Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Hành trang của một nhà văn

 

Viết văn là một nghề rất gian khổ. Văn chương là một sự nghiệp lớn lao.

Nhà văn Nguyễn Tuân có 3 chữ “pháp trường trắng” rất ấn tượng và rất xác đáng. Pháp trường trắng là gì? Theo ý Nguyễn Tuân, đó là chỗ giáp mặt của nhà văn với trang giấy của mình. Trang giấy như một pháp trường đang đợi anh. Anh phải làm gì đây trước trang giấy ấy? Và vì sao gọi trang giấy là pháp trường? Vì nhà văn phải vất vả vô cùng để ứng phó với nó. Nhà văn phải có đủ tài năng, bản lĩnh để thể hiện mình qua con chữ trên trang giấy ấy. Nếu anh mạnh thì anh sẽ thắng và khoan thai bước ra về từ pháp trường trắng ấy. Nếu anh yếu, anh bất lực thì anh sẽ thua và sẽ bị cầm tù.

Chữ “cầm tù” là nói cho vui thôi. Nhưng với những ai thiết tha với sự nghiệp văn chương mà thất bại thì còn đau đớn hơn bị cầm tù.

Thi hào Sin-lơ của Đức thổ lộ rằng “Sau một ngày sáng tác cật lực, ông phải nằm liệt cả tuần lễ”. Thế mới biết, lao động sáng tác khổ nhọc như thế nào.

Balzac thì nhiều khi viết suốt đêm không ngủ. Do đó ông phải uống cà phê đậm đặc gấp 40 lần để giữ được tỉnh táo mà ngồi viết.

Không có ai nhởn nhơ mà thành nhà văn được. Nhà văn phải tự trang bị cho mình thật nhiều thứ trên cơ sở lòng mê say văn chương thực sự, không phải vì háo danh, không phải vì tiền bạc. Có những nhà văn nổi tiếng rất nghèo, như Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng, hoặc các nhà văn ở chiến trường như Nguyễn Thi, Nguyễn Quang Sáng, Anh Đức, Lê Văn Thảo, Phan Tứ, v.v…

Một người mà tôi biết khá rõ là nhà văn Nguyễn Thi. Ai sống gần anh mới thấy rõ lòng say mê sáng tác của anh. Anh cần cù như một ông thợ mộc lành nghề mà từng mẩu gỗ, từng thanh cây đều được ông nâng niu, quý trọng.

Hồi kháng chiến chống Mỹ, ở trong rừng, thiếu ánh sáng lắm. Nhất là ban đêm, muốn viết thật khó khăn, đèn đóm thì tù mù, lại còn sợ máy bay địch phát hiện, phải che chắn thật kỹ. Một lần đi thực tế xuống đồng bằng, xin được một cây đèn bão nhỏ nhắn, anh Thi thích lắm và đi đâu cũng nhớ tới cây đèn. Với cây đèn ấy, anh viết thâu đêm và tác phẩm của anh nối nhau ra đời. Nào là “Người mẹ cầm súng”, “Chuyện xóm tôi”, “Sen trong đồng”, “Anh hùng Nguyễn Thị Hạnh” và hay nhất là “Ở xã Trung Nghĩa”, v.v…

Nguyễn Thi mê viết đến nỗi nằng nặc xin ra chiến trường để có tư liệu sống mà viết. Anh vào Sài Gòn trong Chiến dịch Tết Mậu Thân 1968. Anh hành quân cùng bộ đội, trực tiếp chiến đấu với địch, bị thương nặng và hy sinh trên mảnh đất Sài Gòn mà anh hằng ao ước được trở về. Thế là anh đã được toại nguyện. Anh đi chiến đấu háo hức như đứa trẻ thơ và ngã xuống thản nhiên như một chiếc lá.

Không có say mê thì không thể có văn chương. Mà văn chương thì lại vô cùng cần thiết cho đời sống của con người. Có những nhà văn xuất thân từ thầy thuốc, mong chữa bệnh cứu người, như Sê-khốp, Lỗ Tấn. Nhưng thấy nghề thuốc chỉ cứu được từng người chứ không cứu, không chữa được một xã hội, nên các ông chuyển qua viết văn. Và các ông đã thành công vang dội.

Nói đến Lỗ Tấn, chỉ cần nhắc tên tác phẩm trứ danh “AQ chính truyện” của ông thì ai cũng biết, cũng mến phục. Ông đã “bắt bệnh” được cho cả nước Trung Hoa qua nhân vật AQ nổi tiếng của mình.

Sê-khốp thì nhiều lắm. Ông cũng “bắt bệnh” cho người Nga lúc bấy giờ là bệnh tự ty rất tệ hại. Một viên công chức nhỏ đi xem hát, lỡ hắt hơi vào sau lưng một quan lớn ngồi ở phía trước mà sợ hãi đến phát bệnh mà chết, mặc dù ông quan kia đã mấy lần tỏ ra độ lượng. Nhưng càng độ lượng thì anh công chức nhỏ lại càng sợ và suy đoán lung tung, tưởng ông quan nói lẫy… Ở Mỹ, người ta đánh giá Sê-khốp rất cao, xếp ông vào hàng đầu của văn học Nga, bên cạnh những cây cổ thụ khác như Lev Tolstoy, Dostoievsky, v.v…

Có đam mê rồi, nhà văn còn cần gì nữa? Còn cần nhiều thứ lắm.

Trước hết là sự học hành. Phải nâng cao không ngừng kiến thức của mình. Và điều đầu tiên là phải học cách viết. Trước hết phải viết đúng câu, đúng chữ. Maxim Gorki dạy: “Phải nắm chắc các con chữ của mình, như người ta nắm chặt các ngón tay lại để đấm”.

Phải đọc. Đọc càng nhiều càng tốt. Kiến thức càng phong phú thì hình tượng văn học của mình càng trong sáng và có sức phản ánh càng sâu, càng rộng. Puskin hồi bị đi đày, cứ ít hôm, người ta phải chở tới cho ông một xe sách để ông đọc. Nhờ thế thơ ông mới hay như vậy.

Lev Tolstoy cũng thế. Chỉ riêng việc mô tả chiến trường Borodino, Lev Tolstoy đã đáng được gọi là một nhà quân sự rồi. Ông bố trí bộ binh, pháo binh rất chính xác theo đòi hỏi của quân đội.

Ngoài ra, nhà văn còn phải đi thực tế. Vì ta không thể ngồi một chỗ mà tưởng tượng mọi thứ được. Có những chi tiết rất hay trong thực tế, nó vừa đẹp, vừa tươi ngon mà ta không thể đập trán nghĩ ra. Ví dụ như những chi tiết sinh động của Nguyễn Thi trong “Ở xã Trung Nghĩa” mà không tiện kể ra đây. Nó vừa tục vừa hay, vừa dí dỏm, buồn cười không chịu được.

Sau nữa là cần phải chi chép. Trí nhớ của mình mau phai lắm. Không ghi chép, ít lâu sẽ quên hết, nhất là về cảm xúc. Bao nhiêu cảm xúc cực mạnh tưởng chừng sẽ nhớ mãi, nhưng không, rồi nó sẽ quên, nếu không ghi lại. Mẫu mực trong việc ghi nhật ký là Lev Tolstoy. Không biết ông ghi thế nào mà vợ ông đọc phát cáu lên, vì nó hay quá, nó thật quá, gây xúc động quá. Nhờ vậy, ông mới viết được những tác phẩm đồ sộ để đời; nếu không, làm sao nhớ được cảm xúc!

Cuối cùng là sự mài giũa. Phải đọc đi đọc lại và hoàn chỉnh hết mức tác phẩm của mình. Lev Tolstoy từng có đoạn phải sửa đi sửa lại 17 lần!

Và muốn làm được những việc đó, nhà văn phải có sức khỏe, vì nghề viết rất khổ nhọc, trí óc suy yếu sẽ không suy nghĩ được gì!

Hoàng Xuân Huy
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 595

Ý Kiến bạn đọc