Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Hiểu biết về thực tiễn sáng tác ở người làm lý luận văn chương

Có dịp đọc Hồi ký của nhà giáo, nhà nghiên cứu lý luận văn học Đặng Thai Mai, tôi bắt gặp một câu:

“Mấy năm học với cụ Milon, tôi đã học tập được nhiều. Học cách đọc một văn bản văn học, cách nghiên cứu về cấu trúc và tinh thần một kiệt tác. Tôi đã hiểu được ý nghĩa chân thực của các bản tuyên ngôn văn học dưới ánh sáng những tác phẩm cụ thể”.

Chính là cái câu tôi in đậm trên đây. Nó làm tôi giật mình! Thì ra để hiểu được “ý nghĩa chân thực” của một “tuyên ngôn văn học” (tôi hiểu là “lý luận văn học”), người ta phải có được hiểu biết về các văn bản (tác phẩm) văn học cụ thể! Bởi vì Lý luận văn học chỉ là sự đúc kết kinh nghiệm thực tế thành công và thất bại trong sáng tác. Vì vậy người làm công tác lý luận văn học không thể không có những hiểu biết cần thiết về thực tiễn sáng tác liên quan. Nhiều người chúng ta vì điều kiện bận rộn công việc chuyên môn hoặc không có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với tác phẩm… rất dễ đi theo “lối tắt”! Ta cứ đọc những bài phê bình lý luận để nắm được các lý thuyết như ăn một thức ăn nhanh mà có người gọi là “thế bản”. Kiến thức về tác phẩm có được cũng chỉ là những bản tóm lược hoặc những chi tiết người phê bình lẩy ra trong lời phê, lời bình của ai đó! Tất nhiên với những người ít thông thạo, cái kiến thức của ta đôi khi trổ ra cũng có thể làm người ta… thán phục! Nhất là khi ta nhớ được lời đại gia này, đại gia khác để dẫn ra! Và ta bày ra la liệt nhiều thứ mặt hàng dư thừa độ phong phú!

Cũng tưởng đó chỉ là cái tật của mấy anh nghiệp dư hoặc làm ăn quanh quẩn ở trường làng, trường tỉnh. Hóa ra cũng không hẳn thế. Chừng chục năm trước chẳng đã có một ông ở trường cấp quốc gia hạng sang cũng được học ở Tây lại có thú ngắm chữ Tàu đã tung ra cả vạn chữ tràng giang khắp các báo các tạp chí có danh những phát hiện thiên tài về những suy diễn ở nhiều hình chữ Hán mang tầm triết luận gọi là “tưởng tượng xã hội” cùng với những phát hiện sao chép dở dang để suy diễn về các đặc điểm văn chương chữ Hán khác chữ quốc ngữ đó sao! Nhưng ngôi sao băng đó may là đã vụt tắt không để lại một chút bụi thiên thạch nào!

Nhưng cùng những ngôi sao vụt sáng vụt tắt đó lại có những ngôi sao mà ánh sáng có thể chói mắt nhiều người khi ngài được coi là ngọn cờ đầu, là điểm tựa tư tưởng học thuật cho khá đông những người cũng bắt đầu có danh vọng. Nhưng xem ra cái tật làm lý luận thiếu hiểu biết thực tiễn sáng tác cũng không kém nặng căn. Tôi muốn nói đến ông GS.TS.NGND Trần Đình Sử khi ông phán bảo nhiều điều về thi pháp học là món được coi là món “tủ” của ông. Chúng tôi đã có loạt bài về cái Giáo trình Dẫn luận Thi pháp học của nhà nghiên cứu này (1). Nhưng để thấy cái sự thiếu hụt về kiến thức thực tiễn sáng tác ở các tác phẩm viết theo thể loại mà Thi pháp thực sự phải đi sâu, xin được cung cấp thêm một dẫn chứng. Đó là những điều ông viết về thể loại Kịch, một trong ba phương thức biểu đạt theo thể loại trong văn học(2).

Trước hết, hãy nhặt ra những điều nhà lý luận này nói về thể loại Kịch. Ngay ở cái chương II trong Giáo trình Dẫn luận Thi pháp học (viết tắt là “Dẫn luận”), in lại trong “Tuyển tập Trần Đình Sử, tập 2”), ông có nói đến sự phân biệt Hình thức bên trong, mang tính quan niệm và Hình thức bên ngoài (một sự đề xuất mang tính sáng tạo có giá trị rất lớn mà những người như ông Đỗ Lai Thúy, Đặng Lưu hết sức đề cao). Ở đó ông có đưa ra cái thí dụ về Kịch: “Kết cấu bề ngoài của kịch là đối thoại, chia hồi cho hành động, còn kết thúc bi kịch hay hài kịch là hình thức bên trong, hình thức kiến tạo”. Đến chương VII của Dẫn luận nói về Tính quan niệm và cấu trúc thể loại, ông dành một đoạn khá dài nói Về bi kịch xưa nay. Đoạn đó xin lược lại như sau:

Bi kịch thể hiện các xung đột không lối thoát trong đời sống và kết thúc bằng cái chết và hy sinh của nhân vật chính. Xưa nay thể loại bi kịch biến động do mô hình và tính quan niệm ở bên trong.

Bi kịch cổ đại: xung đột giữa con người và Thần. Bi kịch Shakespeare là xung đột nhân tính và lịch sử. Bi kịch tư sản là bi kịch tư nhân ở thế kỷ XVIII (giữa thị dân và tầng lớp phong kiến). Bi kịch hiện đại là bi kịch xã hội, tâm thần, bản thể (vở Chờ đợi Godot là bi kịch của ngôn ngữ giao tiếp (3).)

Cuối cùng ở chương X của Dẫn luận, nói về Ngôn từ nghệ thuật, ta có thể nhặt ra được một câu: “Đối thoại rời rạc thể hiện trạng thái nhân sinh. Kịch Chim Hải Âu mỗi người theo đuổi một ý nghĩ riêng thể hiện trạng thái cô đơn của họ.

Người đọc, người học hiểu được những gì về các kiến thức Thi pháp học về thể loại Kịch này? Xin lỗi, phải nói thật rằng khó nói được đó là những hiểu biết cần có khi muốn tìm hiểu cách sáng tạo một vở kịch đúng với thể loại đó theo tinh thần thi pháp học. Bởi khó nói được đâu là những cái chi phối “phương thức cấu tạo tác phẩm” như Tomashevski nói về thi pháp học! Là một người đọc tác phẩm nghị luận, lý luận, chúng tôi tán thành nguyên tắc mà Mortimer J. Adler (4) đưa ra khi đọc sách với 4 câu hỏi sau:

+ Tổng quan cuốn sách nói về điều gì?

+ Những gì được đề cập chi tiết và đề cập như thế nào?

+ Cuốn sách có đúng? Một phần? Toàn bộ?

+ Ý nghĩa cuốn sách? (Thông tin gì? Tại sao thông tin? Ta có cần biết? Có cần đào sâu?)

Xin đi vào từng câu hỏi.

CÂU HỎI 1: Cuốn sách giảng giải về kiến thức cơ bản của lý thuyết Thi pháp học. Đã nói về Thi pháp học là nói về “một ngành khoa học nghiên cứu các hình thức, các dạng thức, các phương tiện, phương thức tổ chức tác phẩm sáng tác ngôn từ, các kiến thức cấu trúc, các thể loại” (Vinôgrađốp). Nghĩa là phải nói đến thể loại trong đó có kịch. Mà phải nói đến nó với tư cách hình thức điển hình của toàn bộ tác phẩm, của toàn bộ sự biểu hiện nghệ thuật” như lời M. Bakhtin do chính ông Trần dẫn ra. Nghĩa là phải giúp người học hiểu được cách sáng tạo và thưởng thức một vở kịch chẳng hạn.

CÂU HỎI 2: Rất tiếc phải trả lời rằng về cơ bản, tác giả không đề cập được những điều cụ thể như yêu cầu trên (5). Có cảm tưởng rằng, tác giả chỉ có thể đưa ra những điều mấy đại gia lý luận nói mà tác giả có thể trích dẫn ra. Tác giả không xuất phát từ nhiệm vụ người giảng dạy để trả lời các câu hỏi cần trả lời với lý do tác giả không có được những câu trích dẫn của ông nào về chuyện đó! Cái sự thiếu hụt những hiểu biết về các tác phẩm kịch cần đọc, và cả sự không biết tìm đến các lý luận chuyên ngành sáng tác kịch để có được những điều có thể qui nạp về thi pháp lộ ra khá rõ (6). Vì vậy ta thấy tác giả rất lơ mơ về các tiểu loại kịch (như bi kịch, hài kịch mà tác giả tưởng rằng đó là “hình thức bên trong”!), nói lung tung về những thứ “nội dung mâu thuẫn”, “xung đột” ở các vở bi kịch ở các thời kỳ lịch sử khác nhau. Trong khi “xung đột kịch” chỉ là sự phản ánh những mâu thuẫn có thật trong cuộc sống từng thời đại theo nhận thức của các tác giả và khả năng biểu hiện ra trong cái “hình thức của nội dung” là cái cốt truyện kịch và đương nhiên sự triển khai nó trong một chỉnh thể vở kịch. Cũng như vậy, tác giả cũng không nêu ra được những đặc điểm ngôn từ đối thoại, độc thoại trong việc biểu hiện nội dung vở kịch như đặc tả tính cách nhân vật, biểu hiện cuộc đấu tranh lúc ngầm ẩn lúc công khai, lúc khôn khéo, lúc quyết liệt bằng ngôn từ (và hành động) giữa các nhân vật…

CÂU HỎI 3: Từ việc trả lời câu hỏi 2, chúng tôi thấy không cần trả lời tường minh câu hỏi này. Xin bạn đọc tự đánh giá.

CÂU HỎI 4: Cuốn sách đã được nhiều người coi là “mở đầu” cho việc đưa Thi pháp học vào Việt Nam. Chúng tôi đã có những nhận xét đánh giá ý nghĩa ấy của riêng mình ở các bài đã viết và đã dẫn ra. Riêng về ý nghĩa của phần này nói về thể loại Kịch, ý chúng tôi cũng đã rõ. Xin miễn cho việc nhắc lại, dù M. J. Adler coi việc trả lời câu thứ tư này là quan trọng!

Trong nhiệm vụ chứng minh cái luận đề nêu ra trong bài, tôi đã nêu ra những điều cần thiết. Phần đánh giá bài viết này thế nào, tùy bạn.

Lê Xuân Mậu
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 390

————————-

(1) Xem Văn Nghệ TP.Hồ Chí Minh, các số 373, 375, 376, 378, 379 – trong hai tháng 10 – 11/2015.
(2) Xin gác ra cái chuyện ông Trần dẫn ông Pospelốp ra để nói về 4 cái thể loại dựa vào nội dung như sử thi, đạo đức… Trong khi ông luôn nói đến cái đối tượng của Thi pháp học là “Hình thức”.
(3) Ở đây, Beckett muốn gửi đến khán giả một thông điệp mang tính hư cấu, tượng trưng cho hình ảnh xã hội hiện đại hoang tàn hay sự cô độc và ý thức đang bị già cỗi của con người hiện đại. Tuy nhiên, thông điệp đó lại được thể hiện hết sức thú vị qua những tình tiết hài hóa bi kịch. (Lời thuật các trao đổi về vở kịch này của An Nguyên, đưa lên mạng).
(4) Xem cuốn “Đọc sách như một nghệ thuật” (bản dịch của How to read a book) – Nhà sách Alpha in năm 2008.
(5) Thực ra, đọc các bài viết (nhất là những bài mang tính trình bày, giảng giải một vấn đề) cần phải xem xét cả những gì “không đề cập”. Nếu đó là thứ kiến thức cơ bản mà không đề cập thì đâu có đem lại cho người đọc những hiểu biết đúng đắn. Trong nhà trường phổ thông cách nay dăm chục năm, có yêu cầu giảng dạy kiến thức cơ bản, tinh giản, vững chắc.
(6) Sách “Nghệ thuật viết kịch” của tác giả Hồ Ngọc, xuất bản 1973, là một tài liệu có thể tham khảo như vậy.

Ý Kiến bạn đọc