào con đường Cách mạng, từng là Hội trưởng Hội Phụ nữ cứu quốc quận Chợ Gạo, tỉnh Mỹ Tho. Tháng 3-1947, bà được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam, được tổ chức phân công giữ các chức vụ Ủy viên Đảng Đoàn phụ nữ cứu quốc tỉnh Tiền Giang, cán bộ Phòng Chính trị Bộ Tư lệnh Nam bộ, Ủy viên Ban Chấp hành Phụ nữ cứu quốc Nam bộ.

Anh-minh-hoa---ho-da-di-qua-Mau-Than-nhu-the
Nữ Tự vệ trong Cơ quan trực thuộc Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam
sẵn sàng cho cuộc Tổng tiến công và Nổi dậy mùa Xuân Mậu Thân 1968.

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, cách mạng Việt Nam chuyển qua giai đoạn mới. Chính quyền Ngô Đình Diệm với sự đỡ đầu của quan thầy Mỹ đã xé bỏ cam kết, lê máy chém đi khắp miền Nam với đạo luật 10/59 khét tiếng, tàn sát đồng bào yêu nước và những người kháng chiến cũ. Với phom người rất đẹp và sự am hiểu sâu sắc về văn hóa, bà được tổ chức phân công hoạt động công khai tại Sài Gòn, giữ các chức vụ Bí thư Đảng Đoàn Hội Phụ nữ bảo vệ nhân phẩm, Ủy viên Thường vụ Ban Chấp hành Hội Liên hiệp phụ nữ giải phóng miền Nam, Ủy viên Thường vụ Hội Nhà báo yêu nước miền Nam Việt Nam, Phó Bí thư Ban Phụ vận Sài Gòn.

Chúng cho chị đối mặt với kẻ đã phản bội lại đồng đội. Sinh mệnh của một con người nhiều khi thật mong manh, gói trong một cái gật hoặc lắc của người kia. Và người kia đã gật. Nhiều năm về sau, khi binh lửa ngập trời đã chấm dứt, chị có dịp gặp lại ông ta. Kẻ phản bội thanh minh rằng ông ta không có sự lựa chọn khác. Lúc ấy, giữa cái gật và cái lắc đầu, hoặc là chị, hoặc là đứa con bé bỏng của ông ta phải chết. Và ông ta đã chọn chị làm vật tế cho con mình.

Tụi địch giam chị vào bót Ngô Quyền, bót Bà Nà thuộc Tổng nha, đểu cáng hơn, còn đẩy vào trại giam nam. Thôi thì đủ loại nhục hình, trói, bịt khăn kín mũi, xối nước, một thằng ngồi lên bụng dận. Máu trào mặn chát trong cuống họng. Thấy chơi trò này không xong, chúng đổi qua trò tra điện, kẹp dây vào những điểm nhạy cảm nhất của phụ nữ, thùy tai, đầu vú, cửa mình… rồi chập. Đầu óc tóe lửa rần rần, chết đi sống lại, nhưng từ khóe miệng chị tuyệt nhiên không hé ra một lời nào. Đánh chán mỏi tay, tụi địch từ hậm hực tức tối đi đến ngạc nhiên, khâm phục. Nhiều đứa nói toạc ra mồm: “Việt Cộng, nhất là mấy bà rất chì!”.

Tóc tai, quần áo be bét nước đái tù, thân thể đau đớn vô cùng, càng đau đớn hơn khi chị biết tin các đồng chí thân thiết của mình như Lê Thị Riêng, Trần Văn Kiểu, Duy Liên… đều đã bị bắt. Nỗi nhớ chồng nhớ con da diết cũng dằn vặt chị khôn nguôi. Trong hoàn cảnh như vậy cũng đã có kẻ ngã lòng. Nhưng với chị, niềm tin mãnh liệt vào sự tất thắng của cách mạng đã giúp cho chị đứng vững. Trong một bản báo cáo mật gửi ra từ trong tù, chị đã sửa hai câu thơ “Giữa dòng thác lũ nghiêng trời đất, một cánh đào trôi vẫn nửa dòng…” của nhà thơ Thanh Tịnh thành “Giữa ngàn thác lũ nghiêng trời đất / Một cánh đào trôi vẫn ngược dòng…”. Nghe nói, bản báo cáo đến tay cố Thủ tướng Phạm Hùng, lúc bấy giờ đang giữ chức vụ Bí thư Trung ương Cục miền Nam và là Chính ủy các Lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam, ông đã đọc và rất cảm kích.

Tụi Tổng nha dùng đủ mọi thủ đoạn hòng khuất phục ý chí của người nữ chiến sĩ nhưng rốt cuộc đành phải chịu thua. CIA, bậc thầy về ngón nghề thẩm vấn, nhân cơ hội lập tức đưa con mồi về để trực tiếp khai thác. Nhưng chúng cũng đành bó tay bất lực.

- Chúng tôi quyết định thả bà vì lý do… nhân đạo (!) – Tụi địch tuyên bố, không giấu nỗi bẽ bàng. Chị không chịu, đòi chúng phải thả các đồng chí của mình và nói rõ chỉ chấp hành mệnh lệnh của Mặt trận Dân tộc giải phóng. Tụi địch lúng túng. Sau, chúng dùng trực thăng đưa chị qua cầu Bình Lợi, ngả Tân Hiệp Củ Chi ngược lên mạn Gò Dầu Tây Ninh bỏ tại đấy. Chị trở lại trong vòng tay yêu thương của đồng đội tiếp tục cuộc chiến đấu.

Thời kỳ cuối 67 đầu 68, cuộc chiến trở nên vô cùng ác liệt. Sau khi ra tù, các bác sĩ trên cứ ngờ bà bị ung thư nên cấp trên đã quyết định đưa ra miền Bắc để điều trị. Có một kỷ niệm khó quên, bà và gia đình được dùng cơm với Bác Hồ. Với rất nhiều người trong chúng ta, được nhìn thấy hình ảnh, nghe giọng nói của Bác là nỗi khát khao, mơ ước cháy bỏng cả đời, huống chi nói đến được gặp và được dùng cơm với Người. Ở Bắc nhưng lòng bà vẫn canh cánh hướng về Nam. Bà nằng nặc đòi đi. Thật khó có thể cản ngăn một tấm lòng kiên trung cách mạng như thế.

Nhưng đúng lúc lên đường, bà nhận được lệnh của Trung ương Cục miền Nam cử tham gia đoàn đàm phán trong thành phần phái đoàn Chính phủ Cách mạng Cộng hòa miền Nam Việt Nam tham gia Hội nghị Paris, thực hiện sứ mệnh đem lại hòa bình tự do cho xứ sở và quê hương mình. Cuộc chiến ngoại giao đòi hỏi trí, dũng và sự hy sinh vô bờ của những người nhận lãnh trách nhiệm Đảng, Chính phủ và nhân dân giao phó. Giữa Paris thanh bình, nhiều đêm bà thao thức không ngủ. Người chồng yêu dấu của bà, ông Trần Bạch Đằng, Bí thư Đặc khu ủy Sài Gòn – Gia Định, mối tình kết tinh trong chiến khu, đang từng ngày từng giờ chiến đấu với giặc. Cái chết có thể ập tới bất cứ lúc nào. Nỗi nhớ quê hương, chồng con, đồng chí, đồng đội dằng dặc khôn nguôi. Một lần nữa, bà lại vượt lên.

Cuộc chiến Mậu Thân 68 đã làm thay đổi gần như toàn bộ nhận thức của thế giới về chiến tranh Việt Nam. Một cách rõ ràng, cho dù người Mỹ và chính quyền Sài Gòn do họ hậu thuẫn có mạnh tới đâu thì kết cục vẫn chỉ có một, họ không thể thắng được ý chí thống nhất đất nước của người Việt. Người dân Pháp, nhất là tầng lớp thanh niên tỏ ra vô cùng yêu mến phái đoàn đàm phán của Chính phủ Cách mạng miền Nam. Có lẽ họ biết những người tham gia cuộc đấu trí này đều từ trong khói lửa bước ra. Họ hò reo mỗi khi thấy phái đoàn Chính phủ Cách mạng miền Nam xuất hiện.

Sau 30-4-1975, bà trở lại Sài Gòn – thành phố Hồ Chí Minh. Những năm đầu giải phóng công việc ngập đầu ngập cổ. Bà tham gia công tác phụ nữ, giữ các chức vụ Ủy viên Thường trực Ban Chấp hành Hội Liên hiệp Phụ nữ giải phóng miền Nam, Ủy viên Đảng Đoàn Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Theo sự phân công của tổ chức, bà về ngành tòa án, làm thẩm phán, Phó Chánh tòa rồi Chánh tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại TP. Hồ Chí Minh. Năm 1982, bà qua ngành Tư pháp khi Bộ này được tái lập, trở thành nữ Thứ trưởng Tư pháp đầu tiên của nước ta trong suốt lịch sử mấy mươi năm tồn tại và phát triển.

- Ngày trước mấy chú hay đưa đi chỗ này chỗ khác, cứ lệnh là cô chấp hành, sau này mới thấm thía, đi thế hiểu biết được nhiều lắm. Mấy đứa nhớ là cô ở đâu, làm gì, đều là theo sự phân công của Đảng, của tổ chức – Sinh thời, bà thường nói vậy.

Một buổi chiều sau cơn mưa, không khí mát mẻ vô cùng. Bà nằm võng, thói quen từ những ngày sống trên chiến khu, tỉ tê kể cho mấy đứa nghe vài câu chuyện nhỏ trong quãng đời hoạt động cách mạng. Ngày xưa cứ ngỡ xa mà đâu có xa xôi gì, đôi vợ chồng trẻ gửi con để đi chiến đấu, tình yêu và lý tưởng cách mạng quyện chặt như hai bờ của dòng sông Tiền quê hương.

“Lòng ta chôn một khối tình
Tình trong giây phút mà thành thiên thu”
(Khái Hưng dịch)

Bằng một giọng Nam bộ trầm ấm, bà đọc cho mấy đứa nghe câu thơ, hình như của một thi sĩ Pháp Felix Arvers. Thời gian bà bị địch bắt, nửa kia của bà là ông Trần Bạch Đằng lo lắng mất ăn mất ngủ. Bữa nhận được thư của vợ gửi ra từ trong tù, ông xúc động rơi nước mắt.

- Thời kỳ ác liệt ấy nay nhớ lại bỗng thành kỷ niệm. Tàn nhẫn lắm mấy đứa à. Trong nanh vuốt kẻ thù, mỗi người phải tự quyết định lấy con đường của mình, tự quyết định lấy số phận của mình – Bà nói một cách chậm rãi và tôi đã ghi lại nguyên văn.

Bước qua tuổi 70, sức khỏe của bà xuống đột ngột. Trong những ngày trên giường bệnh, nỗi ưu tư canh cánh của bà là nạn tham ô tham nhũng tràn lan. Mỗi khi có người đến thăm, sau vài câu chuyện dí dỏm, bà lại nói về nó. Hai năm sau ngày bà mất, ngày 8-3-2002, Chủ tịch nước Trần Đức Lương ký Quyết định số 130/2002/QĐ-CTN tặng thưởng bà Huân chương Độc lập hạng nhì vì đã có công lao đóng góp vào sự nghiệp Cách mạng của Đảng và của dân tộc. Gia đình, bạn bè, đồng đội, đồng chí đã thay bà đón nhận vinh dự này. Ông Uông Chu Lưu, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Tư pháp, nay là Phó Chủ tịch Quốc hội đã không kìm nổi xúc động thốt lên: “Cuộc đời đồng chí Nguyễn Thị Chơn là tấm gương sáng về lòng yêu nước, sự hy sinh chiến đấu vì độc lập, dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Với cô Năm, gia đình và sự nghiệp luôn luôn hòa quyện với nhau, đầy tinh thần trách nhiệm, thủy chung và tình nghĩa…”.

Để có một ngày 30 tháng 4 huy hoàng, có cả một thế hệ, trong đó có vợ chồng bà đã đi qua Mậu Thân như thế.

Chiến khu Đ, 21-8-2017

Cao Chiến
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 468

Ý Kiến bạn đọc