Người tốt - Việc tốt

Hồ Chí Minh – Nhà ngoại giao kỳ tài

Không gì thích thú bằng chứng kiến tài ứng phó trong hoạt động ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Nhà ngoại giao là gương mặt đại diện cho một quốc gia. Cho nên đòi hỏi đối với một nhà ngoại giao vô cùng cao và nghiêm ngặt. Nhà ngoại giao phải là người thông thái, am hiểu nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Nhà ngoại giao vừa phải là người có trí tuệ hơn người, vừa phải là người có tư cách cao quý, khéo léo, dễ gần gũi. Chẳng những kiên quyết bảo vệ quyền lợi của dân tộc mình, nhà ngoại giao tài giỏi là người dễ thu phục tình cảm của công chúng, kể cả của nhân dân nước đối diện với mình và dư luận quốc tế. Trên tất cả các đòi hỏi đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều có đủ, chẳng những đủ mà còn vô cùng duyên dáng, độc đáo và xuất sắc.

Mọi việc lớn nhỏ trong công tác ngoại giao, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều rất chu đáo, cẩn trọng. Như lần sang thăm Ấn Độ, Người không mua hoa chợ để mang đi, mà tự mình ra ngoài vườn cắt hai cành hoa đại có dáng đẹp nhất, một cành cắm trước mộ Thánh Găng-đi, một cành cắm trước mộ thân phụ Thủ tướng Nê-ru. Cử chỉ đó khiến cho nhân dân Ấn Độ rất xúc động. Họ cảm thấy Hồ Chí Minh là người rất có tâm hồn và văn hóa thật cao. Từ đó, họ thêm yêu Chủ tịch Hồ Chí Minh và yêu nhân dân Việt Nam. Hồ Chí Minh đã xây cho nền tảng đoàn kết giữa Việt Nam và Ấn Độ ngày càng sâu sắc, chẳng thế mà dư luận Ấn Độ đã nói: “Ở Ấn Độ có rất nhiều đảng phái, nhiều xu hướng chính trị khác nhau, không ai chịu ai. Nhưng mỗi khi nói đến đoàn kết với Việt Nam thì không ai phản đối hết”.

Ấn Độ là nước đánh giá cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam cực kỳ cao. Ngay những ngày đầu Mỹ tấn công Irắc, thế giới la toáng lên: “Rồi! Mỹ lại sa vào một Việt Nam thứ hai rồi!”. Thì báo “Người yêu nước” Ấn Độ đã dõng dạc bác lại ngay: “Không có đâu! Không có Việt Nam thứ hai nào hết. Nên nhớ rằng, trên thế giới này chỉ có Việt Nam là nước duy nhất đánh bại Mỹ về mặt quân sự mà thôi!”. Sự đánh giá ấy của báo “Người yêu nước” đã trở thành chân lý mà ai cũng thấy.

Trước khi kết thúc chuyến thăm Ấn Độ, Chủ tịch Hồ Chí Minh được mời dự một cuộc họp báo lớn. Rất đông nhà báo Ấn Độ đã đến chật hội trường. Sau khi chào hỏi mọi người xong, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp nhận câu hỏi của các nhà báo. Câu hỏi tập trung nhất, hóc búa nhất là: “Thưa Chủ tịch! Trước khi Chủ tịch sang đây, ông Ngô Đình Diệm đã nói xấu miền Bắc đủ điều. Chủ tịch có ý kiến gì về những lời nói xấu ấy không?”. Chủ tịch Hồ Chí Minh vui vẻ trả lời:

- Tôi sang đây là để thăm nhân dân Ấn Độ, chứ không phải để đi nói xấu ông Diệm. Các bạn có gì thắc mắc, xin cứ hỏi ông Diệm.

Cả hội trường lập tức đứng phắt dậy, vỗ tay kéo dài hơn 10 phút đồng hồ. Họ bảo chưa thấy chính khách nào trả lời báo chí hay như thế.

Còn nhớ, năm 1948, khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta ở vào thời kỳ ác liệt và Pháp đã thua tơi bời trên khắp cả nước Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh phong quân hàm cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp và một số tướng lĩnh khác. Một nhà báo nước ngoài đã tìm cách đến được Việt Bắc để phỏng vấn Chủ tịch Hồ Chí Minh mấy câu rất nóng lúc bấy giờ. Ông ta đến chào Hồ Chủ tịch và đặt ngay câu hỏi:

- Xin chúc mừng Chủ tịch đã có sự giúp việc của một số vị tướng. Vậy căn cứ vào đâu mà phong hàm như thế?

Vì ở nước ta lúc ấy chưa thể có các học viện quân sự cao cấp để đào tạo, nâng cao các cán bộ quân sự chiến lược.

Chủ tịch Hồ Chí Minh bình thản trả lời:

- Như ông đã biết, chúng tôi dùng cách đánh du kích để thắng Pháp. Vì vậy, việc phong quân hàm, chúng tôi cũng theo cách du kích thôi. Ai đánh thắng một quan ba Pháp thì chúng tôi phong là quan ba. Như thế còn khiêm tốn đấy, đáng lẽ phải phong quan tư. Nếu như thế thì đồng chí Võ Nguyên Giáp của chúng tôi đáng được phong mấy lần đại tướng kia! Vì đã đánh thắng nhiều đại tướng, đô đốc của Pháp.

So-524--Ho-Chi-Minh-Nha-ngoai-giao-ky-tai
Trong chuyến thăm lịch sử tới nước Pháp, Bác Hồ đã mở cuộc vận động ngoại giao lớn, góp phần
nâng cao vị thế của nước Việt Nam mới. Trong ảnh, Bác Hồ với gia đình ông Raymond Aubrac
(người đầu tiên bên trái) tại nhà ông Aubrac ở Pháp năm 1946. (nguồn: cand.com.vn)

Điều thú vị và đáng ngạc nhiên là nhà báo kia về nước đã đăng nguyên văn những câu trả lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà dư luận thế giới không phản đối gì hết.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chẳng những là một nhà chính trị thiên tài, Người còn là một nhà quân sự lỗi lạc. Thiên tài về chính trị của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện thuyết phục ở các quyết định chiến lược vô cùng đúng đắn của Người. Ví dụ, phải chọn con đường nào cho cách mạng Việt Nam thì Người chọn con đường của Lênin. Đó là một quyết định tuyệt vời để đưa nước ta tới độc lập, tự do.

Quyết định chiến lược thứ hai là chọn thời cơ cho cuộc tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám 1945. Đó là lúc thiên thời, địa lợi, nhân hòa đầy đủ nhất. Trên thế giới thì Liên Xô và quân đồng minh đã đánh bại hoàn toàn bọn phát xít. Trong nước thì bọn thống trị tan rã, không còn sức kháng cự với cách mạng. Nhân dân thì sẵn sàng hy sinh tất cả để giành chính quyền về tay mình. Thời cơ năm 1945 là thời cơ chung cho các quốc gia nhỏ yếu muốn tự giải phóng nhưng chỉ có Việt Nam là nắm được và sử dụng được thời cơ ấy mà thôi. Nếu không có Cách mạng Tháng Tám thì sẽ không có hai cuộc kháng chiến vĩ đại chống Pháp và chống Mỹ, giành lại độc lập, thống nhất, tự do cho Tổ quốc như ngày hôm nay.

Quyết định chiến lược thứ ba là phát động cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ chống bọn thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta. Dù nước ta nhỏ, ít người, nhưng dân ta đoàn kết một lòng “Thà chết không làm nô lệ”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là một người rất trầm tĩnh và quyết đoán, sự trầm tĩnh của một đấng trượng phu không biết khiếp sợ là gì. Ai đã đi qua những ngày đầu binh lửa của cuộc kháng chiến chống Pháp hẳn biết rõ, quân ta với vũ khí thô sơ, súng không đủ đạn, đạn bắn rồi phải lượm vỏ đạn để sẹc lại bắn tiếp, vậy mà phải đương đầu với những đạo quân xâm lược thiện chiến của Pháp – ông chủ dã man của bao nhiêu thuộc địa ở Á – Phi. Nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận định một cách biện chứng rằng:

“Nay tuy châu chấu đá voi
Nhưng mai voi sẽ bị lòi ruột ra”.

Và sự thật đã diễn tiến đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh tiên đoán. Giặc Pháp như con voi hung hăng qua năm tháng trường kỳ của cuộc kháng chiến, đã bị thương bấy bá, cuối cùng nó bị lòi ruột ở Điện Biên Phủ, ngày 7-5-1954.

Quyết định chiến lược thứ tư là tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược ở Việt Nam. Phải nói đây là cuộc đọ sức vang dội nhất thế giới của một nước nhỏ chống lại một đế quốc lớn – đế quốc đứng đầu phe đế quốc. Một khi Mỹ – Ngụy đã xé bỏ Hiệp định Genève, cự tuyệt tổng tuyển cử tự do ở Việt Nam thì sự nhẫn nhịn của nhân dân ta cũng chấm dứt. Miền Nam muốn được giải phóng, chỉ có một con đường là kháng chiến chống Mỹ mà thôi. Nhưng hồi ấy, tình hình quốc tế rất phức tạp. Trong một lần họp Bộ Chính trị, thấy đồng chí Lê Duẩn trầm tư không vui, Bác Hồ hỏi:

- Chú Ba có gì suy nghĩ mà trông bức xúc thế?

Đồng chí Lê Duẩn ấm ức trả lời:

- Ta muốn đánh Mỹ mà họ không cho ta đánh. Muốn đánh Mỹ chúng ta phải không được sợ Mỹ, không được sợ Trung Quốc, không được sợ Liên Xô.

Bác đồng tình với đồng chí Lê Duẩn. Nhưng muốn cho êm phải thuyết phục bạn bè quốc tế và cả nội bộ của chính mình nữa kia!

Hội nghị Trung ương lần thứ 15 năm 1959 phải tạm dừng lại ở giai đoạn 1 mà chưa có Nghị quyết. Miền Nam lúc đó như lửa bỏng dầu sôi, chỉ chờ Trung ương cho lệnh là ra tay sống chết với quân thù, nhưng lệnh vẫn chưa có. Hai đại biểu của Xứ ủy Nam bộ lúc bấy giờ là Phan Văn Đáng và Phạm Văn Xô, được cử ra Hà Nội từ năm 1957 để xin lệnh nhưng thất vọng phải ra về tay không. Hai anh buồn hiu đến gặp đồng chí Lê Duẩn, và nói:

- Thế là chúng tôi ra về tay không rồi, anh Ba ơi!

Vô cùng thông cảm, đồng chí Lê Duẩn vỗ về:

- Thôi được. Để tôi bố trí cho hai anh gặp Bác. Các anh đừng nói gì cả, để coi Bác có dặn gì không?

Hai anh vào gặp Bác. Bác chủ động hỏi ngay:

- Các chú buồn lắm phải không? Hội nghị chưa ra được Nghị quyết, các chú buồn là phải. Nhưng các chú về nói lại với Xứ ủy rằng Bác phê bình Xứ ủy thiếu sáng tạo. Vì Trung ương ở xa nên mới tổ chức Xứ ủy ở trong ấy. Hỏi Xứ ủy làm việc, chịu trách nhiệm với ai? Nếu chỉ nói chịu trách nhiệm với Trung ương thôi thì chưa đủ. Xứ ủy còn phải chịu trách nhiệm với Đảng bộ của mình, với nhân dân mà mình phụ trách. Có Xứ ủy rồi mà dân vẫn bị tàn sát, Đảng bộ vẫn bị tàn phá, thì có Xứ ủy để làm gì?

Anh Hai Xô xúc động, nói ngay:

- Thưa Bác! Bác nói vậy, chúng cháu hiểu rồi ạ!

Hai anh liền báo lại nguyên văn với đồng chí Lê Duẩn. Đồng chí Lê Duẩn bảo:

- Thôi được! Các anh cứ về trong ấy cẩn thận mà làm. Lực lượng vũ trang, tôi sẽ gửi vào sau.

(Trích cuốn “Thời gian và thử thách” của Thăng Long)

Một lần nữa, ta được thấy thiên tài Hồ Chí Minh xuất hiện đúng lúc như thế nào. Có thể nói, Người đã “vạch đường cho hươu chạy” mà không vi phạm nguyên tắc tổ chức của Đảng. Người không phàn nàn vì sao Nghị quyết Hội nghị 15 chưa ra được. Thay vì ngồi trách móc, Người chọn cách sáng tạo nhất, có lợi nhất cho Cách mạng miền Nam là “nhắc khéo” Xứ ủy phải sáng tạo trong trách nhiệm của mình.

Nếu không có sự khêu gợi khéo léo và tế nhị của Bác, miền Nam sẽ ra sao? Còn bị Mỹ – ngụy dìm trong vũng lầy bế tắc đến bao giờ?

Sau Đồng khởi, cách mạng miền Nam bùng lên dữ dội được mấy năm thì đế quốc Mỹ đưa trực tiếp quân viễn chinh Mỹ vào miền Nam. Trước tình thế đó, đồng chí Lê Duẩn đã từng nói: “Nếu để cho quân viễn chinh Mỹ đều đều đổ vào miền Nam thì ta sẽ thua”. Chủ tịch Hồ Chí Minh tán thành nhận định sắc bén ấy của đồng chí Lê Duẩn và chuẩn bị kỹ càng để giáng đòn phản công quyết định, buộc Mỹ phải hoang mang, dao động chiến lược. Lần cuối cùng trong đời, Bác Hồ chủ trì cuộc họp rất quan trọng của Bộ Chính trị để quyết định mở cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 ở miền Nam.

Phải nói, đây là một trong những chiến dịch quân sự kết hợp với chính trị rộng lớn và thú vị nhất của nước ta trong thế kỷ XX. Trong khi Mỹ – ngụy hí hửng rằng năm 1967 là năm chúng đại thắng lợi. Chúng đã đẩy lực lượng lớn của ta ra biên giới Campuchia sau bao nhiêu cuộc càn quét lớn. Chúng gieo không khí phấn khích đón xuân 1968 trên khắp miền Nam. Đùng một cái, bão táp miền Nam nổi lên. Các căn cứ, sân bay, hải cảng, sở chỉ huy đầu não của Mỹ – ngụy bị tấn công đồng loạt. Đòn Mậu Thân quá hiểm, gây chấn động cả nước Mỹ và nhân dân Mỹ cương quyết ra tay ngăn chặn cuộc chiến tranh nhơ bẩn do Mỹ gây ra ở miền Nam, một cuộc chiến tranh mà nước Mỹ, nhân dân Mỹ chỉ cảm thấy nhục chứ chẳng hề vẻ vang gì.

Thế là Mỹ lập tức rút quân viễn chinh về nước năm 1969, hóa giải bài toán gai góc nhất về tương quan lực lượng giữa ta và địch trên chiến trường.

Dù có hy sinh, mất mát không nhỏ, nhưng đại Chiến dịch Tết Mậu Thân 1968 là một trận thắng lớn, có ý nghĩa chiến lược, đặt nền tảng cho các trận đánh tiếp theo, dẫn đến Chiến dịch Hồ Chí Minh vĩ đại thu hồi toàn bộ miền Nam cho một nước Việt Nam thống nhất và hùng mạnh.

Với trí tuệ uyên bác về nhiều lĩnh vực và đức độ cao siêu như thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh nghiễm nhiên trở thành một nhà ngoại giao lỗi lạc, hoàn hảo. Người đã tạo ra một dấu ấn riêng, rất Hồ Chí Minh: Thân thiện mà kiên quyết. Câu nói nổi tiếng của Người là “Dĩ bất biến, ứng vạn bất biến”.

Biến là cái gì? – Là độc lập dân tộc, không được nhân nhượng.

Biến là cái gì? – Là những cái phụ, có thể du di, nhân nhượng một cách đúng mức.

Ngay từ những năm còn sống ở Liên Xô sau khi Lênin qua đời, không ít dị nghị, nghi ngờ Người theo chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi. Một thời gian khá dài, Người phải chịu cảnh “ngồi chơi xơi nước”, không được phân công làm gì cả. Điều đó đã từng xảy ra với một số đồng chí nước ngoài ở Liên Xô hồi ấy chứ chẳng phải không. Nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn là người một mực kiên định. Không ai có thể làm cho Người lung lay ý chí bất di bất dịch là đặt quyền lợi dân tộc mình lên trên hết, trước hết. Người không hẹp hòi. Người muốn giải phóng cho dân tộc mình cái đã. Vì vậy, mục tiêu cao quý nhất trong sự nghiệp của Người không gì khác hơn là “độc lập, tự do”. 

Năm 1950, sau chiến thắng lớn của Chiến dịch Biên giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi thăm Liên Xô không chính thức, cùng với Chủ tịch Mao Trạch Đông là khách mời chính thức. Người được gặp lại Stalin, sau bao năm xa cách. Vậy mà Stalin vẫn chưa bỏ hẳn ấn tượng không tốt đối với Người năm xưa. Stalin hỏi Mao Trạch Đông:

- Liệu Hồ Chí Minh có phải là một Tito phương Đông không đấy? (Tito là lãnh tụ của Nam Tư, được coi là người theo chủ nghĩa dân tộc, đã vừa tách khỏi phe Xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu).

Khi Hồ Chí Minh đã sang Moskva, Liên Xô với Trung Quốc chuẩn bị ký hiệp ước hữu nghị và hợp tác, ngày 14-2-1950, và khi ký có Hồ Chí Minh tới dự. Hồ Chí Minh nói luôn với Stalin rằng: “Các đồng chí Liên Xô cũng nên ký với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa một hiệp ước tương tự như ký với Trung Quốc”.

Stalin đáp:

- Sao các đồng chí phương Đông có nhiều cái suy nghĩ hay nhỉ! Các đồng chí đi thăm bí mật, bây giờ tự nhiên lại xuất hiện nhân vật Hồ Chí Minh, làm sao chúng tôi giải thích với thế giới đây?

Bác trả lời:

- Có gì đâu, các đồng chí cho một chuyến máy bay lên trời xong lại hạ cánh xuống khu vực Moskva là xong thôi!

Stalin thấy lý lẽ của Hồ Chí Minh cũng sắc bén, không nói gì được nữa. Thậm chí Stalin công nhận Việt Nam ngay sau đó, nhưng đề nghị rằng: “Các đồng chí đừng thiết lập sứ quán sớm, vì nếu vậy, Đại sứ Việt Nam sẽ kéo cờ chạy khắp Moskva, và đón tiếp các đoàn ngoại giao, việc đó sẽ kẹt đấy!”.

Tưởng cũng nên nhắc lại chuyện cũ một chút. Stalin là vị đại anh hùng, là lãnh tụ tối cao của Liên Xô, đã góp công lớn nhất đánh bại chủ nghĩa phát xít trong cuộc Thế chiến thứ II. Chủ tịch Hồ Chí Minh thì rất tự tin. Kính phục Stalin, nhưng Bác vẫn đường hoàng, thẳng thắn nói với Stalin quan điểm chính trị của riêng mình, của nước mình, chứ không bao giờ bị người khác lôi cuốn, khiến mình bị động. Sau bao nhiêu năm gặp lại, Stalin thấy Hồ Chí Minh vẫn kiên định như xưa, vẫn khiêm tốn, hòa nhã, nhưng không bao giờ chịu thỏa hiệp, buông xuôi. Đối với Người, Tổ quốc mình, nhân dân mình là mục tiêu phải nghĩ đến trước nhất. Vì thế, chính Stalin cũng phải nể Chủ tịch Hồ Chí Minh và càng ngày càng thấy Hồ Chí Minh nắm rất vững sự kết hợp linh hoạt và khoa học giữa lý luận và thực tiễn, giữa quốc gia và quốc tế.

Rất ít, thậm chí không có ai, lại dám đôi co về lý lẽ với Stalin như Chủ tịch Hồ Chí Minh. Mà cuối cùng, Stalin cũng phải nhượng bộ và kiêng nể Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Cộng với bộ óc sáng tạo không ngừng, Hồ Chí Minh trở nên một chiến sĩ quốc tế lỗi lạc, không hẹp hòi, không phiêu lưu, không a dua theo thời thế, theo áp lực của xung quanh. Người từng đi qua hơn 40 nước trên thế giới để quan sát, học hỏi, so sánh, rút kinh nghiệm để tìm ra con đường đúng nhất cứu dân cứu nước.

Hoàn cảnh đất nước các năm 1945-1946 rất phức tạp và khó xử trí, cho nên Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp nắm hoạt động ngoại giao trong tay. Nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh được thể hiện rất đặc sắc ở 3 khía cạnh:

1/ Ngũ trí, gồm biết mình, biết người, biết thời thế, biết dừng, biết biến.

2/ Có cương, có nhu, biết giữ vững lập trường và nhân nhượng có nguyên tắc, không để sự việc gãy đổ nhưng không được để đối phương cứ được nước lấn tới.

3/ Chặt chẽ trong nội dung ký kết với đối phương. Để cho dễ hiểu, ta hãy hình dung bối cảnh Việt Nam đến năm 1946, khi ta ký Hiệp định sơ bộ 6-3-1946.

Lúc đó, Pháp đòi đưa Việt Nam trở lại chế độ thuộc địa như ngày xưa, với quyền tự chủ hơi nới rộng hơn, nhưng Bác dứt khoát không chịu.

Bác đòi trở thành một nước độc lập nhưng nằm trong Liên bang Đông Dương. Pháp cũng không chấp nhận. Bác đã linh hoạt nghĩ ra chữ “quốc gia tự do”. Pháp đồng ý Việt Nam là quốc gia tự do, có chính phủ, quân đội và tài chính riêng – những yếu tố chủ chốt của một nước độc lập.

Đến khía cạnh đất đai là khía cạnh rất gay go. Pháp đòi đất Nam kỳ phải là đất của Pháp, vì nhà Nguyễn đã bán cho Pháp. Thế nhưng, Hồ Chí Minh khăng khăng một mực rằng Nam bộ là đất của người Việt Nam, là máu thịt của Việt Nam. Hai bên tranh cãi nhau rất quyết liệt, căng thẳng, tưởng như đổ vỡ hiệp định. Nhưng Bác vận dụng tài tình cái văn hóa của sự bình đẳng của nước Pháp, và đề nghị cho hỏi ý kiến nhân dân rồi mới quyết định. Trước chiêu này, Pháp phải chịu thua, vì nếu hỏi dân thì chắc chắn Việt Nam sẽ thắng thôi, nên cuối cùng Pháp phải chấp nhận Nam kỳ là của Việt Nam.

Ngoài ra, ở những chỗ khác, nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh là nhằm thắt chặt tình hòa hiếu, bảo vệ hòa bình, không cố chấp nhỏ nhen.

Hồ Chí Minh là người tiêu biểu cho nguyện vọng của toàn dân. Tuyên ngôn hành động và cũng là lời thề cao quý của Người đối với dân, với nước là:

“Không có gì quý hơn độc lập, tự do”.

Hoàng Xuân Huy
Tuần Báo Văn Nghê TP.HCM số 524

Ý Kiến bạn đọc