Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Hồ Chí Minh với Nguyễn Văn Tố – Vị thế Nguyễn Văn Tố trong nghiên cứu văn hóa dân tộc đầu thế kỷ XX

Kỷ Niệm Lần Thứ 130 Năm Sinh Nguyễn Văn Tố (1889-2019)

 

Nhà trí thức, nhà hoạt động xã hội Nguyễn Văn Tố (1889 – 7-10-1947), hiệu Ứng Hòe, sinh tại Hà Nội trong một gia đình có truyền thống Nho học. Đương thời, ông được coi là một trong bốn nhà trí thức Tây học xuất sắc (Quỳnh, Vĩnh, Tốn, Tố). Trên hết và trước hết, ông là nhà sử học. Theo cách định danh của Giáo sư Hà Văn Tấn, ông là “Nhà sử học anh hùng”.

Khi còn làm việc tại Học viện Viễn Đông bác cổ, Nguyễn Văn Tố có điều kiện viết bài khảo cứu, tập trung giới thiệu truyền thống văn hóa dân tộc bằng tiếng Pháp trên những tạp chí uy tín như Kỷ yếu của Học viện (BEFEO), các báo Avenir du Tonkin (Tương lai của xứ Bắc kỳ – xuất bản tại Hà Nội), Courrier d’ Hai phong (Thư tín Hải Phòng – xuất bản ở Hải Phòng), đồng thời viết nhiều bài khảo cứu, bình luận, trao đổi, phản biện, trở thành tay bút chủ lực của các báo và tạp chí nổi tiếng như Nam phong, Đông thanh, Trí tri, Tri tân… Thống kê riêng trên tạp chí Tri tân (1941-1945), chỉ với chừng 4 năm, Nguyễn Văn Tố đã có tới 114 mục bài, trung bình mỗi năm viết trên 20 bài, đủ thấy tính chuyên nghiệp và niềm say mê, tận tụy với nghề của nhà khoa học… Cách mạng tháng Tám thành công, ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh mời làm Bộ trưởng Bộ Cứu tế xã hội, được bầu làm Trưởng ban Thường trực Quốc hội (như Chủ tịch Quốc hội ngày nay), rồi giữ chức Bộ trưởng không bộ trong chính phủ. Đến ngày toàn quốc kháng chiến bùng nổ, ông lên chiến khu Việt Bắc. Ngày 7-10-1947, giặc Pháp nhảy dù xuống Bắc Cạn, ông bị bắt và hy sinh ngay sau đó. Biết tin này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết Lời điếu cụ Tố với niềm trân trọng, tiếc thương sâu sắc:

Nhớ cụ xưa,
Văn chương thuần túy, học vấn cao sâu,
Thái độ hiền từ, tính tình thanh khiết.
Mở mang văn hóa, cụ dốc một lòng,
Phú quý công danh, cụ nào có thiết.
Đến ngày dân tộc giải phóng thành công,
Thì cụ sẵn sàng ra tay giúp việc.
Giữ chức Bộ trưởng thì cụ ngày ngày gần gũi nhân dân,
Đại biểu Quốc hội thì cụ luôn luôn tính bàn kiến thiết…

So-574--Anh-minh-hoa---Vi-the-Nguyen-Van-To-trong-nghien-cuu-van-hoa-dan-toc-dau-the-ky-XX---Anh-3
Chính phủ VNDCCH năm 1946 (hàng đầu, từ trái sang phải): Cụ Nguyễn Văn Tố,
Chủ tịch Hồ Chí Minh, Cụ Huỳnh Thúc Kháng (Nguồn: baomoi.com).

Trải qua 58 năm trên cõi đời, Nguyễn Văn Tố để lại nhiều công trình nghiên cứu liên ngành và chuyên sâu, bao quát nhiều lĩnh vực khoa học xã hội như sử học, văn học, văn bản học, khảo cổ học, ngôn ngữ học, dân tộc học, tôn giáo học, văn hóa học, văn hóa dân gian… Với vốn kiến thức sâu rộng và được đào tạo bài bản, ông đã khơi mở vấn đề, tiến hành khảo sát, nghiên cứu nhiều phương diện học thuật, chủ đề, đề tài còn hết sức mới mẻ như Thời tiền sử ở Bắc kỳ (1933), Những bài thơ chưa in đời Lê, Nguồn gốc các mái cong (1934), Ngôi chùa An Nam (1941), Những vật dụng trong ngôi chùa An Nam, Vua Gia Long đối với dân Bắc Thành (1942), Tôn giáo nước Nam, Vết tích thành Đại La (1943), Lịch sử Hồ Tây, Gốc tích thành Huế, Đồ thờ của ta (1944), Khí giới ở các đền chùa và nghi vệ đời xưa, Phép quân điền của nước ta (1945)… Mở rộng hơn, không chỉ dịch thuật, giới thiệu các công trình nghiên cứu lịch sử, văn minh, văn hóa Tây Á – Cận Đông, Angkor, Hy Lạp, Trung Hoa, ông còn đi sâu khảo sát đặc điểm các vùng văn hóa, tiến hành so sánh và đối sánh các vùng văn hóa với nhau qua các tiểu luận Văn hóa phương Đông (1932), Quan hệ lịch sử giữa Nhật Bản và Việt Nam (1933), Văn hóa Đông Dương (1943), Tục ngữ ta so với tục ngữ Tàu và tục ngữ Tây (1944)… Chỉ cần lược qua những nhan đề trên cũng đã thấy được hệ thống đề tài hết sức phong phú và những đóng góp đặc biệt quan trọng của học giả Nguyễn Văn Tố đối với ngành khoa học xã hội và chính nền văn hóa dân tộc giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX.

Trong một phạm vi cụ thể, Nguyễn Văn Tố còn có nhiều công trình nghiên cứu và phê bình văn học, chủ yếu được công bố trong khoảng thời gian hơn 10 năm, từ thập kỷ 30 đến Cách mạnh tháng Tám 1945. Trước hết, ông chú trọng tới công việc sưu tập, dịch và giới thiệu các tác gia, tác phẩm Hán Nôm ra chữ Quốc ngữ: Sự tích Ôn Như hầu, Hoa tiên, Nguyễn Du và Truyện Kiều, Thơ xuân đời Hồng Đức, Thơ Hồng Đức bổ chính, Thơ vịnh sử đời Hồng Đức, Hạnh thục ca… Có thể khẳng định những công trình trên giữ vai trò đi tiên phong trong việc sưu tập, khơi nguồn dịch thuật và xác lập hệ thống tư liệu, thư tịch, văn bản Hán Nôm. Điều quan trọng hơn, công việc của Nguyễn Văn Tố cũng chính là sự khởi đầu cho quá trình tự ý thức về khoa nghiên cứu văn học, góp phần chuẩn bị điều kiện tốt nhất cho sự ra đời các bộ văn học sử và công trình nghiên cứu chuyên sâu ngay trong thời gian đó.

Vốn là nhà nghiên cứu, Nguyễn Văn Tố cũng đồng thời là nhà truyền bá, môi giới, quảng cáo văn chương, viết nhiều bài đọc sách, điểm sách, có khi mở rộng thành những cuộc trao đổi, tranh luận nối dài trong nhiều kỳ báo. Trên thực tế, Nguyễn Văn Tố đọc điểm cả các chuyên khảo văn chương, sách truyện danh nhân và đi sâu phân tích cái được và chưa được của các bộ văn học sử đương thời. Không chỉ đọc điểm, góp ý cho từng bộ sách cụ thể, Nguyễn Văn Tố còn đóng vai trò người phản biện, trao đổi, tranh luận và “đính chính” cho những sai sót trên văn đàn và các nguồn thư tịch cổ. Với lợi thế của nhà văn bản học, tư liệu học, ông lý giải và xác định nhiều vấn đề có tính giao thoa, nằm ở đường biên văn học như Có nhà Tiền Lý không, Những ông Nghè triều Lê, Tra nghĩa chữ Nho, vừa đi sâu khảo sát, phân tích văn bản như Tài liệu để đính chính những bài văn cổ nối dài suốt 90 số trên tạp chí Tri tân, kể từ giai đoạn khởi đầu cho đến kết thúc… Nói riêng với công trình sau, Nguyễn Văn Tố đã phiên dịch, khảo dị, chú thích, so sánh từ văn bản thi ca dân gian đến tác phẩm khuyết danh và hữu danh “chưa từng thấy in ra chữ Quốc ngữ” và giới thiệu rộng rãi văn phẩm của các tác giả Lê Thánh Tông (1442-1497), Trịnh Căn (1633-1709), Lê Quý Đôn (1726-1784), Đặng Đức Siêu (1750-1810), Nguyễn Huy Lượng (1758-1808), Nguyễn Khuyến (1835-1909)… Đặc biệt từ mục bài số 40-90, ông tập trung khảo sát thi phẩm Kim Vân Kiều của Nguyễn Du (1765-1820) trong tương quan với tiểu thuyết Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc) và mở rộng khảo dị, liên hệ, so sánh câu chữ các bản Nôm, các lối phiên âm, hệ thống điển tích, các cách hiểu, các bài giảng Kiều, tập Kiều, đố Kiều, vịnh Kiều… Nhìn chung, cách khai thác, định giá tư liệu văn chương cổ của Nguyễn Văn Tố đều in đậm dấu ấn hàn lâm, bao giờ cũng có ký chú xuất xứ rõ ràng, thể hiện phong cách nghiên cứu thực sự bài bản, nghiêm túc và đến nay vẫn còn là tấm gương sáng cho các nhà khoa học noi theo.

Nhân kỷ niệm 50 năm ngày mất Nhà văn hóa – Liệt sĩ Nguyễn Văn Tố (1947-1997), các công trình Đại Nam dật sử và Sử ta so với sử Tàu đã được tái bản. Cũng từ 20 năm trước, trong công trình sưu tập tư liệu Tạp chí Tri tân (1941-1945) – Phê bình văn học (1999) đã xác định Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố là 1 trong 6 tác gia phê bình nổi bật của tạp chí (bên cạnh Lê Thanh, Kiều Thanh Quế, Hoa Bằng, Hoàng Thiếu Sơn, Phạm Mạnh Phan) và tuyển in 6 tiểu luận (Bộ sách “Việt Nam văn học” – Quyển “Văn học đời Lý” – Phê bình văn học – Quyển “Việt Nam cổ văn học sử” – Một quyển sách về văn minh – Mấy lời kỷ niệm ông Lê Thanh). Hy vọng một sưu tập các công trình nghiên cứu, phê bình văn học – rộng hơn là tổng thành các trước tác của Nguyễn Văn Tố – sẽ được xuất bản trong thời gian không xa.

La Nguyễn Hữu Sơn
(Viện Văn học)

Ý Kiến bạn đọc