Tản văn

Heo xông bếp

Để đảm bảo bí mật và an toàn, sau Tết Mậu Thân 1968, Ban kỹ thuật, thuộc Bộ Tư lệnh Thông tin Miền (B2), được lệnh chuyển từ suối Ngô lên Gò Dầu (Tây Ninh), gần biên giới Campuchia. Ban kỹ thuật, toàn bộ cả cán bộ và chiến sĩ có khoảng 30 người. Sau hơn 2 tháng cật lực đào hầm, cất nhà, dựng lán, bếp ăn, chúng tôi đã có nơi làm việc mới khá rộng rãi và bí mật. Xin nói thêm, “nhà, lán, bếp” ở chiến trường được dựng kiểu nửa chìm nửa nổi, mái lợp bằng lá trung quân (loại lá rừng, lửa đốt chỉ ngún chứ không cháy). Từ nhà nầy sang nhà khác, hoặc từ nhà xuống bếp ăn được nối kết với nhau bằng hào giao thông khép kín…

Thời gian này, địch tăng cường càn quét, đánh phá, phong tỏa… khắp các chiến trường, nhất là chiến trường Đông Nam bộ, gây cho ta rất nhiều khó khăn trong việc vận chuyển cung cấp vũ khí, lương thực thực phẩm… Do vậy, đơn vị nào có điều kiện, phải quán triệt tinh thần: tự cung tự cấp, vừa đánh giặc vừa sản xuất, tăng gia. Do đặc thù công việc và địa điểm đóng quân của Ban kỹ thuật tương đối ổn định, bởi vậy Trưởng ban Nguyễn Vinh (Hai Vinh) phát động đơn vị trồng rau, chăn nuôi… Nhờ đó, bếp ăn của Ban thường xuyên có rau xanh, heo, gà… để cải thiện. Không quá bị động trông chờ vào sự phân phối của cấp trên.

Xuan-2019--Anh-minh-hoa---Heo-xong-bep---Anh-1

Những ngày tháng ấy, bếp ăn chúng tôi thường nuôi ba, bốn con heo mọi, nuôi thả rông. Gà nuôi cả đàn, đêm chúng ngủ trên cây quanh bếp. Ở chiến trường, đây là hai loại thực phẩm được chúng tôi ví như “cao lương mỹ vị”. Và, cũng chỉ vào những ngày lễ, Tết hay tổng kết, mừng công… chúng tôi mới được mần thịt để cải thiện bữa ăn.

Giống heo mọi nhỏ con, lông đen và dày. Chúng thường vô rừng ủi đất kiếm củ rừng, trùng đất hoặc rễ cây để ăn thêm. Heo mọi dễ nuôi, ăn tạp nhưng chậm lớn. Ban ngày chúng kéo nhau vô rừng kiếm ăn và “giỡn nhởn”. Khi nào thấy đói bụng, chúng lại kéo về bếp, tranh nhau sục mõm vô máng mà anh nuôi đã đổ sẵn thức ăn trong đó.

Heo mọi sống tự do, tập tính gần giống heo rừng. Tôi còn nhớ, mỗi khi có tiếng bom gầm đạn nổ, dù đang ở đâu chúng cũng hộc tốc chạy về bếp ăn, núp dưới giao thông hào. Thế mới hay, chiến tranh làm cho con vật cũng biết sợ hãi và tránh né hòn tên mũi đạn. Heo mọi sống khá “tình cảm”, thấy người là chúng quẩn lấy chân, ủn à ủn ỉn… đòi ăn, “đòi giỡn”.

Thời gian thấm thoát trôi mau. Quay đi quay lại Tết Kỷ Dậu (1969) đã đến. Để mừng xuân đón Tết, anh Trần Văn Bôi (Tư Bôi), phụ trách hậu cần Ban bảo Huỳnh Lập (Sáu Lập), tổ trưởng bếp ăn: “Tết nầy, ngoài tiêu chuẩn thực phẩm trên cấp, cậu cho mần thịt thêm con heo nái mập nhé”. Sáu Lập ngần ngừ, nói: “Con nái mập bụng bự chảng, hình như nó có bầu anh ạ. Mần thịt, tội chết…”. Tư Bôi khoát tay, bảo: “Cậu có trông gà hóa cuốc không đấy. Bầu với bí gì! Ở rừng làm chi có heo nọc mà nó có bầu? Theo kế hoạch, 28 Tết cậu cho anh em mần thịt con đó nghe!”. 

Sáng 28, Sáu Lập kêu bầy heo về cho ăn, nhân thể bắt con nái mập mần thịt. Kêu hoài chỉ thấy 3 con choai choai về ăn, còn con nái mập không thấy đâu. Phát hoảng, Sáu Lập kêu mấy anh em đi kiếm dùm. Kiếm đến 8, 9 giờ sáng cũng chẳng thấy con nái mập đâu cả. Sáu Lập thất vọng lắc đầu, về báo với Tư Bôi: “Con nái mập tự dưng mất tăm mất tích, Tết nầy không có heo mần thịt, anh tính sao?”. Tư Bôi nhìn Sáu Lập cười cười, bảo: “Cậu có “mách” cho nó “trốn” không đấy? Thôi, không mần heo thì mần gà cho anh em đón Tết. Chẳng lẽ…”.
Về phòng, Sáu Lập buồn rười rượi, anh nghĩ: Con nái mập bụng bự, hai hàng vú chùng xệ, “gié” sưng mọng, chắc sắp tới ngày sanh hạ chứ chẳng chơi! Nhưng kỳ lạ, nó đi đâu chớ? Nó sanh, sao không ở “nhà” mà sanh? Hay hổ, báo bắt nó rồi? Do quản lý “quân” không chặt, mất nó, mình có phần trách nhiệm chứ chẳng chơi!

Đêm 30, đón giao thừa xong, anh em đi ngủ cả. Vừa nhớ nhà, vừa nghĩ chuyện con nái mập biến mất, Sáu Lập không sao ngủ được. 4 giờ sáng, Sáu Lập thức dậy cùng cậu nuôi quân, nổi lửa chuẩn bị bữa sáng mồng 1 Tết cho anh em. Trời dần hừng sáng. Lửa hồng reo tí tách. Tự dưng Sáu Lập thấy bồn chồn, bước tới bước lui như ngóng chờ ai đó. Bỗng Sáu Lập đứng ngây như trời trồng, rồi hỏi cậu nuôi quân: “Cậu có nghe thấy gì không? Hình như có tiếng heo con…”. “Anh mơ à, em chẳng nghe gì cả”. Như có linh tính mách bảo, trong vô thức, Sáu Lập bước ra phía sau bếp đi một đoạn, anh vô cùng ngạc nhiên khi bắt gặp con heo nái mập đang dẫn bầy heo con lít nhít trở về. Sáu Lập sáp vô con nái mập, vỗ vỗ lưng nó, nựng: “Mày vô rừng sanh hả! Dẫn bầy con về “ăn Tết” hả! Chút nữa mày làm tao bị kỷ luật oan…”. Rồi không kiềm được cảm xúc, Sáu Lập nhảy cẫng lên chạy hết nhà nầy đến nhà khác, loan báo: “Dậy! Dậy anh em ơi! Mồng 1 Tết có bầy heo đến xông bếp nè!”. Mọi người chạy xuống bếp, ai nấy đều ngạc nhiên, thấy con nái mập đang nằm ưỡn bụng lên cho bầy con bú. Chúng tranh nhau vú, kêu choe chóe. Bỗng Tư Bôi phân vân, bảo: “Lạ thiệt! Heo nái, không thả nọc, mần răng có con được hỷ!”. Hai Vinh thủng thẳng: “Có gì mà lạ. Heo thả rông, hàng ngày chúng tự do vô rừng. Vô rừng, con nái mập có thể gặp heo rừng đực hoặc gặp heo nọc của nhà dân thả rông. Tới kỳ động dục, chúng sáp vô làm “chuyện ấy”. Kết quả, Ban ta không những không bị mất heo mà còn được cả một bầy heo về xông bếp. Tết nầy đơn vị ta sẽ gặp nhiều điều tốt lành, may mắn. Năm nay Ban sẽ có thịt heo ăn quanh năm…”.

Đầu xuân, cán bộ chiến sĩ nói cười vui vẻ. Tay bắt mặt mừng, chúc nhau những lời tốt đẹp nhất.

Phạm Văn Thúy
(Hội Nhà văn TP. Cần Thơ)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số Xuân 2019

Ý Kiến bạn đọc