Người tốt - Việc tốt

Hồ Chủ tịch với nhân dân

Nói đến Hồ Chủ tịch, mỗi lần chúng ta lại nhận ra những nét mới.

Họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung hồi 1946 vẽ Hồ Chủ tịch ở Bắc Bộ phủ có kể lại cái cảm giác bàng hoàng khi gặp Cụ lần đầu: giữa một phòng làm việc kiểu lai Tây lai ta của bọn thực dân trước, giữa những tủ gương, bàn giấy, sập, giường tây, ghế nằm, bỗng thấy Cụ Hồ ngồi làm việc trong bộ áo ka-ki bạc cũ như một ông già ở đâu hiện đến, và lúc nào cũng có thể tự nhiên lại ra khỏi cảnh ấy. Trong con mắt họa sĩ, hình ảnh ông già kỳ diệu không ăn khớp gì với những đồ đạc và gian phòng chung quanh, Hồ Chủ tịch hiện lên trong khung cảnh ấy một cách khác thường, hình như chỗ của Cụ là ở nơi khác kia.

Lần gặp gỡ đầu tiên giữa Hồ Chủ tịch và nhân dân thì khác hẳn: mồng 2 tháng 9 lịch sử dưới nắng thu đổ lửa, lúc người chiến sĩ cách mạng nét mặt như nhà hiền triết, lúc vị Chủ tịch đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bỗng hỏi: “Tôi nói, đồng bào nghe rõ không?” thì cả biển người đang còn ngấm ngầm đợi chờ bỗng dào lên mà trả lời. Từ lúc ấy người lính già của dân tộc đã thấy dân tộc Việt Nam nghiễm nhiên độc lập tự do, và nhân dân Việt Nam đã thấy mình có một vị Chủ tịch chiến sĩ.

Trong khi nhân dân nhận ra Cụ Hồ một cách nhanh chóng như vậy, thì giới văn hóa trí thức vẫn còn lúng túng và bỡ ngỡ. Chúng ta còn nhớ sau ngày khởi nghĩa, một số anh em trí thức xì xào bàn tán ca tụng vị Chủ tịch nói được nhiều thứ tiếng ngoại quốc! Một nhà giáo dục lúc đó thường hay đi khoe rằng Cụ biết tiếng Anh giỏi hơn cả một vài người đã từng ở lâu năm và đậu bằng cấp cao bên Anh! Nhưng còn những điều Hồ Chủ tịch nói bằng tiếng Việt Nam và cách nói những điều ấy thì lại thực làm cho nhiều người ngạc nhiên. Những người trí thức kính trọng Hồ Chủ tịch như mọi công dân kính trọng lãnh tụ. Nhưng đọc những lá thư, những câu thơ của Hồ Chủ tịch, nghe Cụ nói về chính trị, văn hóa của dân ta, có người như muốn tự hỏi thầm: “Thế này thôi ư?”. Nói đời sống mới, Hồ Chủ tịch bảo: Cần, kiệm, liêm chính. Nói đường lối đấu tranh, Hồ Chủ tịch bảo: Toàn dân đoàn kết. Viết thư cho chiến sĩ Nam bộ, vị Chủ tịch làm thơ: “Tết này ta tạm xa nhau”.

Nhà văn Nga Ê-ren-bua có nhận xét rằng người thợ không hiểu một bài văn thơ, một bức tranh thì cho là lỗi tại mình và cố sức tìm hiểu, trái với kẻ tư bản không hiểu một tác phẩm thì khinh bỉ, cho là tại người đã tạo ra tác phẩm ấy. Một số người lúc đầu, đọc lời văn bình dị đơn giản của Hồ Chủ tịch không thấy những câu đẹp, bóng bẩy theo ý họ mong đợi, theo những sách vở họ quen đọc, có lẽ trong thâm tâm cũng như kẻ tư bản kia đổ lỗi cho người viết. Nhưng trước mắt họ, hình ảnh Hồ Chủ tịch vĩ đại, họ chỉ thắc mắc thầm.

Ho-Chu-tich-lam-viec-tai-Bac-Bo-phu---To-Ngoc-Van

Trước ngày Toàn quốc kháng chiến, Hồ Chủ tịch đứng trên diễn đàn Hội nghị Văn hóa Toàn quốc nói với các nhà văn hóa trong khi bên ngoài phố vắng, những xe thiết giáp của Pháp chở đầy lính mũ đỏ hung hăng khiêu khích. Hồ Chủ tịch nói: “Thưa các ngài, đối với văn hóa, tôi là một người môn ngoại hán!” (*). Có lẽ một số các nhà văn hóa “chuyên môn” bấy giờ cũng nghĩ rằng ý kiến Hồ Chủ tịch không có tính chất “văn hóa chuyên môn”. Nhưng trong khi ấy, những lời Hồ Chủ tịch nói ra làm rung động lòng nhân dân suốt từ phố hè Hà Nội đến những cánh rừng Việt Bắc, đồng cỏ Tây Nguyên hay ruộng lầy Đồng Tháp Mười.

Trải bao nhiêu năm bị che đậy, lừa dối trong cái “học” của tư bản, của thực dân, chúng ta đã bị lừa vì những bề ngoài của văn hóa. Chúng ta đã không nhận thấy rõ rằng một người nông dân du kích ở Tây Ban Nha, ở Hy Lạp, là người văn hóa hơn một viên giáo sư đại học phát xít chẳng hạn. Cuộc kháng chiến ngày nay đã dạy ta: một anh binh nhì i tờ của chúng ta là người văn hóa hơn những tên quan năm, quan sáu lê dương Pháp xuất thân ở các trường đại học, mồm nói những Tôntôi (Tolstoi), tai nghe những Môda (Mozart). Và người đàn bà “nhà quê” đi họp phụ nữ xã là người văn hóa hơn những thứ quan lại, tiến sĩ làm tay sai của giặc để tàn sát đồng bào.

Hồ Chủ tịch đã đem sự thực ấy đến rọi vào văn hóa nước ta. Văn Người viết chính là lời nói, ý nghĩ của tất cả những con người “nhỏ bé”, nhũn nhặn, cần cù, dai dẳng, anh dũng, đang tạo ra đất nước mới của chúng ta ngày nay, đang đẩy cuộc kháng chiến vĩ đại của chúng ta tiến gấp đến ngày chiến thắng. Vì vậy nên nhân dân gặp thấy Hồ Chủ tịch là nhận ngay ra người dắt đường cho mình.

Một bạn nhà văn có kể lại câu chuyện đọc cuốn Đời sống mới. Những trang giản dị đến hết mực ấy đã khiến cho nhà văn đọc rất nhanh, và gấp cuốn sách mỏng lại, ông ta thầm nghĩ: Cũng không có gì lạ. Đến buổi tối, người con gái bà cụ chủ nhà hỏi mượn và đem đọc cho cả nhà nghe. Cô ta đọc còn chưa thông, ngập ngừng từng câu. Cả gia đình nông dân ấy, bà cụ mắt lèm nhèm, người con dâu hay đánh chửi con cái, mất một con gà thì nguyền rủa hàng xóm hàng mấy ngày, cho đến một hai người đàn bà hàng xóm sang chơi, những con người bỏ hàng từ lâu lắm lên cái thung lũng hẻo lánh này của Việt Bắc để làm ăn, tất cả đã ngồi ngây người nghe từng lời như bị thôi miên. Bấy giờ nhà văn mới thấy mình chưa đọc được gì lúc trước.

Ngày nay chúng ta đã nhìn lại được rõ hơn. Sự bỡ ngỡ lúc đầu của một số người trí thức trước Hồ Chủ tịch là sự bỡ ngỡ của họ trước nhân dân. Công việc làm văn hóa, công việc trí thức trong chế độ cũ, trong vòng trói buộc và phỉnh phờ của chủ nghĩa thực dân đã bị cắt lìa với đời sống của nhân dân đông đảo. Không hiểu hết nhân dân, không sống đời sống nhân dân, không nói tiếng nói của nhân dân, nhìn nét mặt một người “nhà quê”, một người đàn bà lam lũ, một anh thợ nhọ nhem, không hiểu những nét mặt ấy giấu những ý nghĩ tình cảm gì, nên người trí thức lúc đầu không hiểu văn Hồ Chủ tịch. Vì Hồ Chủ tịch nói tiếng nói của nhân dân. Khi Cụ Hồ nói, mỗi người dân hồi xưa tối tăm cực khổ mà đồng thời cảm thấy mập mờ trong lòng mình bao nhiêu khát khao, bao nhiêu ý nghĩ không rõ ràng, người dân ấy bỗng thấy hình như chính mình nói lên.

*

Mấy năm gần đây, đã nhiều nhà văn tìm hiểu văn Hồ Chí Minh.

Đồng chí Phạm Văn Đồng trong cuốn Hồ Chủ tịch – hình ảnh của dân tộc, đã vạch rõ những bài học lớn trong đời sống, tư tưởng và tác phong của Hồ Chủ tịch.

Văn Hồ Chủ tịch giản dị như tâm hồn của nhân dân. Cái lớn lao của một nhà tư tưởng là tìm được đường lối giản dị, soi sáng cả muôn ngàn sự việc rắc rối, hỗn độn của đời sống hàng ngày. Cuộc chiến đấu gian nan và phức tạp của chúng ta đã được Hồ Chủ tịch soi sáng theo một đường lối minh bạch, ai cũng hiểu và tin. Phân tích chủ trương chính trị của Người, đồng chí Phạm Văn Đồng viết: “Dân tộc Việt Nam bây giờ muốn gì? Muốn thống nhất, độc lập, muốn no ấm, muốn biết chữ, muốn đời sống bớt tối tăm. Cho nên Hồ Chủ tịch chủ trương: đoàn kết kháng chiến, tăng gia sản xuất, bình dân học vụ, đời sống mới”. Tiến gần đến phản công, Hồ Chủ tịch dặn trước mọi người: “Càng gần thắng lợi, càng nhiều gian nan”. Ngày nay giặc đánh Khu Ba, tàu bay khủng bố, thóc cao gạo kém, các bà cụ nhà quê vẫn truyền nhau câu ấy mà hiểu được tình thế. Sự sáng rõ giản dị của Hồ Chủ tịch là do một tư tưởng khoa học đã thấm nhuần được vào cuộc sống bình thường làm lụng, chiến đấu hàng ngày.

Hồ Chủ tịch nói là để làm và để mọi người làm. Người nói một câu, viết một câu, bao giờ cũng chú ý làm sao người tầm thường nhất cũng hiểu và làm theo được. Năm 1946, một ủy viên Ban vận động Đời sống mới lên trình bày cùng Hồ Chủ tịch 3 nguyên tắc của đời sống mới: “Dân tộc – dân chủ – khoa học”, và phát biểu ý kiến rằng khẩu hiệu “Cần kiệm liêm chính” có vẻ cổ. Hồ Chủ tịch như ngơ ngác trước những danh từ to lớn ấy, Người nói:

- Hay lắm, nhưng mình phải xem đồng bào bây giờ cần gì. Tôi hỏi thật chú, chú đi vận động đời sống mới thì chú làm gì trước?

Anh ủy viên đời sống mới nói đến nào tuyên truyền, nào tổ chức. Hồ Chủ tịch lắc đầu và trỏ vào bụng:

- Trước hết là cái này. Dân chúng cần cái này trước hết. Phải ăn đã. Chú không ăn thì chú có đi tuyên truyền được không? Mà muốn có ăn thì phải làm gì?

- Thưa Cụ, phải làm việc.

- Đúng, phải làm việc, phải siêng năng, thế là “cần” đấy…

Câu chuyện trên đây có thể áp dụng cho bất cứ lời nói, câu văn nào của Hồ Chủ tịch.

Giản dị, thực tế, luôn luôn từ đời sống nhân dân nảy lên, nên văn Hồ Chủ tịch không khô khan lạnh lẽo. Lời nói của Người đầm ấm thấm nhuần tâm hồn. Hồ Chủ tịch không những là nhà tư tưởng, Người là nghệ sĩ của nhân dân. Trong mỗi lời của Người, ta nghe rõ lối cảm xúc của dân ta. Người khuyên răn cán bộ đừng “Đầy túi quần thông cáo, đầy túi áo chỉ thị”. Ai quên được bức thư Trung thu đầu tiên của Người gửi cho nhi đồng: “Trăng thu trong sáng như một bà mẹ hiền”. Người để lại câu: “Có việc lo, lo trước thiên hạ, có việc vui, vui sau thiên hạ”. Hồ Chủ tịch bảo: “Một ngày đồng bào chịu khổ là một ngày tôi ăn không ngon, ngủ không yên”. Nhắc nhở đồng bào phải cố gắng vượt bậc, Người nói: “Nước ta kinh tế lạc hậu, nhưng lòng yêu nước, chí quật cường chẳng kém ai…”.

*

Nhân dân là nhà hiền triết cũng là nhà thi sĩ đầu tiên.

Những nhà tư tưởng và những nghệ sĩ thiên tài chỉ nảy lên khi nào họ đứng vào hàng ngũ nhân dân, tìm tòi thu hút những sáng tạo của nhân dân, khi nào họ là kết tinh của nhân dân.

Ở nước ta, Cách mạng tháng Tám đã trả lại đầu óc và tâm hồn cho nhân dân. Sức mạnh khổng lồ của nhân dân được giải phóng đã thực hiện những công cuộc không thể tưởng tượng, trên đường kháng chiến, kiến quốc. Và nhân dân, vừa vùng dậy, còn hơi bỡ ngỡ, như người quáng mắt khi ra khỏi ngục tối, thì tự tìm ngay thấy mình trong cách nói của Hồ Chủ tịch.

Điều kiện đã có đủ. Như lời Hồ Chủ tịch: “Gạo nước củi đều sẵn sàng, chỉ cần nhen lửa thì có cơm ăn”. Chúng ta cố gắng trở thành những chiến sĩ trên mặt trận văn hóa, xứng đáng là người nhen ngọn lửa nấu cơm cho nhân dân.

Tháng 5-1950

Nhà văn Nguyễn Đình Thi
(Từ sách Bác Hồ với văn nghệ sĩ – NXB Văn hóa – Văn nghệ – 2013)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 451

———————
(*) Môn ngoại hán: người không chuyên môn.