XEM BÁO GIẤY
Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Hai thành phần cơ bản của “văn hóa đọc”

Bài 1 Văn Hóa Của Việc Đọc xem ở Báo Văn Nghệ TP.HCM số 403 ngày 24-5-2016

Bài 2

Văn Hóa Của Các Xuất Bản Phẩm

Văn hóa của các xuất bản phẩm (gọi cho đầy đủ, là: Tính văn hóa của các xuất bản phẩm) là thành phần cơ bản thứ hai của Văn hóa đọc. Theo Điều 4 của Luật Xuất bản (năm 2004): “Xuất bản phẩm “là tác phẩm, tài liệu về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn học, nghệ thuật được xuất bản bằng tiếng Việt, tiếng dân tộc thiểu số Việt Nam, tiếng nước ngoài và được thể hiện bằng hình ảnh, âm thanh trên các vật liệu, phương tiện kỹ thuật khác nhau. Trong các loại hình xuất bản phẩm, sách là bộ phận cơ bản nhất, phổ biến nhất, ra đời sớm nhất. Hiện nay, xuất bản phẩm còn tồn tại ở nhiều dạng khác: băng, đĩa, sách báo điện tử”. Cũng cần lưu ý bạn đọc rằng: Các xuất bản phẩm phải đạt đến một chất lượng nào đó, mới có tính văn hóa (giá trị văn hóa), mới hấp dẫn người ta đọc.

Tính văn hóa của các xuất bản phẩm hiện nay

Nhiều năm nay, hầu hết các xuất bản phẩm của ta có nhiều hạn chế, khiếm khuyết về tính văn hóa (giá trị văn hóa), nên ít người đọc. Đây là dấu hiệu báo động về văn hóa đọc!

Về sách: Cả nước hiện có 64 nhà xuất bản. Số lượng sách xuất bản rất nhiều, mỗi năm phát hành tới 24.000 đầu sách; trong đó, 80% là sách giáo khoa, giáo trình, nhưng chất lượng chưa cao. Rất dễ in một cuốn sách, kể cả sách văn học – nghệ thuật, nhưng văn học – nghệ thuật của ta quá hiếm tác phẩm hay (Xem lại bài “5T để có tác phẩm văn học hay” của Đào Ngọc Đệ, đăng Tuần báo Văn Nghệ TP. Hồ Chí Minh, số 400, ra ngày 5/5/2016). Nhà văn Chu Lai, trong Hội nghị tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết TƯ 5 (khóa VIII), do Bộ VH-TT-DL tổ chức tại Hà Nội, tháng 7/2013, đã nói: “Sau 15 năm, hãy tìm xem có những tác phẩm nào để đời, tác phẩm nào chói sáng, nhìn vào đó ta cảm thấy niềm tự hào về nền văn học – nghệ thuật nước nhà hay chưa? Đúng là chưa có” (Báo Đại Đoàn Kết, 9/8/2013). Một bộ phận lớn sách văn học – nghệ thuật là sách dịch. Các sách giáo khoa trường phổ thông các cấp thì nặng nề về kiến thức, thiếu tính cập nhật và còn nhiều sai sót về tính khoa học. Các sách tham khảo, học thêm của bậc phổ thông quá nhiều, in ấn không chọn lọc, bầy bán tràn lan, nhưng chất lượng khoa học yếu kém. Các giáo trình CĐ-ĐH thì vừa thiếu, vừa yếu kém về chất lượng, nhiều kiến thức quá lạc hậu – nhất là các bộ môn KHXH & NV. Ít có giáo trình mới. Một số sách tham khảo bậc PT và giáo trình CĐ-ĐH có tình trạng “đạo văn”. Các sách khoa học thì hầu hết cũng dịch của nước ngoài.

Về báo chí: Theo báo cáo tại Hội nghị Báo chí văn nghệ toàn quốc – 2013 do Bộ VH-TT-DL, Ban Tuyên giáo TƯ, Hội đồng Lý luận phê bình VHNT TƯ, tổ chức tại Đà Nẵng, ngày 11/9/2013, cho biết: Tính đến 3/2013, cả nước có 812 cơ quan báo chí in (1.084 ấn phẩm); 74 báo, tạp chí điện tử; 336 mạng xã hội; 1.174 trang thông tin điện tử tổng hợp. Trong đó, có 80 cơ quan báo chí VHNT các loại. Ưu điểm cơ bản của báo chí là tuyên truyền có hiệu quả các nghị quyết, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trên mọi lĩnh vực; tuyên truyền, cổ vũ ý chí, quyết tâm của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân đối với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc; tích cực tuyên truyền đối ngoại, nêu bật hình ảnh đất nước, con người, thành tựu đổi mới, truyền thống yêu chuộng hòa bình và các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Tuy nhiên, nhược điểm của báo chí nói chung và báo chí văn nghệ nói riêng là chủ yếu thông tin một chiều, khiến báo chí trùng lắp thông tin, thiếu bản sắc, thường gây cảm giác nặng nề u ám. Nhiều tờ báo, nhất là báo điện tử đưa quá nhiều thông tin về đời tư, sinh hoạt, trang phục hở hang của nghệ sĩ, người mẫu. Một số phóng viên văn nghệ còn thiếu kiến thức văn hóa, non kém về nghiệp vụ. Báo chí văn nghệ chưa thu hút, tập hợp được các văn nghệ sĩ; một số người không công bố (hoặc không được đăng) tác phẩm trên báo chí văn nghệ, mà công bố trên blog cá nhân.

Cần phải nói thêm thực trạng này: Trong thời kỳ khủng hoảng về kinh tế, đồng tiền eo hẹp, nên không ít tờ báo có khuynh hướng chỉ dùng bài viết của các phóng viên, biên tập viên “báo nhà”, hạn chế tối đa dùng bài của bạn đọc, cộng tác viên. Một phóng viên, biên tập viên của một tờ báo có khi ký nhiều bút danh khác nhau, cùng một số báo mà được đăng tới vài ba bài; hoặc phóng viên báo này quen biết biên tập viên báo kia, đăng bài của nhau theo kiểu “có đi có lại”, thậm chí ăn chia nhuận bút. Lại có hiện tượng: một số báo (báo giấy, báo điện tử) chỉ lấy tin, bài của báo khác hoặc trên internet để đăng, gạt ra ngoài bài viết của các cộng tác viên. Vì thế, hầu hết các tin bài của các báo tẻ nhạt, gượng gạo, sáo rỗng; tư duy phân tích – bình luận yếu kém; ý tứ nghèo nàn, không thuyết phục người đọc. Tính phản biện (tích cực) của báo chí còn mờ nhạt. Báo chí ngày càng thiếu vắng những cây bút lâu năm và có tài năng nhưng lại là người “ngoài tòa soạn”; ít có những bài bình luận sắc sảo và ít thông tin về những vấn đề bức xúc của nhân dân (ví như: các vụ tham nhũng, tệ lãng phí, quan liêu, cửa quyền, thu hồi đất trái phép của dân…); thường chỉ lặp lại các tin về “cướp, giết, hiếp”, và có nhiều bài mang tính thương mại, quảng cáo, nhiều hình ảnh kích dục. Cho nên, chất lượng báo chí không tương xứng với lượng phát hành khổng lồ, ít người mua đọc báo, nhất là những tờ báo được “bao cấp”! Đối với lãnh đạo các ngành, các địa phương, cơ quan, đơn vị, họ được cấp phát báo chí đến tận tay, nhưng một phần thì do chất lượng báo chí yếu kém, một phần vì ngại đọc, nên hầu hết các cán bộ này không “ngó ngàng” gì tới báo chí. Trong bối cảnh trên, nhiều tờ báo phải cắt giảm lượng phát hành.

Các tiêu chí cơ bản về tính văn hóa của các xuất bản phẩm

Các xuất bản phẩm là các sản phẩm văn hóa, bởi vậy phải đảm bảo các tiêu chí cơ bản về tính văn hóa. Nếu thiếu tính văn hóa, thì các xuất bản phẩm sẽ không hay, không thiết thực với đời sống nhân dân; vì thế sẽ không hấp dẫn và rất ít người đọc, thậm chí không có ai tìm đọc! Đấy là một sự thật nhỡn tiền.

Theo tôi, tính văn hóa của các xuất bản phẩm biểu hiện ở 3 tiêu chí dưới đây.

1. Chân: Là sự trung thực. Sách báo phải phản ánh trung thực hiện thực khách quan. C. Mác và Ph. Ăngghen đã viết: Báo chí là “tấm gương tinh thần trong đó nhân dân nhìn thấy bản thân mình” (C. Mác và Ph. Ăngghen – Toàn tập”, tập 1, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.95); và “Nhà báo sống trong nhân dân và trung thực chia sẻ với nhân dân niềm hy vọng và nỗi lo lắng của họ, tình yêu và lòng căm thù của họ” (Sđd, tr.237). Theo văn hào Pháp, Ô. Bandắc, thì nhà văn, nhà báo “là thư ký trung thành của thời đại”. Đến nay, những câu nói đó vẫn rất đúng đắn. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng căn dặn những người cầm bút là phải viết trung thực: “Viết để nêu những cái hay, cái tốt của dân ta, của bộ đội ta, của cán bộ ta, của bạn ta. Đồng thời để phê bình những khuyết điểm của chúng ta, của cán bộ, của nhân dân, của bộ đội. Không nên chỉ viết cái tốt mà giấu cái xấu. Nhưng phê bình phải đúng đắn. Nêu cái hay, cái tốt thì phải có chừng mực, chớ phóng đại. Có thế nào, nói thế ấy” (Bài Cách viết (năm 1953), in trong sách Hồ Chí Minh – Về vấn đề giáo dục, NXB Giáo dục, Hà Nội – 1990, tr.117). Trong “Quy định về đạo đức nghề nghiệp của người làm báo Việt Nam” (năm 2005), điều 3, cũng ghi rõ: “Hành nghề trung thực, khách quan, tôn trọng sự thật”. Nói tóm lại: Trung thực là phẩm chất đầu tiên của những người viết văn, viết báo chân chính. Nó đem lại giá trị nhận thức cho người đọc và giá trị hiện thực cho các xuất bản phẩm.

2. Thiện: Là sự tốt lành, trái với cái xấu, cái ác. Các xuất bản phẩm thông tin trung thực để “giáo dục, giải thích, cổ động, phê bình. Để phục vụ quần chúng” (Hồ Chí Minh – bài Cách viết, sđd, tr.117), khích lệ quần chúng làm theo những điều đúng đắn, tốt lành; phê phán và tránh xa cái xấu, cái ác. Đấy là tính giáo dục, tính chiến đấu của các xuất bản phẩm chân chính. Người cầm bút phải thể hiện chính kiến của mình về ái – ố – hỉ – nộ một cách rõ ràng, dứt khoát. Bác Hồ dạy: “… phê bình mình cũng như phê bình người phải ráo riết, triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm bớt. Phải vạch rõ cả ưu điểm và khuyết điểm” (Sửa đổi lối làm việc, NXBCTQG và NXB Trẻ, 2005, tr.261). Chữ “Thiện” còn hàm nghĩa: Sách, báo, tạp chí phải làm sao thu hút được nhiều người viết, người đọc; đồng thời còn thể hiện quan hệ tốt đẹp, đúng mực của các cơ quan xuất bản, báo chí với người viết, cộng tác viên.

3. Mỹ: Là yêu cầu về cái đẹp. Đây là giá trị thẩm mỹ của các xuất bản phẩm. Sách, báo, tạp chí phải toát lên cái đẹp của cuộc sống. Phản ánh trung thực cái đúng, cái tốt, cái hay của hiện thực khách quan; phê phán cái sai, cái giả, cái xấu, cái ác một cách xác đáng – đều thuộc phạm trù thẩm mỹ – theo nghĩa rộng. Bên cạnh nội dung ấy, các xuất bản phẩm còn phải thể hiện cái đẹp về hình thức: sách báo in đẹp, ngôn từ chính xác, trong sáng; cách trình bày tên sách, tên báo, tạp chí, cả đến kiểu chữ nhan đề (title) mỗi tin, bài và các tranh, ảnh minh họa… đều phải đẹp, hấp dẫn và trang trọng. Cần loại trừ, phê phán các bài viết kiểu “lăng-xê”, câu khách, thương mại hóa báo chí.

Chân – Thiện – Mỹ quan hệ hữu cơ, biện chứng với nhau, tạo nên tính văn hóa của mỗi xuất bản phẩm. Chúng vừa là một đòi hỏi cấp thiết, vừa là phương tiện, lại vừa là mục đích của các xuất bản phẩm. Có đủ 3 tiêu chí cơ bản ấy, các xuất bản phẩm mới hay, mới thiết thực, mới hấp dẫn đông đảo người đọc – tức là chúng tạo nên văn hóa về việc đọc – như bài trước đã trình bày.

Đào Ngọc Đệ
(Giảng viên Đại học Hải Phòng)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 429

Ý Kiến bạn đọc


Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Hai thành phần cơ bản của “văn hóa đọc”

(Tiếp theo số 403)

Văn hóa của các xuất bản phẩm (gọi cho đầy đủ, là: Tính văn hóa của các xuất bản phẩm) là thành phần cơ bản thứ hai của Văn hóa đọc (VHĐ). Theo Điều 4 của Luật Xuất bản (năm 2004): “Xuất bản phẩm” là tác phẩm, tài liệu về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn học, nghệ thuật được xuất bản bằng tiếng Việt, tiếng dân tộc thiểu số Việt Nam, tiếng nước ngoài và được thể hiện bằng hình ảnh, âm thanh trên các vật liệu, phương tiện kỹ thuật khác nhau. Trong các loại hình xuất bản phẩm, sách là bộ phận cơ bản nhất, phổ biến nhất, ra đời sớm nhất. Hiện nay, xuất bản phẩm còn tồn tại ở nhiều dạng khác: băng, đĩa, sách báo điện tử”. Cũng cần lưu ý bạn đọc rằng: Các xuất bản phẩm phải đạt đến một chất lượng nào đó, mới có tính văn hóa (giá trị văn hóa), mới hấp dẫn người ta đọc.

Tính Văn Hóa Của Các Xuất Bản Phẩm Hiện Nay

Nhiều năm nay, hầu hết các xuất bản phẩm của ta có nhiều hạn chế, khiếm khuyết về tính văn hóa (giá trị văn hóa), nên ít người đọc. Đây là dấu hiệu báo động về VHĐ!

Về sách: Cả nước hiện có 64 nhà xuất bản. Số lượng sách xuất bản rất nhiều, mỗi năm phát hành tới 24.000 đầu sách; trong đó, 80% là SGK, giáo trình, nhưng chất lượng chưa cao. Rất dễ in một cuốn sách, kể cả sách văn học – nghệ thuật (VHNT), nhưng VHNT của ta quá hiếm tác phẩm hay (Xem lại bài “5T để có tác phẩm văn học hay” của Đào Ngọc Đệ, đăng Tuần báo Văn Nghệ TP.Hồ Chí Minh, số 400, ra ngày 5/5/2016). Nhà văn Chu Lai, trong Hội nghị tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết TƯ 5 (khóa VIII), do Bộ VH-TT-DL tổ chức tại Hà Nội, tháng 7/2013, đã nói: “Sau 15 năm, hãy tìm xem có những tác phẩm nào để đời, tác phẩm nào chói sáng, nhìn vào đó ta cảm thấy niềm tự hào về nền văn học – nghệ thuật nước nhà hay chưa? Đúng là chưa có” (Báo Đại Đoàn Kết, 9/8/2013). Một bộ phận lớn sách VHNT là sách dịch. Các SGK trường PT các cấp thì nặng nề về kiến thức, thiếu tính cập nhật và còn nhiều sai sót về tính khoa học. Các sách tham khảo, học thêm của bậc PT quá nhiều, in ấn không chọn lọc, bầy bán tràn lan, nhưng chất lượng khoa học yếu kém. Các giáo trình CĐ-ĐH thì vừa thiếu, vừa yếu kém về chất lượng, nhiều kiến thức quá lạc hậu – nhất là các bộ môn KHXH & NV. Ít có giáo trình mới. Một số sách tham khảo bậc PT và giáo trình CĐ-ĐH có tình trạng “đạo văn”. Các sách khoa học thì hầu hết cũng dịch của nước ngoài.

Về báo chí: Theo báo cáo tại Hội nghị Báo chí văn nghệ toàn quốc – 2013 do Bộ VH-TT-DL, Ban Tuyên giáo TƯ, Hội đồng Lý luận phê bình VHNT TƯ, tổ chức tại Đà Nẵng, ngày 11/9/2013, cho biết: Tính đến 3/2013, cả nước có 812 cơ quan báo chí in (1.084 ấn phẩm); 74 báo, tạp chí điện tử; 336 mạng xã hội; 1.174 trang thông tin điện tử tổng hợp. Trong đó, có 80 cơ quan báo chí VHNT các loại. Ưu điểm cơ bản của báo chí là tuyên truyền có hiệu quả các nghị quyết, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trên mọi lĩnh vực; tuyên truyền, cổ vũ ý chí, quyết tâm của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân đối với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc; tích cực tuyên truyền đối ngoại, nêu bật hình ảnh đất nước, con người, thành tựu đổi mới, truyền thống yêu chuộng hòa bình và các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Tuy nhiên, nhược điểm của báo chí nói chung và báo chí văn nghệ nói riêng là chủ yếu thông tin một chiều, khiến báo chí trùng lắp thông tin, thiếu bản sắc, thường gây cảm giác nặng nề u ám. Nhiều tờ báo, nhất là báo điện tử đưa quá nhiều thông tin về đời tư, sinh hoạt, trang phục hở hang của nghệ sĩ, người mẫu. Một số PV văn nghệ còn thiếu kiến thức văn hóa, non kém về nghiệp vụ. Báo chí văn nghệ chưa thu hút, tập hợp được các văn nghệ sĩ; một số người không công bố (hoặc không được đăng) tác phẩm trên báo chí văn nghệ, mà công bố trên blog cá nhân.

Cần phải nói thêm thực trạng này: Trong thời kỳ khủng hoảng về kinh tế, đồng tiền eo hẹp, nên không ít tờ báo có khuynh hướng chỉ dùng bài viết của các phóng viên (PV), biên tập viên (BTV) “báo nhà”, hạn chế tối đa dùng bài của bạn đọc, cộng tác viên (CTV). Một PV, BTV của một tờ báo có khi ký nhiều bút danh khác nhau, cùng một số báo mà được đăng tới vài ba bài; hoặc PV báo này quen biết BTV báo kia, đăng bài của nhau theo kiểu “có đi có lại”, thậm chí ăn chia nhuận bút. Lại có hiện tượng: một số báo (báo giấy, báo điện tử) chỉ lấy tin, bài của báo khác hoặc trên internet để đăng, gạt ra ngoài bài viết của các CTV. Vì thế, hầu hết các tin bài của các báo tẻ nhạt, gượng gạo, sáo rỗng; tư duy phân tích – bình luận yếu kém; ý tứ nghèo nàn, không thuyết phục người đọc. Tính phản biện (tích cực) của báo chí còn mờ nhạt. Báo chí ngày càng thiếu vắng những cây bút lâu năm và có tài năng nhưng lại là người “ngoài tòa soạn”; ít có những bài bình luận sắc sảo và ít thông tin về những vấn đề bức xúc của nhân dân (ví như: các vụ tham nhũng, tệ lãng phí, quan liêu, cửa quyền, thu hồi đất trái phép của dân…); thường chỉ lặp lại các tin về “cướp, giết, hiếp”, và có nhiều bài mang tính thương mại, quảng cáo, nhiều hình ảnh kích dục. Cho nên, chất lượng báo chí không tương xứng với lượng phát hành khổng lồ, ít người mua đọc báo, nhất là những tờ báo được “bao cấp”! Đối với lãnh đạo các ngành, các địa phương, cơ quan, đơn vị, họ được cấp phát báo chí đến tận tay, nhưng một phần thì do chất lượng báo chí yếu kém, một phần vì ngại đọc, nên hầu hết các cán bộ này không “ngó ngàng” gì tới báo chí. Trong bối cảnh trên, nhiều tờ báo phải cắt giảm lượng phát hành.

Các Tiêu Chí Cơ Bản Về Tính Văn Hóa Của Các Xuất Bản Phẩm

Các xuất bản phẩm là các sản phẩm văn hóa, bởi vậy phải đảm bảo các tiêu chí cơ bản về tính văn hóa. Nếu thiếu tính văn hóa, thì các xuất bản phẩm sẽ không hay, không thiết thực với đời sống nhân dân; vì thế sẽ không hấp dẫn và rất ít người đọc, thậm chí không có ai tìm đọc! Đấy là một sự thật nhỡn tiền.

Theo tôi, tính văn hóa của các xuất bản phẩm biểu hiện ở 3 tiêu chí dưới đây.

1- Chân: Là sự trung thực. Sách báo phải phản ánh trung thực hiện thực khách quan. C. Mác và Ph. Ăngghen đã viết: Báo chí là “tấm gương tinh thần trong đó nhân dân nhìn thấy bản thân mình” (C. Mác và Ph. Ăngghen – Toàn tập”, tập 1, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.95); và “Nhà báo sống trong nhân dân và trung thực chia sẻ với nhân dân niềm hy vọng và nỗi lo lắng của họ, tình yêu và lòng căm thù của họ” (Sđd, tr.237). Theo văn hào Pháp, Ô. Bandắc, thì nhà văn, nhà báo “là thư ký trung thành của thời đại”. Đến nay, những câu nói đó vẫn rất đúng đắn. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng căn dặn những người cầm bút là phải viết trung thực: “Viết để nêu những cái hay, cái tốt của dân ta, của bộ đội ta, của cán bộ ta, của bạn ta. Đồng thời để phê bình những khuyết điểm của chúng ta, của cán bộ, của nhân dân, của bộ đội. Không nên chỉ viết cái tốt mà giấu cái xấu. Nhưng phê bình phải đúng đắn. Nêu cái hay, cái tốt thì phải có chừng mực, chớ phóng đại. Có thế nào, nói thế ấy” (Bài Cách viết (năm 1953), in trong sách Hồ Chí Minh – Về vấn đề giáo dục, NXB Giáo dục, Hà Nội – 1990, tr.117). Trong “Quy định về đạo đức nghề nghiệp của người làm báo Việt Nam” (năm 2005), điều 3, cũng ghi rõ: “Hành nghề trung thực, khách quan, tôn trọng sự thật”. Nói tóm lại: Trung thực là phẩm chất đầu tiên của những người viết văn, viết báo chân chính. Nó đem lại giá trị nhận thức cho người đọc và giá trị hiện thực cho các xuất bản phẩm.

2- Thiện: Là sự tốt lành, trái với cái xấu, cái ác. Các xuất bản phẩm thông tin trung thực để “giáo dục, giải thích, cổ động, phê bình. Để phục vụ quần chúng” (Hồ Chí Minh – bài Cách viết, sđd, tr.117), khích lệ quần chúng làm theo những điều đúng đắn, tốt lành; phê phán và tránh xa cái xấu, cái ác. Đấy là tính giáo dục, tính chiến đấu của các xuất bản phẩm chân chính. Người cầm bút phải thể hiện chính kiến của mình về ái – ố – hỉ – nộ một cách rõ ràng, dứt khoát. Bác Hồ dạy: “… phê bình mình cũng như phê bình người phải ráo riết, triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm bớt. Phải vạch rõ cả ưu điểm và khuyết điểm” (Sửa đổi lối làm việc, NXB CTQG và NXB Trẻ, 2005, tr.261). Chữ “Thiện” còn hàm nghĩa: Sách, báo, tạp chí phải làm sao thu hút được nhiều người viết, người đọc; đồng thời còn thể hiện quan hệ tốt đẹp, đúng mực của các cơ quan xuất bản, báo chí với người viết, cộng tác viên.

3- Mỹ: Là yêu cầu về cái đẹp. Đây là giá trị thẩm mỹ của các xuất bản phẩm. Sách, báo, tạp chí phải toát lên cái đẹp của cuộc sống. Phản ánh trung thực cái đúng, cái tốt, cái hay của hiện thực khách quan; phê phán cái sai, cái giả, cái xấu, cái ác một cách xác đáng – đều thuộc phạm trù thẩm mỹ – theo nghĩa rộng. Bên cạnh nội dung ấy, các xuất bản phẩm còn phải thể hiện cái đẹp về hình thức: sách báo in đẹp, ngôn từ chính xác, trong sáng; cách trình bày tên sách, tên báo, tạp chí, cả đến kiểu chữ nhan đề (title) mỗi tin, bài và các tranh, ảnh minh họa… đều phải đẹp, hấp dẫn và trang trọng. Cần loại trừ, phê phán các bài viết kiểu “lăng-xê”, câu khách, thương mại hóa báo chí.

Chân – Thiện – Mỹ quan hệ hữu cơ, biện chứng với nhau, tạo nên tính văn hóa của mỗi xuất bản phẩm. Chúng vừa là một đòi hỏi cấp thiết, vừa là phương tiện, lại vừa là mục đích của các xuất bản phẩm. Có đủ 3 tiêu chí cơ bản ấy, các xuất bản phẩm mới hay, mới thiết thực, mới hấp dẫn đông đảo người đọc – tức là chúng tạo nên văn hóa về việc đọc – như bài trước đã trình bày.

Đào Ngọc Đệ
(Giảng viên Đại học Hải Phòng)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 406

Ý Kiến bạn đọc


Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Hai thành phần cơ bản của “văn hóa đọc”

Gần đây, trên báo chí có một số bài viết về “văn hóa đọc” (VHĐ), nhưng các tác giả mới chỉ bàn về một bộ phận (thành phần) của khái niệm VHĐ, mới nhìn VHĐ ở một khía cạnh – tức là “văn hóa của việc đọc” – mà chưa nhìn đầy đủ về VHĐ. Nói cách khác, các tác giả đã đồng nhất việc đọc với VHĐ. Đây là một nhận thức phiến diện, một sự nhầm lẫn.
Thực ra, VHĐ là một khái niệm bao gồm 3 bộ phận quan hệ mật thiết hữu cơ và biện chứng với nhau: 1. Văn hóa của việc đọc, 2. Văn hóa của các xuất bản phẩm (sách báo in giấy hoặc sách báo điện tử (đưa lên mạng internet); 3. Hệ thống thư viện, phòng đọc; trong đó, hai thành phần cơ bản của VHĐ là: Văn hóa của việc đọc, và Văn hóa của các xuất bản phẩm. Dưới đây, xin bàn luận về hai thành phần cơ bản của VHĐ.

BÀI 1 – VĂN HÓA CỦA VIỆC ĐỌC

KHÁI NIỆM “VĂN HÓA CỦA VIỆC ĐỌC”

Để phát triển trí tuệ và bồi dưỡng tâm hồn con người, thì văn hóa của việc đọc được các nhà khoa học xếp ở vị trí số 1, trên cả “văn hóa nghe” (nghe đài phát thanh, nghe giảng bài, nghe thuyết trình một vấn đề, nghe nói chuyện thời sự, nghe điện thoại…) và “văn hóa nhìn” (xem tivi, xem tranh ảnh, xem biểu diễn nghệ thuật…). Văn hóa của việc đọc là việc ham đọc và đọc hiểu các sách, báo, tạp chí, các loại văn bản, tài liệu khoa học chuyên ngành có ích và lành mạnh; từ đó biết vận dụng các tri thức vào cuộc sống và công tác, để nâng cao chất lượng cuộc sống và hiệu quả công việc của mình. Nếu “văn hóa nghe” và “văn hóa nhìn” nhiều khi làm con người thụ động và gây trì trệ trong tư duy, bởi chúng thiên về trực cảm, lĩnh hội những cái ở bên ngoài sự vật, hiện tượng, thì văn hóa của việc đọc (đọc sách, báo in giấy hoặc sách báo điện tử) làm cho người ta chủ động tìm đến tri thức, thúc đẩy tư duy phát triển, có thể đi sâu khám phá được bản chất và quy luật của hiện tượng, sự vật chung quanh mình.

THỰC TRẠNG CỦA VIỆC ĐỌC HIỆN NAY

Chỉ nói riêng việc đọc sách, thì người Việt hiện nay đọc ít nhất so với các nước trong khối ASEAN. Theo con số thống kê tháng 4/2013 của Bộ VH-TT-DL, mỗi năm trung bình mỗi người Việt Nam chỉ đọc 0,8 cuốn; ngay tại các thư viện công cộng, tỷ lệ này chỉ đạt 0,38 cuốn/người/năm. Còn theo số liệu công bố mới nhất – đầu năm 2016, thì: Mỗi năm, Việt Nam xuất bản 24.000 đầu sách mới, nhưng trung bình mỗi người dân chỉ đọc 4 cuốn/năm. Trong khi đó, ở Malaysia: Năm 2002, tỷ lệ 2 cuốn/người/năm; từ năm 2012 đến nay lên tới 10 – 20 cuốn/người/năm và đang tiếp tục tăng mạnh. Việc đọc của các nước khác trong khối ASEAN cũng xấp xỉ Malaysia. Ở Pháp, Nhật: trung bình mỗi người đọc 20 cuốn/năm. Người Việt hiện nay chỉ đọc bằng 1/5 người Nhật (Theo báo Tiền Phong, 20/4/2016).

Bên cạnh tâm lý ngại đọc, thì với việc tăng mạnh các phương tiện nghe, nhìn khiến phần đông người Việt rất ít đọc sách báo (in giấy, điện tử). Trước hết, phải kể đến những người lao động trí óc. Rất nhiều giáo viên các cấp, các loại trường học (kể cả giảng viên ĐH) và không ít cán bộ khoa học rất ngại, rất ít đọc các sách tham khảo và tài liệu chuyên ngành. Hầu hết giáo viên chỉ đọc duy nhất một cuốn SGK hoặc giáo trình thuộc môn mình giảng dạy. Ngay cả báo chí hằng ngày, họ cũng không ngó ngàng tới. Rất nhiều công chức, viên chức là trí thức ở các cơ quan, đơn vị cả năm không đọc một cuốn sách nào và thường ngày không hề đọc một tờ báo, kể cả báo trên mạng internet! Còn với hầu hết người lao động chân tay, việc đọc sách báo nhiều khi chỉ là chuyện… xa vời.

Học sinh – sinh viên bây giờ phần đông cũng rất ngại đọc. Đáng buồn là họ ngại đọc ngay cả SGK, giáo trình bộ môn – tức là loại sách thiết thân để họ tiếp thụ kiến thức khoa học. Học sinh thì chỉ nghe thầy, cô giảng câu được câu chăng rồi ghi vào vở, đến khi kiểm tra, thi cử thì xé toẹt vài tờ trong vở ghi hoặc tài liệu để chép. Thật kinh ngạc, vì không đọc SGK và tác phẩm văn học, nên một số thí sinh đã viết trong bài thi tuyển sinh ĐH môn Văn: “Ông Xuân Quỳnh là một nhà thơ lớn đã viết bài thơ “Sóng” để đời”; “Anh Chàng (tức Tràng – trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân; ĐNĐ ghi chú) đã giác ngộ và lãnh đạo nhân dân đứng lên phá kho thóc của Nhật chia cho dân nghèo…”; và “Mỵ là một cô gái rất đẹp đã xông đến nhà thống lý Pá-tra giải phóng cho A Phủ và hai người đã rủ nhau đi làm cách mạng”… Kỳ cục, ngây ngô lắm. Phần đông sinh viên cao đẳng – đại học cũng chỉ ghi bài giảng trên lớp, rồi học theo vở ghi, ít khi đọc giáo trình và các tài liệu tham khảo. Tuy vậy, một số không nhỏ HS-SV lại ham đọc các tiểu thuyết cấm và các trang web “đen”.

Còn phần đông chức sắc các cấp, ngành, địa phương thì việc đọc đối với họ quả là hi hữu và… khổ ải! Theo một báo cáo của Bộ Tài chính cách đây không xa, thì: có tới 67% các giám đốc, tổng giám đốc các doanh nghiệp “không đọc hiểu các báo cáo tài chính của các doanh nghiệp” (Báo Nhân Dân, 12/7/2000). Đến nay, chưa có con số thống kê nào mới hơn về vấn đề này. Không ít giám đốc, tổng giám đốc hoặc cán bộ nghiên cứu ở các cơ quan khoa học lớn, khi được phỏng vấn về các hiện tượng khoa học (địa vật lý, khí hậu, thủy văn, sinh học…) thuộc lĩnh vực họ quản lý, nhưng họ (trả lời phỏng vấn) rất lúng túng và thiếu cơ sở khoa học. Nguyên nhân chính, là họ rất ít đọc, ít nghiên cứu tài liệu chuyên ngành. Nhiều lãnh đạo các sở, ban, ngành, cơ quan, đơn vị các địa phương cũng rất ngại đọc và thậm chí không hề đọc sách báo. Sáng nào, các thủ trưởng cũng được nhân viên thư ký hoặc văn thư đưa đến hàng tập báo chí, tài liệu, nhưng các “sếp” cũng chỉ… xếp xó (cho vào ngăn kéo). Ngày 20/8/2013, trong một cuộc họp tại tỉnh Đắk Nông, ông Phó giám đốc Sở VH-TT-DL tỉnh này đã thản nhiên thừa nhận: “Vài ba năm nay, tôi không đọc một quyển sách, một tờ báo nào”. Đây là một phát ngôn gây “sốc”.

NỘI HÀM CỦA VĂN HÓA VỀ VIỆC ĐỌC

- Ham đọc (sách báo nói chung và tài liệu chuyên ngành), ham tìm tòi, khám phá khoa học, ham hiểu biết, ham tích lũy kiến thức. Những cuốn sách hay (trong nước và ngoài nước, xưa và nay), những tờ báo, tạp chí có danh tiếng thực sự là những kho tri thức quý giá của dân tộc và nhân loại, đồng thời là những người thầy thông tuệ. V. Lênin đã nói: “Không có sách thì không có tri thức. Không có tri thức thì không có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản”. Các Mác, F. Ăngghen, V. Lênin đã viết những tác phẩm nổi tiếng về triết học, chính trị – kinh tế học và lý luận cách mạng là do ham đọc, tích lũy và tổng hợp kiến thức từ sách báo mà ra. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần căn dặn các cán bộ, đảng viên phải thường xuyên học tập lý luận cách mạng, thường xuyên đọc báo Đảng, đọc các báo chí trong nước và cả báo chí nước ngoài, để vận dụng làm tốt nhiệm vụ của mình. Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” (1947), Bác viết: “Lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế. Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi. ( …) Có kinh nghiệm mà không có lý luận, cũng như một mắt sáng, một mắt mờ” (Sđd., NXB CTQG và NXB Trẻ, in năm 2005, tr.73). Bác Hồ là một mẫu mực tuyệt vời của văn hóa đọc: Bác viết bài cho hơn 30 tờ báo, tạp chí và mỗi ngày đọc hàng chục tờ báo trong và ngoài nước.

- Biết lựa chọn những sách báo tốt, sách báo hay và những bài thiết thực để đọc. Sách báo ở các thư viện của ta hầu hết là sách báo tốt, nhưng thị trường sách báo ngoài đời thì không ít ấn phẩm độc hại, nhảm nhí và một số báo câu khách bằng những bài viết mang tính thương mại, kích dục, mê tín dị đoan. Nếu không phải là người có nhiệm vụ nghiên cứu báo chí, thì người-đọc-có-văn-hóa không nên đọc sách báo xấu, những ấn phẩm in lậu, nhập lậu, bởi chúng thường có những thông tin sai lệch và làm hoen ố nhân cách con người.

- Đọc hiểu các sách báo, văn bản, tài liệu chuyên ngành. Đọc mà không hiểu, thì không thể gọi là người đọc có văn hóa, chẳng khác gì việc “Thực bất tri kỳ vị” (Ăn mà không biết được mùi vị của món ăn).

- Đọc có ghi chép: Dù thông minh đến mấy, trí nhớ có tốt đến đâu, nhưng khi đọc các sách báo nói chung và các tài liệu, văn bản chuyên ngành, thấy có ý hay, có tư liệu quý thì cần kịp thời ghi chép lại, rồi sắp xếp vào “kho” tư liệu của mình theo từng đề mục, từng vấn đề, để khi cần thiết thì sử dụng. Đấy là những tài liệu rất bổ ích cho công tác, học tập và nghiên cứu của mình trước mắt và lâu dài.

- Biết vận dụng các tri thức đã đọc được vào công việc hàng ngày, nhằm đạt hiệu quả cao trong công tác và học tập. V. Lênin khẳng định: “Thực tiễn là thước đo của chân lý”. Bác Hồ dạy: “Học phải đi đôi với hành” và “Lý luận phải gắn với thực tiễn”. Đọc được những tri thức khoa học, những điều hay lẽ phải, rồi biết vận dụng vào đời sống, nhằm góp phần thúc đẩy xã hội phát triển và để bản thân mình tốt đẹp hơn, công việc của mình đạt chất lượng và hiệu quả cao hơn – đấy mới là cái đích của việc đọc có văn hóa.

Nói tóm lại, Văn hóa của việc đọc sinh ra tri thức. Chính tri thức mới sinh ra sức mạnh trí tuệ để đất nước và xã hội phát triển, đồng thời tạo nên phẩm giá đích thực của mỗi Con Người.

Đào Ngọc Đệ
(Giảng viên Đại học Hải Phòng)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 403

Ý Kiến bạn đọc