Truyện ngắn

Hạnh phúc rất gần

 

Nó sửa xong cái mái chuồng gà, thu dọn những cành cây còn vương vãi trên đất rồi ngồi thừ ra. Năm nay bà không chuẩn bị các món quà bánh để ngồi bán ở cổng Đền như mọi năm nữa. Hồi chiều nó nghe ông nói là Ban quản lí khu di tích đã quyết định chỉ tổ chức phần lễ đơn giản, gọn nhẹ để dâng hương tưởng nhớ các vua Hùng thôi. Còn phần hội, các trò chơi thì dừng lại. Bà vừa nhai miếng trầu vừa nói trong tiếng thở dài thượt ra:

- Họ bảo dừng phần hội để đỡ tập trung đông người, tránh lây lan dịch bệnh. Nhưng như vậy đâu còn gì là vui nữa.

- Thế ngày mai mình có đến đó nữa không bà?

- Thôi, ở nhà, tránh đến chỗ đông người cháu ạ. Mai để mình ông lên góp công đức là được rồi.

So-590--Anh-minh-hoa---Hanh-phuc-rat-gan---Anh-1

Nó nghe bà nói vậy thì buồn thiu. Nó buồn không phải vì không được hòa vào dòng người nô nức trẩy hội đền Hùng như mọi năm. Nó chưa bao giờ ham vui đến vậy. Mỗi năm, nó đều trông ngóng đến ngày giỗ tổ Hùng Vương chỉ để phụ bà mang mấy thứ đồ đến ngồi bán ngoài cổng đền, rồi nó mon men đi trên những bậc đá, ngó những khuôn mặt người đi Hội. Nó tìm trong số đó, ai là người đang tìm nó. Mà biết ai mà tìm. Sau mỗi lần trở về, nó lại buồn rũ rượi, thất vọng. Nếu mẹ nó có quay trở lại tìm nó thì đã chẳng đi biệt đến tận 10 năm như vậy. Giờ khuôn mặt mẹ nó đã thay đổi như thế nào, làm sao mà biết được. Chính nó cũng đã thay đổi rất nhiều kia mà. Từ một thằng bé con nước mắt nước mũi tèm nhem tối đó, giờ nó đã lớn phổng lên rồi. Liệu gặp lại, mẹ có nhận ra nó không? Ngay bản thân nó giờ bao nhiêu tuổi nó cũng không biết, bà bảo năm đó nó chừng ba, bốn tuổi. Bà bảo bữa đó, nó ngồi khóc dưới bậc đá ở ngay lối vào cổng đền. Người đi lễ lần lượt ra về, thưa dần, khi chỉ còn vài người bước vội, bà thu dọn đồ chuẩn bị về thì nhìn thấy nó. Nó nhỏ thó, ngồi sợ sệt ở bậc đá, mắt nháo nhác tìm kiếm, miệng vừa khóc vừa gọi mẹ. Ánh đèn hắt cái bóng nó đổ một nhúm nhỏ xuống bậc đá, gẫy làm đôi. Ánh đèn soi giọt nước mắt đang lăn trên má nó long lanh, đôi mắt nó cũng long lanh nước. Nó cứ khóc, cứ sụt sịt, bà dỗ mãi mới nín. Rồi bà ngồi chờ cùng nó đến tận khuya, mẹ nó lạc về đâu trong dòng người đi lễ đó, không ai biết, còn nó ở lại với ông bà. Mười năm trôi qua rồi, nó không biết quê mình ở đâu, cũng không nhớ nơi nó ở từng ồn ào tấp nập, mở cửa ra là thấy xe chạy ào ào ngay trước mặt là nơi nào? Nó ở với ông bà, rồi quen, rồi quấn quýt. Nó thích cái bát ngát của núi rừng trước mặt, nó yêu cái mái ngói của ngôi nhà. Yên bình lắm. Nhưng đôi lúc nghĩ đến mình là một đứa trẻ bị bỏ rơi nó lại nấc lên tức tưởi, lại thấy mình thật bất hạnh. Lâu rồi! Nó không nhớ nổi khuôn mặt mẹ như thế nào, giọng nói mẹ ra sao? Ngày đó nó còn quá nhỏ. Nó chẳng còn lưu được dấu ấn gì về mẹ cả. Nhưng không hiểu sao, mọi thứ nó có thể quên, còn cái hôm mẹ để nó ngồi đợi hoài trong sợ hãi giữa bao người xa lạ ở bậc đá cửa đền, nó lại nhớ. Những bước chân ngang qua trước mặt, những khuôn mặt xa lạ ngó nhìn nó. Nó sợ hãi thu người lại, nhưng vẫn đưa ánh mắt lấm lét tìm kiếm trong đám người đó cái bóng dáng quen thuộc, cái gương mặt thân thương. Bao năm rồi, bà dẫn nó đến đợi chỗ nó đã bị bỏ lại. Lớn dần thành thói quen, dù nó chẳng nhớ rõ hình dáng người nó đợi là ai trong số những người xa lạ kia, nó vẫn đến, ngồi ở đúng bậc đá năm nào. Nó kiên nhẫn đợi để mong có thể mẹ nó sẽ quay trở lại tìm nó và nó sẽ cảm nhận được niềm hạnh phúc khi được gặp lại mẹ, được mẹ ôm vào lòng để xoa dịu những thổn thức của nó. Nó đợi từ lúc người ta bắt đầu lễ hội đến khi hội tan, khi ánh đèn đã chiếu bóng nó gẫy làm ba, bốn khúc đổ dài trên những bậc đá. Đôi khi nó cũng cố nhớ xem ngày xưa nó từng sống ở đâu, mẹ như nào để nó có thể đi tìm mẹ chứ không phải mỗi năm ngồi chờ đúng ngày lễ, đợi trong vô vọng. Nhưng kí ức về mẹ nó, về những ngày tháng trước khi nó gặp ông bà chỉ là một khoảng trắng. Khoảng trắng mà nó cực kì căm ghét. Nó muốn vẽ vào đó bao nhiêu thứ, nhưng chẳng thể nào vẽ được, chỉ là những nguệch ngoạc nước mắt và nỗi buồn. Có lần trong mơ nó cũng gặp mẹ, nhưng nó có cố đến mấy cũng không nhìn thấy được khuôn mặt mẹ, mẹ quay lưng lại với nó và chỉ im lặng. Thấy nó ngồi bần thần, bà giục:

- Đi tắm rửa rồi ăn cơm.

Ngày mai, cháu có muốn đi thì bà đi cùng.

- Không bà ạ! Cháu chạy lên một lúc rồi về. Cháu xem hội đông không thôi.

- Mai cháu có muốn đi cùng ông không?

- Thôi ạ! Ông cứ đi việc của ông. Cháu cũng chưa chắc có lên không.

Nó từ chối ông bà. Nó biết ông bà thương nó, sợ nó buồn. Nhưng nó cũng không muốn thấy ông bà buồn vì mình. Nhiều lúc, nó chỉ ước nó chưa bao giờ có kí ức về một đứa trẻ bị bỏ rơi. Nó sẽ sống thật vui, thật hạnh phúc với ông bà.

Xong bữa cơm tối, nó xin phép ông bà đi lên đền một lúc. Nó chạy một mạch trên các bậc đá qua cổng đền, lên đền Hạ, đến đền Trung. Nó đã chạy mấy trăm bậc, chỉ còn hơn trăm bậc nữa là lên đến đền Thượng. Đôi chân nó mỏi rã rời. Nó ngồi bệt xuống nhìn lên các bậc đá cao hút. Ánh điện nhập nhòa soi từng bậc đá bóng loáng. Rồi nó tự cười mình, chạy một mạch lên đây, thở không ra hơi để tìm kiếm điều gì? Nó hít một hơi thật dài, thở ra chầm chậm, cảm thấy hình như đã trút được một gánh nặng gì đó bấy lâu đè nặng tâm hồn mình. Hình như nó cũng cắt đi được khoảng kí ức trắng trước đây. Nó không thấy mình là đứa trẻ bất hạnh bị bỏ rơi nữa mà là đứa trẻ may mắn, hạnh phúc. Phía dưới chân đền kia là nhà của nó. Nơi đó nó có ông bà luôn yêu thương, che chở.

Nó đứng lên, chầm chậm bước xuống từng bậc đá. Gần xuống đến nơi, nó bỗng rưng rưng khi nhìn thấy bà đang đứng ở dưới nhìn nó. Bà nhẹ nói:

- Về thôi cháu!

- Vâng. Mai cháu ở nhà làm bánh với bà nhé!

Bà gật đầu mỉm cười thật hiền, vịn tay nó bước chậm từng bước trên con đường về nhà.

Lê Phượng
(TP. Quy Nhơn – Bình Định)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 590

Ý Kiến bạn đọc