Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Hình tượng tác giả – Một thành tố cấu thành thi pháp học?

Thì đó là câu hỏi được trả lời bằng sự khẳng định của ông Trần Đình Sử trong cái mô hình thi pháp học coi như sự sáng tạo đầy tự hào của ông (1). Và cái mô hình ấy cũng được nhiều học trò thành danh và các fan hâm mộ ông ca ngợi vô tư (với chữ “tư” nghĩa là “suy nghĩ”). Nhưng có thể khẳng định như thế được không? Rất nên xem lại.

Lược lại một chút luận điểm của ông Trần. Trong “Giáo trình Dẫn luận Thi pháp học” ông dành một chương lấy tên là “Tác giả, kiểu tác giả”. Ông viết:

“Hình tượng tác giả, kiểu tác giả là những phạm trù thi pháp học vì tác giả là trung tâm tổ chức nội dung hình thức, mang cảm quan thế giới đặc thù, trung tâm tổ chức lại ngôn từ theo nguyên tắc nghệ thuật.

Ông cũng dẫn ra những lời của các đại gia nổi tiếng thế giới “Tác giả biểu hiện chính mình” (Goethe), “Hình tượng tác giả là trung tâm của phong cách ngôn ngữ” (Vinogradov). Ông phân biệt hình tượng tác giả với nhân vật người kể chuyện, phân biệt tác giả tiểu sử (người “thật”) với hình tượng tác giả (với sự biểu hiện mình như người phát hiện, khám phá, tiến bộ trong tác phẩm). Ông còn chỉ ra cho người học biết những biểu hiện chủ yếu của hình tượng tác giả là cái nhìn, giọng điệu, sự thể hiện tác giả thành hình tượng. Cuối cùng, ông điểm qua các kiểu tác giả từ thần thoại, trường ca, đến văn học thời trung đại và cận, hiện đại.

Có thể nghĩ gì về tác giả và vai trò tác giả trong sự sáng tạo tác phẩm văn chương? Ai cũng thấy đó là người “sáng tạo” toàn bộ tác phẩm. Người ta có nói đến vai trò “đồng sáng tạo” của người đọc nhưng không thể đánh đồng hai chữ “sáng tạo” trong cách nói ấy. Và về lý luận, không ai lại không thấy tầm quan trọng của “tác giả”. Theo nguyên lý giao tiếp thì người đọc cũng luôn chú ý đến tác giả, người giao tiếp với mình. Nhưng là giao tiếp gián tiếp, người đọc chỉ có thể cảm nhận, hình dung ra tác giả qua sự sáng tạo tác phẩm của người đó. Điều đó hoàn toàn có thể làm được. Vì đọc tác phẩm, ta hoàn toàn có thể hiểu và đánh giá được tài năng tác giả qua những gì thể hiện ở tác phẩm. Đó là những quan sát tinh tế, những hiểu biết về cuộc đời, về lòng người, tài năng tổ chức cốt truyện hoặc dựng hình tượng nhân vật trữ tình với những cảm xúc tinh tế của người đó, với tài năng sử dụng ngôn ngữ tài tình và đặc biệt ta hiểu thái độ, tình cảm của người đó và cả những rung động sâu xa khi người đó khai thác và truyền đạt những thông điệp giàu tính nhân văn. “Văn là người” là một tổng kết xưa nay người ta vẫn thừa nhận (2).

Tuy nhiên, sự hình dung theo nguyên lý “văn là người” một cách gián tiếp, mang tính suy diễn chủ quan như thế, bạn đọc chỉ có thể hình dung ra “bộ mặt tinh thần” của tác giả một cách “tương đối”. Sự hình dung ấy rất dễ phiến diện. Và bi kịch kiểu nàng Mị nương hình dung chàng Trương Chi thường tái diễn trong cuộc đời thực! Mà cũng không phải chỉ là sự vỡ mộng vì sự không đẹp ở ngoại hình!

Nhưng đấy là nói hình ảnh – hay hình tượng – tác giả được người đọc “hình dung” khi đọc tác phẩm. Đó không phải là thứ “hình tượng” xuất hiện tường minh, hiển ngôn bằng các chi tiết và ngôn ngữ như hình tượng các nhân vật kể cả nhân vật “người kể chuyện” trong tác phẩm tự sự hay “nhân vật trữ tình” trong tác phẩm trữ tình.

Cái gọi là “hình tượng tác giả” ở tác phẩm không “hiện diện” ở tác phẩm như ông Trần nói! Trừ ở một số tác phẩm sáng tác theo lối thù tạc giao lưu trực tiếp hoặc theo sự thừa nhận của chính tác giả như ở sáng tác của các nhà thơ trung đại ở ta. Tác giả của các tác phẩm trữ tình và tự sự không tham gia vào hình tượng tác phẩm (bức tranh cuộc sống) chính họ tái hiện… Và như vậy cái gọi là “hình tượng tác giả” trong tác phẩm là thứ không “có thật” tuy tác giả thì có thật!

Ông Trần nhắc người học phân biệt hình tượng tác giả và hình tượng “người kể chuyện” là đúng. Hình tượng “người kể chuyện” trong tác phẩm đúng là cái có thật qua lời kể, cách kể, qua thái độ bộc lộ có khi trực tiếp, qua lời bình ngầm ẩn hay hiển ngôn ở chỗ này, chỗ kia. Người kể chuyện có thể là người đứng ngoài bức tranh cuộc sống – một thứ người “biết tất” mọi điều trong câu chuyện để kể lại, để bình luận. Đó là trường hợp người kể chuyện ở Truyện Kiều, cái người mà ta có thể nghĩ chính là tác giả (nhưng nghĩ vậy cũng không thật đúng!) (3). Người kể chuyện có thể là một nhân vật trong câu chuyện, là một người được tác giả giao cho thực hiện các chức năng như người kể chuyện ngoài cốt truyện ở trên nhưng có những “giới hạn” trong hiểu biết về câu chuyện. Tuy vậy, tất cả các yếu tố “điểm nhìn”, “giọng điệu” kể cả các lời bình luận hiển ngôn hay ngầm ẩn, tác giả đều có thể dùng kỹ thuật, nghệ thuật để thể hiện thông qua nhân vật này. Có thể dẫn ra các nhân vật kể chuyện trong Chí Phèo, Lão Hạc của Nam Cao.

Chính vì sự “có thật” của người kể chuyện mà ta có thể dùng những gì ông Trần đã gán cho “hình tượng tác giả” để nói về vai trò của nó. Và vì sự lộ diện cũng như bộc lộ công khai các thứ như điểm nhìn, giọng điệu… nó mới có thể được coi là thành tố cần xem xét của Thi pháp học với cái nghĩa là khoa học nghiên cứu về những “phương thức cấu tạo tác phẩm” như Tomashevski nói. Bởi vì nó chính là một yếu tố hình thức phải chọn lựa để tác giả có thể bộc lộ những điều giúp người đọc nhận ra những lời “bình luận ngầm ẩn” của mình khi gửi thông điệp tới bạn đọc. Và khi đã chọn hình thức nào đó, tác giả phải tuân theo những qui tắc sử dụng nó (4).

Đến đây thì cũng phải mạn phép nói đôi lời về sự phân biệt “hình tượng tác giả” và “hình tượng người kể chuyện”. Trong chương viết về “tác giả, các kiểu tác giả”, ông Trần có nói về việc “tác giả tự hình dung hình tượng của mình trong tác phẩm”, với hai cái dẫn chứng tác giả Thế Lữ và Xuân Diệu xưng “tôi”:
- Tôi là kẻ bộ hành phiêu lãng
Đường trần gian xuôi ngược
để vui chơi
(Cây đàn muôn điệu – Thế Lữ)

- Tôi là con chim đến từ núi lạ
Ngứa cổ hót chơi
(Lời thơ vào tập
Gửi hương – Xuân Diệu)

Ở đây ta thấy ông Trần đã đồng nhất hai thứ “nhân vật trữ tình” và “tác giả bài thơ” (5). Sự thật đại từ “tôi” ở đây không phải là từ nhà thơ tự xưng. Đó là lời của các nhân vật trữ tình “thi sĩ” theo ước lệ của thơ trữ tình (với những phẩm chất và hoạt động theo quan niệm của tác giả). Cũng như trường hợp Tố Hữu xưng “tôi” trong bài thơ “Người con gái Việt Nam” vậy thôi. Cái nhầm như thế ở người cả đời nghiên cứu lý luận văn học, đặc biệt là được tôn vinh là chuyên gia số một về Thi pháp học thì thực sự hơi khó giải thích!

Lê Xuân Mậu

____________

1. Xin trích lời ông Trần Đình Sử trong “Toàn cảnh thi pháp học”: “Mô hình của chúng tôi bao gồm: quan niệm nghệ thuật về con người, không gian, thời gian nghệ thuật, hình tượng tác giả, tình tiết, kết cấu, trần thuật, ngôn ngữ thể hiện. (…) Nhưng một mô hình như thế không hề có sẵn trong sách nào ở Liên Xô, ngay cả trong sách thi pháp của Bakhtin”.
2. Tuy nhiên, điều đó chỉ đúng khi người đọc kết hợp được nhiều tư liệu cần thiết và có độ “tinh tế” trong đánh giá. Cũng có nhiều người không “tường nhân sự” dễ đánh giá lầm khi chỉ căn cứ vào một vài bài thơ có giọng công thức, khí phách bề ngoài nào đó. Như trường hợp người ta căn cứ vào một bài thơ đề đền Nguyễn Hiền của Từ Đạm mà cho rằng bài thơ “gửi gắm tâm trạng của con người có tấm lòng đa ưu” (trong đó có cái “ưu tư” “diệt trừ dị chủng” (xem “Chuyện phiếm lúc trà dư” của Lê Dân, NXB Hội Nhà văn và Thái Hà book in 2011).
3. Vì những ràng buộc bởi nhiều yếu tố, Nguyễn Du đâu có thể không đưa vào những bình luận phù hợp tư tưởng chính thống!
4. Chúng tôi nghĩ nói đến thi pháp nên nói đến những đặc thù của thể loại về nội dung và hình thức, những cái chi phối “phương thức cấu tạo tác phẩm” như Tomashevski nói. Như sáng tác một cái truyện chẳng hạn. Khi đã có một cái “ý tưởng”, một cái “thông điệp” muốn biểu đạt ra (tức là có cái “Nội dung”), nhà văn phải chọn một Hình thức (truyện ngắn) để thực hiện. Tiếp đó người ta xây dựng một cốt truyện coi như là cái “hình thức của nội dung” gói lại các ý tưởng, các chất liệu của truyện. Và tìm cái hình thức thể hiện truyện như chọn người kể, cách kết cấu, các hình thức ngôn từ…
5. Ngay trong cuốn “Từ điển thuật ngữ văn học” mà ông là đồng chủ biên, cũng thấy định nghĩa nhân vật trữ tình là “Hình tượng nhà thơ trong thơ trữ tình, phương thức bộc lộ ý thức tác giả”. Lại còn có câu nói thêm: “Có khi người ta còn đi tìm các sự thật trong đời tác giả coi là nguyên mẫu!”.

Ý Kiến bạn đọc