Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Hai triệu câu Kiều …
(Tiếp theo VN TP. Hồ Chí Minh, số 385 – 24/12/2015)

Chúng tôi rất bức xúc về phát biểu của Giáo sư Phong Lê, nên có đôi chút gay gắt mong bạn đọc và Giáo sư lượng thứ.

Có bạn đọc trách sao khắt khe bắt bẻ chuyện nhỏ như gọi Tố Hữu, Xuân Diệu là nhà văn, chẳng phải là trong Kỷ yếu Nhà văn Việt Nam hiện đại đều gọi tất cả là nhà văn đó sao? Vâng, Hội Nhà văn Việt Nam có gần nghìn hội viên gồm tác giả các thể loại văn xuôi, thơ, kịch, lý luận phê bình, dịch thuật. Hội chọn chữ Văn là bao hàm được cả. Về nguồn gốc cũng là được vì từ cổ lai, chữ văn hay văn chương được dùng chỉ chung cho sự trước tác vì thời đó Văn – sử – triết bất phân.

Nhưng thời nay khi đề cập đến một tác giả cụ thể phải nói rõ tác giả đó được định danh ở thể loại nào? Tố Hữu, Xuân Diệu có viết tiểu luận nghiên cứu, dịch thơ… Nhưng tư cách chính là nhà thơ. Từ khi Năm Châu Đốc được học, được đọc thơ Tố Hữu, Xuân Diệu, đọc các bài viết, công trình về họ, chưa thấy chỗ nào gọi là nhà văn Tố Hữu, nhà văn Xuân Diệu hết.

Có một lỗi rất nặng về học thuật của Chủ tịch Hội Kiều học cần phải trao đổi để bạn đọc chỉ giáo cho. Giáo sư viết: Cuộc đời Nguyễn Du đầy yếm thế, ông nhìn đời bi quan, rất nhiều tâm sự … (Truyện Kiều là tấm danh thiếp văn hóa của Việt Nam. Nhân dân hàng tháng số tháng 11/2015)

Cái lỗi lớn về học thuật ở đây phân tách ra nó nhiều lắm. Giáo sư Chủ tịch có đọc nhiều, dẫn và dẫn đúng Mộng Liên Đường. Nhưng cho rằng cuộc đời Nguyễn Du đầy yếm thế ông nhìn đời rất bi quan là không đúng.

Thử hỏi: Yếm thế làm sao có thể nhìn thấu sâu cõi nghĩ đến ngàn đời? Làm sao viết được Văn chiêu hồn, Văn tế thập loại chúng sinh? Làm sao viết được câu “Kìa những kẻ đi về buôn bán/ Đòn gánh tre chín rạn hai vai”?

Còn “nhìn đời bi quan” sao lại có cảnh đoàn viên Kim – Kiều tái hợp?

Giờ nói cái tập thể biên soạn xuất bản Truyện Kiều, ấn bản đặc biệt kỷ niệm 250 năm sinh Đại thi hào Nguyễn Du, do Hội Kiều học Việt Nam và Nhà xuất bản Trẻ vừa ấn hành lưu chiểu quí IV – 2015.

Bản Truyện Kiều này là để chữa cháy cho cái vụ Truyện Kiều in lần trước, dịp hội thảo Quốc tế về Nguyễn Du. Làm quà biếu cho đại biểu. Khách xa, khách gần về rồi, nhờ dư luận chỉ ra, mới thấy cái sai, vội vàng in lại, rồi tổ chức giới thiệu ra mắt ồn ào lắm.

Truyen-Kieu

Bản Truyện Kiều lần này có Lời nhà xuất bản viết thế này:

“Nếu mỗi dân tộc có một tấm căn cước chung bằng văn chương để giới thiệu với thế giới thì người Việt có lẽ sẽ chọn Truyện Kiều. Lời tựa cuối thế kỷ XIX của Hoàng Giáp Đào Nguyên Phổ đã gọi đây là “Một khúc Nam âm tuyệt xướng”, vài thập niên sau, các học giả đều nhấn mạnh khía cạnh tầm vóc của Truyện Kiều đối với bản sắc dân tộc thông qua vị thế đại diện cho tiếng nói dân tộc: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn”. Đồng nhất Truyện Kiều với bản sắc dân tộc, đó hẳn là một lời xưng tụng cao quý nhất cho một tác phẩm văn học” (Sđd.,trg. v).

Ví von so sánh như thế không đưa tới liên tưởng về sự cao quý vĩ đại. Căn cước là thủ tục bình thường, còn dễ gây sự khó chịu, bắt buộc phải có, không phải thích thú gì. Đi đến đâu cũng phải đưa căn cước ra thì khổ lắm. Mà danh thiếp là thủ tục, hình thức giao tiếp thông thường không có gì thể hiện đặc trưng bản chất của chủ thể. Có vị in danh thiếp ghi là hội viên đến năm hội cả TW và địa phương. Cầm tấm danh thiếp, sợ quá, phải kính nhi viễn chi thôi.

Đồng nhất một tác phẩm văn học – dù là Truyện Kiều với bản sắc dân tộc là một cuồng vọng. Bản sắc dân tộc là phạm trù khác, cấp độ khác. Tác phẩm văn học là phạm trù, cấp độ khác, đồng nhất sao được. Đúng là chọn Truyện Kiều mà chẳng lấy câu hay. Sanh Con rồi mới sanh Cha. Sanh cháu giữ nhà rồi mới sanh ông! Thuận lý ra phải là chọn những câu hay trong Truyện Kiều.

Từ lời tựa cuối thế kỷ XIX đến hết đoạn văn là một sự lủng củng cố ý. Khuấy nước thả cò…

Tiếng Việt không nói và viết hỗn mang như thế. Chắc không ma trận như thế không đưa câu Truyện Kiều còn, tiếng ta còn… vào sự kiện đặc biệt kỉ niệm Đại thi hào. Song bình tĩnh, bạn đọc sẽ gỡ ra:

- Lời tựa cuối thế kỷ XIX của Hoàng Giáp… là lời tựa nào, ở đâu, tựa vào đâu, tựa cho sự gì? Là tên tác phẩm công trình nào? Của ai, hay là chỉ thời gian, thời điểm? Các Giáo sư thật khéo ỡm ờ.

- Vài thập niên sau… thì chắc chắn vào đầu thế kỷ XX, sao không nói rõ vào năm nào?

- Các học giả đều nhấn mạnh khía cạnh tầm vóc. Đã tầm vóc thì không cần khía cạnh. Lập lại cái công thức tất cả hàng nghìn… rồi.

Câu Truyện Kiều còn, tiếng ta còn… ở đây phạm lỗi về học thuật và ngoài học thuật:

* Xuyên tạc sự kiện lịch sử, văn hóa, vi phạm bản quyền. Vì câu nói đó là của chủ bút Nam Phong đưa ra vào năm 1924. Đem câu nói của chủ bút Nam Phong gán cho các học giả là một sự xuyên tạc cố tình.

Giáo sư – Tiến sĩ Trần Đình Sử, Phó chủ tịch Hội Kiều học phụ trách chỉnh lý văn bản Truyện Kiều quá rành ông Chủ bút Nam Phong, cụ Ngô Đức Kế… trong quyển Trên đường biên của lí luận văn học (NXB Văn học – H.2014), ông đã ba lần nhắc đến sự kiện Nam Phong – Truyện Kiều và cuộc tranh luận về Truyện Kiều. Việc sang tên câu nói của Phạm Quỳnh cho các học giả hồi đó là một sự gian lận cố ý. Học thuật sao lại như thế? Đây là một ý đồ có tính toán của những người biên soạn. Mượn lời nhà xuất bản mà đánh lừa dư luận. Song, dù ông Giám đốc – Tổng biên tập NXB Trẻ có viết như thế thì ông Chủ tịch Hội Kiều học cả Ban văn bản Truyện Kiều, ông Trưởng ban chỉnh lý văn bản phải biết chứ. Người xưa nói nuôi cha mẹ mà bất kính khác nào nuôi con vật. Tưởng nhớ Đại thi hào với lễ vật bất tịnh, dối trá như vậy thì ở thế giới bên kia, cụ Nguyễn Du có được thượng hưởng không?

* Lỗi ngoài học thuật cũng không kém tệ hại, của người phúc ta ném đá giấu tay . Mượn lời người mà tỏ nỗi lòng mình xưa nay là chuyện thường. Nhưng phải đàng hoàng minh bạch. Ở đây là… đạo văn để tỏ lòng mình.

Ông Phong Lê và những người biên soạn cứ thẳng thắn tỏ rõ quan điểm chiêu tuyết, khôi phục tôn vinh Phạm Quỳnh cho đàng hoàng minh bạch, có sở cứ chẳng là hơn ư? Sao phải dấm dúi lập lờ mượn lời nhà xuất bản? Các vị có thể không biết câu Nhục bất phương bất thực nhưng cụ Nguyễn Du chắc phải nằm lòng. Đến sự sống cụ còn không quyến luyến nữa là mấy lời giả dối của Phạm hậu sinh.

Lời Nhà xuất bản thì như thế ấy!

Lời nói đầu lại như thế này!

“… Hội đã cử ra một Ban văn bản Truyện Kiều gồm các nhà nghiên cứu trong hội do Phó giáo sư Nguyễn Văn Hoàn làm trưởng ban, soạn bản Kiều I. Giáo sư – Tiến sĩ Trần Đình Sử làm trưởng ban soạn bản Kiều II. Ban đã tổ chức rà soát lại văn bản I, viết lại chú thích cho sáng tỏ và gọn… (Sđd., tr. VII)

“Ban văn bản Truyện Kiều gồm 8 người (xếp theo vần A, B, C…)

3. Phó giáo sư Nguyễn Văn Hoàn (Trưởng ban văn bản I). [31/5/1931 – 17/6/2015], nguyên cán bộ Tổ cổ đại – Cận đại, Phó viện trưởng Viện Văn học… phụ trách nhóm nghiên cứu văn bản Truyện Kiều của Viện và xuất bản công trình phiên âm khảo đính Truyện Kiều (NXB Văn học 1965).

7- Giáo sư Trần Đình Sử (Trưởng ban chỉnh lý văn bản Truyện Kiều) chuyên gia nghiên cứu Truyện Kiều (Sđd., trg. VIII).

Lời nói đầu do [Nguyễn Văn Hoàn], Vương Trọng, Nguyễn Hữu Sơn, Trần Đình Sử viết (Sđd., trg. IX).

Bạn đọc có theo dõi quá trình nghiên cứu Truyện Kiều từ năm 1965 – năm thế giới và Việt Nam kỷ niệm 200 năm sinh Nguyễn Du – đến nay đều biết Phó giáo sư Nguyễn Văn Hoàn là Chủ tịch đầu tiên, Chủ tịch sáng lập của Hội Kiều học Việt Nam (2011), ông đã lãnh đạo Hội Kiều học từ đầu cho đến khi từ trần.

Ai cũng biết bản Kiều do Viện Văn học xuất bản năm 1965 mà ông phụ trách nhóm nghiên cứu là bản Kiều để kịp vào kỉ niệm 200 năm sinh Nguyễn Du. Nếu ông được diên trường sinh mệnh cho đến ngày kỉ niệm 250 năm sinh Nguyễn Du vừa qua sẽ là một vinh dự rất lớn trong cuộc đời khoa học của ông. Nhưng ông đã không có được may mắn ấy. Ông qua đời đột ngột ngày 17/6/2015, hai ngày sau chuyến đi công tác cho Hội, từ Trung Quốc trở về.

Thật đáng buồn! Đọc lời nói đầu ở đây ta thấy trước ông Tân Chủ tịch Hội Kiều học Phong Lê, hội này không có Chủ tịch.Vì phó giáo sư Nguyễn Văn Hoàn chỉ được ghi là Trưởng ban văn bản, phụ trách bản Kiều I.

Một thông lệ văn hóa là đối với tác giả đã quá cố trong một công trình đồng tác giả bao giờ cũng được đóng khung kín đáo trang trọng. Thế mà vị Cố Chủ tịch sáng lập ở đây chỉ được đặt trong dấu móc [31/5/1931 – 17/6/2015] và lời nói đầu do [Nguyễn Văn Hoàn], Vương Trọng, Nguyễn Hữu Sơn, Trần Đình Sử viết. Niên biểu do Nguyễn Hữu Sơn soạn (Sđd., trg IX).

Ông bà thường nói nghĩa tử là nghĩa tận. Ma chay phúng viếng là quí. Mà một dòng, một chữ về công nghiệp của người quá cố cũng quí lắm chứ! Tân – Cố Chủ tịch Hội Kiều học ngũ đồng với nhau (đồng hương, đồng hội, đồng sự, đồng nghiệp, đồng cấp), nên xử với nhau được đồng nào hay đồng ấy để làm gương cho bạn yêu Kiều. Chớ nên mượn Nguyễn Du để du Phạm Quỳnh thì thật là không phải với cụ Tiên Điền.

Ấy là cái thông lệ văn hóa đối với một đồng tác giả đã quá cố – vị Chủ tịch sáng lập có nhiều công lao với Hội.

Cứ như lời nói đầu dẫn trên thì bản Truyện Kiều này là in theo bản Kiều I do Nguyễn Văn Hoàn chủ trì. Vậy bản Kiều II do Giáo sư – Tiến sĩ Trần Đình Sử làm trưởng ban, dùng vào đâu? Phải chăng người ta muốn đổ lỗi ở bản Kiều đã phải hủy cho PGS Nguyễn Văn Hoàn? Nhưng dù in theo bản nào thì bản thảo cuối cùng phải do Trưởng ban chỉnh lý văn bản Truyện Kiều Trần Đình Sử chịu trách nhiệm.

Đưa lời Nhà xuất bản vào bản in lần này là sự thâm mưu thấp kế của những người biên soạn, nó lồ lộ ra đấy. Tấm căn cước văn chương với tấm danh thiếp văn hóa có thể khác cha nhưng cùng mẹ.

Giáo sư – Tiến sĩ Trần Đình Sử muốn đẩy lỗi sang cho người quá cố. Ông Tân Chủ tịch Hội thì đẩy lòng mình qua lời nhà xuất bản. Nhưng giấu cái đầu lại phô cái cuối đầu!

Về chú thích ở bản Kiều này đòi hỏi thời gian, chúng tôi sẽ nói tiếp khi có điều kiện. Chỉ nêu một điều này. Nguyễn Du thiên tài đã tập đại thành được Tiếng Việt ở nhiều vùng miền, nhiều lớp từ, nhiều cách dùng từ, như ông nói, học lời nói của kẻ trồng dâu dệt vải. Bởi vậy, bằng hàm bằng vị, bằng sự đọc thiên kinh vạn quyển vẫn chưa đủ để chú thích, chỉnh lý văn bản Truyện Kiều. Mà phải tìm hiểu lời ăn tiếng nói của lớp người trồng dâu dệt vải … mới chú giải cho thấu đáo được. Đây là công việc tập thể, việc chung, lâu dài, cùng chung tay góp sức với nhau. Chú thích ở bản Kiều này vẫn nặng tính hàn lâm sách vở. Xem lời chú các câu đan dập giật dàm, áo quần như nêm, mèo mả gà đồng, bèo bòng… thấy rõ hướng đó. Xin dành lại dịp khác.

Tại sao khi trả lời phỏng vấn Chủ tịch Hội Kiều học dẫn câu của Phạm Quỳnh – tuy cắt xén đi phần quan trọng nhất? Tại sao trong lời nhà xuất bản dẫn đủ câu của Phạm Quỳnh nhưng xuyên tạc xuất xứ, do đâu mà giáo sư Nguyễn Đình Chú cho câu đó là hoàn toàn chân lý và một lần nữa giáo sư Phong Lê chủ biên ấn phẩm Cõi người ta (tập 1), cho đăng nguyên vẹn.

Một lần nữa chúng tôi nhấn mạnh: đây không phải là vấn đề đơn thuần văn hóa. Mượn Nguyễn Du, mượn kỉ niệm, tôn vinh Nguyễn Du để đèo bòng một vấn đề phản văn hóa, phi văn hóa. Bài sau chúng tôi dành trao đổi với GS Nguyễn Đình Chú về vấn đề này. Xin trân trọng.

Đò Vàm – An Giang, mùa đông Ất Mùi, nhằm mùa Giáng sinh 2015

Năm Châu Đốc
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 387

%MCEPASTEBIN%

Ý Kiến bạn đọc