Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Hào kiệt đất phương Nam

Nhà văn – Đại tá Minh Khoa trong suốt cuộc đời lao động nghệ thuật của mình, ông chỉ chuyên tâm và chuyên trị thể loại “truyện ký” những nhân vật anh hùng, hào kiệt của Nam bộ thành đồng. Ngay cả kịch bản sân khấu, loại hình văn học – nghệ thuật mà ông được tặng Giải thưởng Nhà nước, cũng được viết từ những nhân vật anh hùng, hào kiệt, những người con kiên trung của Tổ quốc .

Lúc viết báo và sau này làm công tác xuất bản, tôi có nhiều lần được gặp gỡ và trò chuyện với nhà văn Minh Khoa. Lần nào khi nhắc lại chuyện xưa, chuyện chống Pháp, chống Mỹ cứu nước, chuyện về những con người sống và chết vì Tổ quốc, nhà văn Minh Khoa như quên tuổi già, quên bệnh tật, trông ông khỏe hẳn ra. Nhà văn lão thành hào hứng kể về những ký ức đẹp của những người hào kiệt mà ông được trực tiếp gặp hoặc họ “sống” lại từ ký ức của đồng bào, đồng chí, đồng đội… và những con người từ cuộc đời trở thành nhân vật, bước vào trang văn, bước lên sân khấu, đã trở thành biểu tượng cao cả của lòng yêu nước. Ông nói: “Hình ảnh đẹp của những con người hy sinh vì Tổ quốc lưu giữ mãi trong tâm trí tôi, tình cảm tôi và bước vào những trang sách của tôi. Nhân vật hàng đầu của tôi là những nhà hoạt động cách mạng kiệt xuất, là anh bộ đội Cụ Hồ và những người nuôi dưỡng họ”.

Bia-sach-Nhung-nguoi-hao-kiet

Từ câu chuyện về những hào kiệt

Bấy giờ là ngày tháng chống Mỹ hết sức nóng bỏng. Đúng lúc đó Đại tướng Nguyễn Chí Thanh vào chiến trường miền Nam truyền đạt chỉ thị quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ của Bác Hồ và Trung ương Đảng. Việc khẩn thiết hàng đầu là truyền đạt quyết tâm này đến tận người dân, đến tận người chiến sĩ cầm súng bảo vệ Tổ quốc. Đối với người lính, không có gì thuyết phục họ bằng chính tấm gương sống và chiến đấu. Đại tướng chỉ rõ phải kịp thời nhân rộng những điển hình tiêu biểu của những người ưu tú đang sống và chiến đấu vì sự sống còn của dân tộc, của đất nước. Và Đại hội Anh hùng dũng sĩ các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam lần 1 (tháng 5-1965) được tổ chức trước khi quân Mỹ đổ vào miền Nam.

Là một thành viên của Hội đồng tuyển chọn anh hùng dũng sĩ cho Đại hội Anh hùng dũng sĩ miền Nam, nhà văn Minh Khoa có điều kiện gặp gỡ, tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với hàng trăm con người ưu tú của Tổ quốc. Họ dâng hiến, xả thân vì sự nghiệp giải phóng đất nước nhưng rất ít nói về bản thân mình và càng không biết, không quen nói về thành tích. Có những báo cáo chỉ vỏn vẹn một trang giấy cho những cống hiến hết sức phi thường, lại có người không tự mình viết nổi một câu. Trước những con người ngày đêm âm thầm chiến đấu hy sinh, nhà văn Minh Khoa thấy mình sẽ có lỗi, thậm chí có lỗi với đồng bào, với lịch sử nếu không cùng những người cầm bút ghi lại thật trung thành câu chuyện về những người hào kiệt ấy. Và chỉ 3 tháng sau khi Bộ Tư lệnh Miền phát động đợt hưởng ứng viết về “Truyện anh hùng quân đội giải phóng miền Nam”, những quyển sách đầu tiên đã đến tay chiến sĩ khắp các chiến trường trở thành sách gối đầu nằm của họ.

Đến hình tượng nghệ thuật

Hơn 40 năm kể từ khi đặt bút viết kịch bản Người ven đô, nhà văn Minh Khoa vẫn còn giữ nỗi xúc động tinh khôi khi nhắc lại kỷ niệm. Cuộc gặp gỡ của ông với Tám Khỏe ngoài đời (sau này là nhân vật chính, ông Tám Khỏe của Người ven đô), rồi chị Sáu Hô, là “Việt cộng nằm vùng” ở Gò Vấp – Hóc Môn, nghe chị kể về ông Bảy Đờn, người dùng tiếng đàn kìm che giấu cán bộ, thà chịu địch móc mắt chớ không để cán bộ cách mạng rơi vào tay giặc… những người đã trở thành nhân vật trong truyện ký “Tiếng đờn kìm” rồi thành nhân vật sân khấu làm lay động lòng người về tinh thần bất khuất trước kẻ thù, dường như chỉ mới ngày hôm qua.

Để viết vở kịch Người không cô đơn, nhà văn Minh Khoa đã cất công đi tìm nữ Anh hùng Nguyễn Thị Hạnh (làng Mỹ Hạnh, Long An) suốt 13 năm trời. Ông còn nhớ rất rõ: “Tin Nguyễn Thị Hạnh hy sinh đến với tôi quá đột ngột… Căn bệnh vàng da quái ác đã làm Bảy Hạnh thân tàn ma dại. Hơn 3 năm ròng rã, Hạnh không dám uống thuốc chữa bệnh hòng che mắt địch, len lỏi hoạt động cách mạng trong ấp chiến lược. Nguyễn Thị Hạnh đã hy sinh cuộc đời và hạnh phúc riêng mình cho dân làng Mỹ Hạnh. Có một điều Hạnh chưa kịp làm. Đó là lời hứa với mẹ, với bà con: “Khi nào đất nước thanh bình, con sẽ uống thuốc cho khỏi bệnh”. Với vở Người không cô đơn, nhà văn Minh Khoa không chỉ nói về chiến công của Nguyễn Thị Hạnh, mà thông qua đó, chủ yếu là làm cho người người hiểu chúng ta từng có những đảng viên cộng sản như Nguyễn Thị Hạnh.

Anh-minh-hoa---Hoa-kiet-dat-phuong-Nam

Khác hơn Người ven đô và Người không cô đơn, khi viết Theo bước chân Võ Văn Tần nhà văn Minh Khoa không đi sâu miêu tả cuộc đấu tranh trực diện quyết liệt của nhân vật lịch sử với kẻ thù. Ông không chỉ chủ tâm xây dựng một chân dung của Võ Văn Tần. Người xem còn được gặp nhiều nhân vật khác. Đó là những con người hết lòng đi theo Đảng. Theo bước chân Võ Văn Tần, ý tưởng của tác giả được thể hiện rất rõ: với cách mạng, với sự nghiệp đấu tranh giành độc lập tự do cho dân tộc, người dân yêu nước nào cũng có thể là Võ Văn Tần, cũng có thể sống, chiến đấu như ông và chết cũng bất khuất như ông.

“Xứ sở này, đất nước này – nhà văn lão thành nói với tôi – những người cầm bút như tôi, như cô, làm sao đây, làm sao đủ sức, đủ tâm, đủ tài để viết về họ, về những con người sống và chết vì dân vì nước”. Ông còn muốn nói thêm điều gì đó nhưng rồi một cơn đau ùa đến. Ông cúi xuống xoa bóp cái đầu gối đau nhức, rồi cố gắng, nói tiếp: “Mà chúng ta đâu chỉ viết về họ, viết cho họ – những người hào kiệt của Tổ quốc. Cái chính, là chúng ta viết cho chúng ta, viết để tri ơn. Viết cho thế hệ hôm nay và cho con cháu mai sau”.

Và những hào kiệt cầm bút

Chân dung những con người hào kiệt của nhà văn – nhà viết kịch Minh Khoa, một phần được đưa lên sân khấu và được in rải rác ở nhiều quyển sách in chung với nhiều tác giả khác, và một vài quyển sách mỏng in riêng. Phần lớn chân dung của những người hào kiệt vẫn còn nằm trên những chồng bản thảo. Tuy nhiên, loại sách về truyền thống đấu tranh cách mạng thường khó phát hành nên tác giả không gởi bản thảo đến nhà xuất bản, để tránh: một là phải chờ đợi một thời gian dài, hoặc tệ hơn là bị từ chối. Sự chờ đợi hoặc là sự khước từ bản thảo chân dung những hào kiệt không chỉ là của đất phương Nam mà đó còn là những người kiệt xuất, những người con ưu tú của Tổ quốc, theo nhà văn Minh Khoa, không chỉ làm tác giả đau lòng, mà còn có điều gì đó như có lỗi với vong linh những hào kiệt. Với tâm niệm đó, nhà văn Minh Khoa bàn với vợ con và quyết định lấy số tiền mà gia đình dành dụm tiết kiệm được trong nhiều năm để in sách viết về những người hào kiệt. Giữa năm 2005, NHỮNG NGƯỜI HÀO KIỆT dày 819 trang in (NXB Văn nghệ TP.HCM) ra mắt bạn đọc. NHỮNG NGƯỜI HÀO KIỆT là quyển sách tập hợp những truyện ký sâu sắc, sinh động về cuộc sống và chiến đấu của hơn 60 anh hùng, dũng sĩ và những tấm gương kiên trung bất khuất trước kẻ thù xâm lược của người dân Sài Gòn – Chợ Lớn, người dân miền Nam trong khói lửa chiến tranh. Rồi sau đó, khi nhận được tiền thưởng của Giải thưởng Nhà nước về Văn học – nghệ thuật, ông dành trọn số tiền được thưởng in tập kịch HÀO KIỆT ĐÊM THẾ KỶ (NXB Văn nghệ TP.HCM), dày gần 800 trang (khổ lớn), là tập hợp 6 kịch bản văn học mà nhân vật chính, đó là: Hồ Huân Nghiệp, một tấm lòng vì đại nghĩa (ông thuộc thế hệ tham gia chiến đấu chống Pháp đầu tiên trên đất Gia Định xưa), Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng, Bí thư Xứ ủy Nam kỳ Võ Văn Tần, nữ Anh hùng Nguyễn Thị Hạnh…

Lần lượt, nhiều tác phẩm của NHỮNG NGƯỜI HÀO KIỆT cầm bút của đất phương Nam, những người (tuy quê quán từ nhiều miền đất nước) đã từng sống, chiến đấu, hy sinh hay qua đời tại vùng đất Sài Gòn – Gia Định trước kia, Thành phố Hồ Chí Minh hôm nay – những nhà văn, nhà thơ, soạn giả, nhạc sĩ, họa sĩ, đạo diễn… những người chiến sĩ bất khuất trên mặt trận văn hóa, mà tác phẩm và cuộc đời của họ đã góp phần to lớn cho sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước, đã được Đảng, Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang, truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng Nhà nước, và những giải thưởng văn học khác (giải thưởng Văn học Giải phóng, Giải thưởng Văn học Nguyễn Đình Chiểu…) được NXB Văn hóa – Văn nghệ và một số nhà xuất bản khác in thành sách. Đó là những quyển sách quý về tác giả – tác phẩm của nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, nhạc sĩ Hoàng Việt, soạn giả Trần Hữu Trang, nhà văn Nguyễn Thi, nhà thơ Nguyễn Bính, nhà thơ Lê Anh Xuân, nhà văn Lê Vĩnh Hòa, nhà thơ Trần Quang Long, nhà viết kịch Ngô Y Linh, nhà viết kịch Nguyễn Thanh Châu, nhà viết kịch Phạm Ngọc Truyền, nhạc sĩ Xuân Hồng, nhà thơ Bảo Định Giang, nhà thơ Viễn Phương, nhà thơ Nguyễn Hiểu Trường (Trần Bạch Đằng), nhà văn Nguyễn Trọng Oánh, nhà văn Anh Đức, nhà văn Nguyễn Quang Sáng, nhà văn – nhà viết kịch Ngọc Linh, nhà viết kịch Phi Hùng, nhà thơ Chim Trắng, nhà văn Võ Trần Nhã, nhà văn Thanh Giang, nhà văn Trần Thanh Giao… và, nhiều tác phẩm viết về những hào kiệt phương Nam trong cuộc chiến tranh vệ quốc của dân tộc, của nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà viết kịch thành danh từ cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và thế hệ nhà văn trưởng thành sau ngày miền Nam giải phóng, vẫn và đang là những cây bút chủ lực trên văn đàn Việt Nam.

Cũng như nhà văn, nhà viết kịch Minh Khoa, có lẽ điều mong muốn lớn nhất của “những hào kiệt cầm bút” là đứa con tinh thần của mình được đến với người đọc, người nghe, người xem – đó là những tác phẩm văn học-nghệ thuật được viết bằng cả cuộc đời hiến dâng cho sự nghiệp đấu tranh vì độc lập-tự do cho dân tộc. Những tác phẩm phản ánh cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của dân tộc mà những hào kiệt phương Nam đã đóng góp tinh thần, trí tuệ, tài năng và không ít hào kiệt đã bất khuất hy sinh.

Và, hôm nay, mục tiêu “Thực hiện Dân giàu, Nước mạnh, Xã hội dân chủ, công bằng, văn minh” không chỉ là tinh thần di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là mệnh lệnh sống còn của Đảng, là nguyện vọng thiết tha của toàn dân. Đó còn là khát vọng cháy bỏng của biết bao thế hệ đã lấy cuộc đời và cả máu xương mình góp phần đổi lấy tự do độc lập cho dân tộc, trong đó có những hào kiệt đất phương Nam.

Bích Ngân
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 431

Ý Kiến bạn đọc