Tản văn

Hạnh phúc

Hạnh phúc là gì? Mỗi người có một định nghĩa khác nhau tùy theo quan niệm sống của mình. Với người này là tiền tài, danh vọng, sự nghiệp, với người khác là tình yêu, hôn nhân, gia đình, con cái. Có người lại thấy hạnh phúc là cái mà mình đã đạt được, có người cho rằng hạnh phúc chính là con đường mình đang đi. Càng lớn tuổi tôi càng nhận ra rằng trải qua những chặng đường đời quan niệm của tôi về hạnh phúc có sự chuyển động, thay đổi.

Anh-minh-hoa---Hanh-phuc

Tôi sinh ra trong những năm kháng chiến chống Pháp ở một làng quê Việt bên dòng sông Lam, hạnh phúc tuổi thơ là được nhìn thấy một bầu trời trong xanh, cánh diều vi vút bên những làn mây trắng, không bị vẩn đục bởi máy bay bà già của giặc Pháp. Hạnh phúc khi bắt được con cá rô trên đìa cạn, mót được nhánh lúa vàng, được múa hát trong những đêm trăng hội hè cùng bà con dân làng. Năm 7 tuổi ra Hà Nội hạnh phúc khi nhận ra thế giới quanh mình có biết bao điều kỳ lạ. Tôi phập phồng ngắm những con ve vàng lột xác trên cây bưởi, lang thang khắp nẻo phố Hà Nội, gò lưng trên bãi cỏ truy lùng những chú dế mèn bằng cách đổ nước vào hang dế, trong những đêm mùa đông nghe tiếng rao khản đặc “phát xa húng lìu” của ông già người Tàu, những ngày hè nóng nung trèo me hái sấu, bơi lội bì bõm quanh hồ Thiền Quang. Những cuốn sách đầu tiên, những bộ phim được xem mở ra cho tôi một khung trời hiểu biết. Tôi cắp sách đến trường trong những năm tháng êm dịu, tươi đẹp nhất của miền Bắc, nghèo nhưng nghĩa tình, lãng mạn. Tình bạn, tình thầy trò, tình yêu mái trường và ước vọng vươn cao, bay xa khiến tôi cảm thấy hạnh phúc. Nhưng chẳng bao lâu sau, máy bay phản lực Mỹ đã gầm rít làm hoen ố cả bầu trời tươi đẹp, êm ả của miền Bắc, chúng đánh bom tàn phá làng mạc, thành phố, trường học, bệnh viện. Những tàu chiến Mỹ quấy đảo, giăng ngư lôi trên biển rộng. Ở miền Nam là những vụ truy quét, khủng bố, tàn sát dã man của kẻ thù và những trận đánh với những chiến công lẫy lừng của quân dân ta. “Có thể nào yên” – như tựa đề một bài thơ của Tố Hữu, hạnh phúc của tôi và thế hệ thanh niên lúc bấy giờ là được gánh đất nước trĩu nặng nghĩa tình trên đôi vai nhỏ bé của mình. Sau những năm kiên cường chống chọi với bom đạn, chăm lo cho sự sống, sự học của học trò, bảo vệ sự bình yên cho một mái trường miền Bắc, tôi đi vào chiến trường miền Nam để được trực tiếp tham gia cuộc kháng chiến bằng một công việc mà mình không bao giờ hình dung nổi: dạy học trong rừng. Dưới một mái trường ven sông Đồng Nai máy bay kẻ thù gầm rít xé toang cả bầu trời, đạn pháo đêm đêm dội về, biệt kích lùng sục, chúng tôi mấy lần chuyển cứ, sốt rét quật quã, đói ăn người xanh rờn như tàu lá. Học trò của tôi là các em người Kinh, người Chơ Ro, người Hoa Nùng… 20 tuổi là du kích xã không biết chữ, cũng có em 3-4 tuổi tập đánh vần, ngồi học nhấp nhô như sóng biển. Các em coi thầy như người cha, người anh, cùng học, cùng đào hầm, kiếm củi, tải gạo, hái rau, làm toán, tập viết. Các em bắt cá, hái rau nấu cháo cho thầy khi ốm đau, may vá quần áo cho thầy. Dẫu chịu muôn ngàn gian nan tôi vẫn cảm nhận được niềm hạnh phúc khi được sống, dạy học dưới mái trường tình nghĩa không bao giờ quên này. Và niềm hạnh phúc bỗng vỡ òa khi hòa chung với hạnh phúc của toàn dân tộc. Đó là lúc xe tăng húc đổ cánh cửa dinh Độc Lập, những lá cờ phấp phới hân hoan của dân chúng đứng hai bên đường đón chào đoàn quân giải phóng rầm rập tiến về thành phố mang tên Bác. Bài hát “Đất nước trọn niềm vui” vang lên khắp dải đất Việt Nam. Tôi đeo ba lô bịn rịn từ biệt học trò, tạm biệt cánh rừng đã che chở thầy trò chúng tôi để về thành phố Biên Hòa. “Ôi giờ phút yêu quê hương làm sao trong xuân vui đầu tiên… từ đây người biết yêu người” – cố nhạc sĩ Văn Cao trong bài hát “Mùa xuân đầu tiên” đã nói hộ tâm trạng của chúng tôi sau giải phóng. Tôi gặp lại cha mẹ, anh chị em, bà con, bạn bè sau bao năm xa cách. Tôi thân thiết với anh chị em đồng nghiệp nhà giáo sau những phút giây bỡ ngỡ ban đầu, dần làm quen và hòa nhập với nhịp sống của Biên Hòa. Tôi hạnh phúc vì mình đã trở thành người con của mảnh đất phương Nam. Sau những năm tháng đầu tiên ca khúc khải hoàn, cả đất nước đối mặt với cái nghèo, cái đói. Không thể nói là không buồn bã, hoang mang. Đây là một tình huống bất ngờ không ai lường tới, bởi cứ nghĩ rằng hòa bình là phải hạnh phúc, no đủ. Tôi cùng đồng nghiệp nhà giáo chống chọi từng ngày với cái thiếu thốn, khốn khó để lo miếng ăn, cái mặc, tiền chi tiêu trong nhà. Năm tháng nhọc nhằn trôi qua ánh sáng đã xuất hiện ở cuối đường hầm: đổi mới. Như một ngọn gió trong lành thổi tới, chưa hẳn đã quét sạch âu lo, phiền toái nhưng đã mang tới cho tôi và đồng nghiệp một niềm hy vọng tràn trề. Việc bung ra đa dạng hóa các loại hình đào tạo đã tạo nên nhiều công việc làm thêm cho đội ngũ giáo viên. Tại chức, chuyên tu, từ xa và nhiều loại hình đào tạo khác đã đưa chúng tôi đi tới các nơi có nhu cầu, dưới huyện, ngoài tỉnh. Tôi hạnh phúc vì đã kiếm được đồng tiền từ lao động dạy học của mình, đủ trang trải cuộc sống.

Năm 2008, sau 40 năm miệt mài trên bục giảng tôi về hưu, ngẫm lại cuộc đời thăng trầm của mình theo những biến động đất nước tôi viết bài thơ “Xin cảm tạ cuộc đời” có đoạn:

Xin cảm tạ cuộc đời
Đã cho tôi năm tháng
Bão táp và khát vọng
Nhọc nhằn và đam mê
Cay đắng và hạnh phúc
Đông qua thì xuân về.

Như nhà thơ Tố Hữu viết: “Đời yêu ta phải thắng cho đời”, trải qua bao gian nan vất vả cùng đất nước, cùng ngành giáo dục tôi cũng đã hạ cánh trọn vẹn. Có nhà cửa đàng hoàng, tuy không giàu nhưng đồng lương đủ sống – và tôi cũng chỉ mong có thế vì không có tham vọng gì hơn. Từ ngày nghỉ hưu tôi mới chuyên chú vào một công việc: viết. Tôi đam mê văn chương từ khi còn là một cậu bé, bước ngoặt trong cuộc đời của mình là vào năm 1966 với nguyện vọng vào học Tổng hợp Văn thì tổ chức lại chuyển sang học Đại học Sư phạm Văn. Nghĩ bụng: đi dạy học cho có vốn sống rồi chuyển qua báo, đài để viết. Thế rồi sự đẩy đưa của số phận khiến tôi đi đến tận cùng của nghề giáo, những tận 40 năm. Tất nhiên trong thời gian dạy học tôi cũng viết nhưng ít vì bận rộn, vì cơm áo ghì sát đất. Từ khi nghỉ hưu viết nhiều hơn – gần như liên tục. Viết báo và viết văn, chủ yếu ở hai mảng đề tài: giáo dục và văn hóa, văn nghệ. Chưa bao giờ thấy hào hứng viết như lúc này vì sự trải nghiệm cuộc sống, trải nghiệm văn hóa đã khá dày dặn. Vừa viết vừa học hỏi, vừa tích lũy thêm để có thể có cập nhật về đề tài, bút pháp. Tôi viết cũng không vì mục đích kiếm tiền (dù điều ấy ai cũng cần), cũng không phải vì danh (dù tôi đã được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Nhà báo Việt Nam). Đơn giản vì thấy hạnh phúc khi được chia sẻ với bạn bè, đồng chí, đồng nghiệp – những người đã cùng mình trải qua một chặng đường dài của đất nước, của nghề giáo, nghề văn. Đồng thời góp thêm một tiếng nói nhằm góp một phần nhỏ bé cho xã hội ta ngày càng tốt đẹp hơn. Tôi cũng nhận được nhiều ý kiến phản hồi của bạn đọc, khen có chê có – và luôn tôn trọng những ý kiến này. Tôi vẫn đi trên con đường tìm tòi, sáng tạo nhằm tạo nên một lối đi riêng để có thêm nhiều bạn đọc.

Xin cám ơn các bạn bè, đồng nghiệp đã cho tôi được chia sẻ cách nhìn về hạnh phúc ở mỗi chặng đường đời khác nhau.

Bùi Quang Tú
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 454

Ý Kiến bạn đọc