Người tốt - Việc tốt

Hồ Chí Minh “Nhà báo cách mạng vĩ đại”

Kỷ Niệm 93 Năm Ngày Báo Chí Cách Mạng Việt Nam 21/6

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn rất coi trọng vai trò của báo chí, coi đây là một vũ khí sắc bén trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng CNXH. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Bác đã viết gần 2.000 bài báo với nhiều bút danh khác nhau. Tùy từng hoàn cảnh, đối tượng phản ánh và độc giả mà Người có cách viết phù hợp để đạt được hiệu quả tuyên truyền cao nhất. Điều đó đã tạo nên ở Người một phong cách báo chí đa dạng và độc đáo. Cũng bởi thế mà Tổ chức Quốc tế các nhà báo (OIJ) đã đánh giá Hồ Chí Minh là “Nhà báo cách mạng vĩ đại”.

Người gắn bó với nhiều tờ báo lớn

Là người sáng lập báo Le Paria (Người cùng khổ). Đây là cơ quan của Hội Liên hiệp các Dân tộc thuộc địa, ra số đầu tiên vào ngày 1/4/1923 và số cuối cùng vào tháng 4/1926. Tờ báo là vũ khí chiến đấu với sứ mạng Giải phóng con người. Nguyễn Ái Quốc làm chủ nhiệm kiêm chủ bút và quản lý tờ báo, viết xã luận, bình luận, truyện ngắn, tin tức, vẽ tranh đả kích, châm biếm; đồng thời Bác làm cả thủ quỹ, xuất bản, phát hành. Trong 4 năm tồn tại, báo Le Paria ra được 38 số, đã góp phần vô cùng quan trọng trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào Đông Dương và các nước thuộc địa khác, thúc đẩy phong trào đấu tranh chống Pháp, giải phóng dân tộc bước sang giai đoạn mới sôi nổi hơn.

Là cộng tác viên tích cực của báo l’Humanité (báo Nhân đạo – Cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Pháp). Trước hết, đây là tờ báo đã đem lại cho Nguyễn Ái Quốc điều quý giá nhất, đó là con đường cứu nước. Ngày 16/7/1920, báo l’Humanité đã đăng bài Luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin. Sau đó, Nguyễn Ái Quốc viết nhiều bài cho chuyên mục l’Humanité với các thuộc địa và trở thành cây bút xuất sắc của tờ báo này.

So-501--Chu-tich-Ho-Chi-Minh-voi-cac-nha-bao-nam-1960
Chủ tịch Hồ Chí Minh với các nhà báo vào năm 1960 (ảnh tư liệu).

Là người sáng lập báo Thanh niên. Ngày 21/6/1925, báo Thanh niên do Nguyễn Ái Quốc sáng lập ra số đầu tiên. Tờ báo này là cơ quan ngôn luận của Tổng bộ Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội. Báo Thanh niên ra hằng tuần đến tháng 4/1927, tổng cộng được 88 số. Nguyễn Ái Quốc viết nhiều tin, bài, làm thơ, vẽ tranh châm biếm cho báo. Đây là tờ báo bằng tiếng Việt in ở Quảng Châu (Trung Quốc), được bí mật chuyển về nước và các cơ sở Việt kiều yêu nước ở Thái Lan, Pháp. Ngày báo Thanh niên ra số đầu 21/6 đã trở thành ngày Báo chí cách mạng Việt Nam.

Với báo Nhân dân. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 2 (tháng 2/1951) đã quyết định ra tờ báo của Đảng và Bác đặt tên là báo Nhân dân: “Đảng ta chỉ có một mục đích là phụng sự nhân dân thì tờ báo của Đảng lấy tên là Nhân dân”. Kể từ ngày báo Nhân dân ra số đầu tiên (11/3/1951), Bác đã có 28 năm gắn bó với báo Đảng. Người đã viết hàng trăm bài báo cho báo Nhân dân dưới các bút danh C.B, K.C, C.N, T.L… để chỉ đạo phương hướng, tuyên truyền đường lối cách mạng.

Một phong cách báo chí độc đáo và đặc sắc

Trước hết là cách đặt nhan đề các bài báo rất ấn tượng của Bác. Có khi Bác chỉ dùng một chữ duy nhất để đặt tên cho bài viết, như khi nói về sự sụp đổ rất đau đớn và nhục nhã của chính phủ Pháp ngày 17/1/1952, Bác viết bài “Uỵch”. Còn khi nói về Liên Xô thử bom khinh khí thành công, gây chấn động và được dư luận thế giới hoan nghênh vào tháng 12/1955, Bác viết bài “Ầm”. Lại nhiều khi Bác dùng thành ngữ để đặt tên bài báo như: “Treo đầu dê, bán thịt chó”, “Mềm thì nắn, rắn thì buông”… Có khi, Bác chơi chữ ngay ở nhan đề bài báo, như: “Tát-xi-nhi bị tát”, nói về thất bại của tướng Pháp Tát-xi-nhi trong trận Hòa Bình năm 1951, hoặc “Xa-lăng xa lù” là cách ghép tên viên tướng Pháp Xa-lăng với từ Salaud (nghĩa là hèn hạ, thô bỉ – nói theo âm tiếng Việt thành ra xa lù). Cũng có khi nhan đề bài báo là những con số biết nói, như: “10 trường học, 1.500 đại lý rượu”, nói về tội ác đầu độc người dân thuộc địa của thực dân Pháp…

Một đặc điểm dễ nhận thấy nữa trong nhiều bài báo của Hồ Chí Minh là lối hành văn giàu hình ảnh, nhằm miêu tả một cách sinh động, cụ thể đối tượng đề cập đến. Khi nói về tội ác phân biệt chủng tộc ở Mỹ, Bác dùng lối văn mạnh mẽ, giàu hình ảnh: “Các bạn hãy tưởng tượng một đám đông cuồng loạn. Quả đấm nắm chặt, mắt đỏ ngầu, miệng sùi bọt, la ó, chửi bới, nguyền rủa… Giữa đám đông ấy là một đống thịt đen bị xô đẩy, đánh đập, giày xéo, rạch da, róc thịt, chửi rủa, bị đá đi đá lại, đẫm máu, bất động. Cái đám đông ấy chính là những kẻ tham gia hành hình. Các xác người rách nát kia, đó là người da đen, là nạn nhân”. Lột trần mục đích xấu xa của ông vua bù nhìn Khải Định trong chuyến đi sang Pháp, Người viết bài “Lời than vãn của bà Trưng Trắc”, vẽ nên một cơn ác mộng cho ông vua này: “Đêm tối quằn quại dưới làn mưa nhỏ hạt dầm dề. Mảng trăng vàng vọt cố bíu trên những mái nhà tranh. Cây đẫm ướt đầm đìa nước mắt tuôn rơi. Gió thổi qua những cụm lá mệt mỏi va vào nhau thành tiếng kinh rợn. Cành cây vặn vẹo như những cánh tay ma quái…”.

Trong các bài báo viết về bọn thực dân, đế quốc hay những thói hư tật xấu đang còn len lỏi trong xã hội, Bác thường dùng lối văn châm biếm thâm thúy để mỉa mai, chế diễu khiến mỗi tác phẩm đều có tính chiến đấu cao. Bác đặt những nhan đề bài báo nghe rất thân thiện, đẹp đẽ: “Chế độ lính tình nguyện”, “Nền văn minh thượng đẳng”, “Hãy yêu mến nước Pháp – người bảo hộ các anh”… nhưng nội dung lại phơi bày những tội ác của bọn thực dân. Với các tổng thống Mỹ – kẻ đầu sỏ gây chiến tranh xâm lược Việt Nam, Bác chỉ gọi một cách châm biếm là “Tổng Ken” (Ken-nơ-đi), “Tổng Ai” (Ai-xen-hao), “Tổng Giôn” (Giôn-xơn). Khi nói việc Giôn-xơn buộc phải đàm phán với chính phủ ta, Bác viết: “Đại bợm Giôn-xơn miệng nói hòa bình, tay vung binh họa”.

Trong nhiều bài báo, Người sử dụng lối chơi chữ rất có hiệu quả, như gọi chệch tên của Bộ trưởng thuộc địa Pháp Lơ-tuốc-nô thành Lơ nhuốc nhơ, hoặc viết “Trên trần ai, ai cũng ghét ai” để chế diễu, mỉa mai việc Ai-xen-hao bị mất ghế tổng thống Mỹ năm 1961. Với tên đại tướng Mỹ Tay-lo, Bác viết: “Taylo thì chân cũng lo”, vạch trần tội ác và mỉa mai việc hắn cùng Xta-lây lên kế hoạch đè bẹp cách mạng miền Nam nước ta trong vòng 18 tháng nhưng đã bị thất bại thảm hại, chỉ còn cách lo nhanh chân chuồn về nước. Có khi Bác chỉ sửa một từ mà chuyển từ mệnh đề tiêu cực thành mệnh đề tích cực, như trong trường hợp Người sửa bài cho nhà báo Pháp S. Phuốc-ni-ô, đó là câu: “Không có chủ nghĩa xã hội thì các dân tộc không thể đi đến độc lập hoàn toàn” thành câu “Chỉ có chủ nghĩa xã hội thì các dân tộc mới đi đến độc lập hoàn toàn”. Báo Nhân Dân số 3390, ra ngày 9/7/1963 đăng bài “Sư Hinh” của Bác, với bút danh Chiến Sĩ, để phê phán những hành động tiêu cực của một số nhà giáo đã làm ảnh hưởng xấu đến vẻ đẹp “Sư Hinh” – đạo đức thơm tho của người thầy. Bác đã chơi chữ với hình thức nói lái quen thuộc: “Nghe nói bà con, nhất là cha mẹ các em học trò rất thắc mắc về việc làm đó của các thầy. “Sư Hinh” hay là “Sinh Hư”. Mong rằng những chuyện không hay như trên cần phải chấm dứt”.

Trong nhiều trường hợp, Bác còn lẩy ca dao, lẩy Kiều, lẩy Chinh phụ ngâm vào trong các bài báo của mình. Như khi viết về thất bại của viên tướng Na-va trong chiến dịch Đông Xuân 1953-1954: Thuở trời đất nổi cơn gió bụi / Khiến Na-va nhiều nỗi truân chuyên / Thua to ở trận Điện Biên / Vì ai kế hoạch mà nên nỗi này / Cút về Tây, tấm lòng xấu hổ / Xấu hổ này biết đổ ai đây?”. Hay như khi kêu gọi thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, Người viết: “Trăm năm trong cõi người ta / Cần kiệm xây dựng nước nhà mới ngoan / Mừng xuân, mừng cả thế gian / Phải đâu lãng phí cỗ bàn mới xuân”…

Những nét nổi bật của phong cách báo chí Hồ Chí Minh nêu trên đã cho thấy Bác quả là một bậc thầy về nghệ thuật ngôn từ, một nhà báo xuất sắc của nền báo chí cách mạng Việt Nam và thế giới. Có được điều đó là ở con người Bác hội tụ vốn văn hóa uyên bác, sự trải nghiệm trong cuộc sống chiến đấu và tâm hồn nhạy cảm của người nghệ sĩ.

Trần Văn Lợi
(Nghĩa H­­ưng – Nam Định)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 501

      Trần Văn Lợi       (Nghĩa H­­ưng – Nam Định)

Ý Kiến bạn đọc