Người tốt - Việc tốt

Hồ Chí Minh Người sáng tạo vĩ đại

 

Theo thời gian, càng ngày thế giới càng nói nhiều về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó là một đề tài lớn lao và hấp dẫn, khai thác chưa bao giờ cạn.

Phải lâu lắm nhân gian mới có một con người như thế: Thông minh, nhân hậu, dũng cảm, kiên quyết và sáng tạo không ngừng. Ai đến với Chủ tịch Hồ Chí Minh đều cảm thấy Người là của mình, gần gũi, thân tình và độ lượng. Như nhà thơ Tố Hữu viết: “Người là cha, là bác, là anh/ Quả tim lớn, lọc trăm dòng màu nhỏ”…

Mỗi đức tính của Người là cả một bộ sách phong phú và sinh động dạy cách làm người, làm cán bộ, làm đảng viên, tóm lại là làm những điều có ích cho dân, có lợi cho nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc nào cũng nhắc nhở đảng viên, cán bộ phải “nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”.

Nói riêng về đầu óc sáng tạo, Chủ tịch Hồ Chí Minh xứng đáng được gọi là một tấm gương sáng ngời đáng khâm phục nhất.

Thế giới này không có gì là có sẵn. Mọi thứ đều phải do con người vắt óc ra, đào bới thực tế để tìm ra chân lý. Mà, sự vật lại biến động không ngừng. Con người không thể dừng nghĩ suy, tìm tòi, phát hiện những cái mới đang nảy sinh, đang tích tụ, đang hình thành để kịp thời xử trí, nắm bắt, đối phó, để giành thắng lợi cao nhất có thể.

Các nhà lý luận trên thế giới không quên bối cảnh thế giới khoảng đầu thế kỷ XX. Đặc biệt, sau Cách mạng Tháng Mười Nga 1917 do Lênin lãnh đạo. Khi chủ nghĩa tư bản biến thành chủ nghĩa đế quốc thì cục diện đấu tranh giai cấp trên thế giới đã khác trước rất nhiều. Cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp công nhân đòi hỏi phải có chuyển biến kịp thời, thích hợp mới mong cáng đáng nổi nhiệm vụ cao cả của mình trong tình hình mới. Chính Lênin là người đã sớm phát hiện ra nhu cầu mới và cấp bách ấy khi bảo rằng: “Các đồng chí sẽ phải làm một việc mà trước đây chưa làm, đó là giúp đỡ các nước thuộc địa làm cách mạng thành công”.

Bởi vì thuộc địa là sản phẩm của chủ nghĩa đế quốc. Trong khi ở các chính quốc, mâu thuẫn giai cấp chủ yếu là giữa công nhân với tư bản mà thôi, thì ở các nước thuộc địa, ngoài mâu thuẫn giai cấp còn có mâu thuẫn dân tộc rất quyết liệt.

So-536--Ho-Chi-Minh-Nguoi-sang-tao-vi-dai
Hồ Chủ tịch rất quan tâm đến việc giải phóng phụ nữ. Năm 1956, Người căn dặn
các cán bộ phụ nữ toàn miền Bắc “đoàn kết chặt chẽ, ra sức tham gia xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc,
đấu tranh thống nhất nước nhà 
và giữ gìn hòa bình thế giới”. (https://tuoitre.hcmute.edu.vn)

Cho nên, giai cấp công nhân ở các nước thuộc địa muốn giải phóng được mình thì trước hết phải giải phóng dân tộc, vì ngày nào nước anh còn chưa có quyền độc lập thì ngày ấy các anh cũng chưa thể có tự do.

Phát hiện của Lênin quá mới mẻ đối với rất đông người. Nhiều người chỉ nhấn mạnh yếu tố giai cấp mà coi nhẹ yếu tố dân tộc trong cuộc đấu tranh cách mạng ở các nước thuộc địa.

Xuất thân từ một nước thuộc địa, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người trầm tĩnh nhất, sáng suốt nhất khi đặt vấn đề “dân tộc” lên trên hết. Trong bối cảnh lúc bấy giờ, thái độ của Hồ Chí Minh có khác gì “bẻ nạng chống trời”! Nhưng Người không hề nao núng, không hề dao động mà kiên định, tự tin vào sự hiểu biết của mình đến trọn đời, bất di bất dịch với khẩu hiệu nổi tiếng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”.

Lịch sử trớ trêu thay, để bảo vệ chân lý, không ít người phải mang hệ lụy, thậm chí phải đổi cả mạng sống của mình! Hồ Chí Minh là một người từng gánh chịu những hệ lụy như thế. Cho nên, không phải dễ “tồn tại” và chiến thắng vẻ vang như Chủ tịch Hồ Chí Minh đâu! Vì vậy, khi nghiên cứu lịch sử, chúng ta nên thận trọng. Phải biết chắt chiu, trân quý từng chi tiết của lịch sử. Không được hời hợt qua loa khi đánh giá, nhận định một sự kiện, một báo hiệu của cái mới. Thời gian đi qua, lịch sử không phải lúc nào cũng như nhau, mà có lúc dồn dập, quyết liệt chứ không phẳng lặng êm đềm. Để cho những khoảnh khắc lóe sáng của lịch sử trôi qua như nước qua cầu là phí phạm, là thiếu trách nhiệm. Thử hỏi, nếu không phải là Hồ Chí Minh, ở đầu thế kỷ XX, thì ai là người kiên quyết và gan góc đứng về phía Lênin và trung thành với tư tưởng của Lênin, dốc lòng chăm lo cho sự nghiệp giải phóng dân tộc để làm nền tảng cho sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân? Vấn đề không phải là chuyện “chữ nghĩa”; vấn đề là ở nội dung cốt lõi của nó. Vậy tại sao lại gọi đó là “dân tộc hẹp hòi”? Các nghĩa vụ lớn nhất về dân tộc, giai cấp, quốc tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người chín chắn nhất, thủy chung nhất, bất chấp mọi thành kiến, đố kỵ, Chủ tịch Hồ Chí Minh mãi mãi là người nắm vững ngọn cờ tư tưởng của Lênin về cách mạng ở một nước thuộc địa. Khi mà dân tộc còn bị nô lệ thì lấy gì làm cơ sở để giải phóng giai cấp công nhân, và cả nông dân cùng những người lao động khác.

Ta còn nhớ, năm 1950, chính Stalin còn hỏi Mao Trạch Đông rằng: “Liệu Hồ Chí Minh có phải là một Ti tô phương Đông không đấy?”. Câu hỏi đó hàm chứa rất nhiều điều và giúp chúng ta khám phá rất nhiều điều, để càng kính phục Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Thử hỏi, đến năm 1950 mà Stalin còn lấn cấn câu hỏi: “Hồ Chí Minh là ai?”. Huống gì hơn 20 năm trước đó, khi Hồ Chí Minh dám kết hợp một cách sáng tạo và nhuần nhuyễn hai nội dung giải phóng đất nước và giải phóng giai cấp, thì “sự khó chịu” của Stalin đối với Hồ Chí Minh còn mờ mịt đến cỡ nào!

Đừng để lịch sử chết đi trong im lặng. Phải xốc lịch sử dậy, mời lịch sử lên tiếng một cách công tâm nhất, để hậu thế rút ra được những bài học bổ ích, tránh lặp đi lặp lại những sai lầm theo vết xe cũ kỹ.

Một sự kiện có vẻ âm thầm, không ồn ào, nhưng giá trị lịch sử của nó thật là to lớn và hiếm có. Đó là sự đóng góp vô giá của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào kho tàng lý luận kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin bằng óc sáng tạo độc đáo của mình.

Đứng trước mọi vấn đề, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều xem xét một cách thấu đáo và đưa ra sự chọn lựa quyết định cho cách ứng xử của mình. Người không bao giờ làm việc theo cảm tính, chủ quan, mà luôn luôn coi trọng thực tiễn, bám sát thực tiễn để đề ra chủ trương, đường lối, chính sách cho phù hợp. Tác phong làm việc đó đã trở thành đặc tính của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

“Luôn luôn sáng tạo”. Đó là cách suy nghĩ của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cách suy nghĩ ấy là phẩm chất cao quý của một vị lãnh tụ. Nhờ vậy, trước mỗi thử thách lớn, trước mỗi nguy cơ của Tổ quốc, Người đều có cách vượt qua thật tài tình. Xin có vài thí dụ:

Tiến hành cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945 lịch sử. Nhờ biết đặt quyền lợi quốc gia, dân tộc lên trên hết mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng của Người đã tập họp được mọi tầng lớp nhân dân trong cả nước thành một khối thống nhất xung quanh Đảng để cướp chính quyền từ tay bọn phát xít, thực dân về cho nhân dân. Chẳng những thế, sau khi giành được chính quyền, để mở rộng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, Đảng còn tự nguyện tuyên bố tự giải tán, trở thành “Hội Nghiên cứu chủ nghĩa Mác” mà thôi. Chủ trương sáng suốt, linh hoạt, thức thời của Chủ tịch Hồ Chí Minh chẳng những không làm cho Đảng yếu đi mà còn làm cho Đảng trở nên thân thiết hơn với quần chúng, làm cho nhân dân càng tin tưởng: đây là tổ chức lãnh đạo trung thành nhất của đất nước, là linh hồn của cuộc cách mạng chân chính ở Việt Nam.

Với khí thế đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng của Người tiếp tục lãnh đạo nhân dân tiến hành thắng lợi hai cuộc kháng chiến vẻ vang nhất ở thế kỷ XX là đánh thắng đế quốc Pháp và đế quốc Mỹ – những đế quốc hàng đầu thế giới lúc bấy giờ, hoàn thành nhiệm vụ dân tộc, dân chủ và đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Như thế thì cách đặt vấn đề và phương pháp tiến hành cách mạng ở một nước thuộc địa như nước ta của Hồ Chí Minh hóa ra lại là vô cùng sáng tạo mà nhiều người có quyền lực nhất lúc ấy cũng không thể nghĩ ra. Sáng tạo ấy là sự đóng góp vô giá cho kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, đặc biệt là cho các nước thuộc địa. Nó góp phần quý báu phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tiếp thêm sức sống mới cho chủ nghĩa Mác – Lênin, làm cho lý luận Mác – Lênin bắt kịp sự phát triển mới mẻ của thực tiễn, không để chủ nghĩa Mác – Lênin bất lực, trở thành một thứ giáo điều.

Cống hiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh to lớn biết bao nhiêu!

Hoàng Xuân Huy
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 536

Ý Kiến bạn đọc