Người tốt - Việc tốt

Hai lần gặp Bác Hồ

Nhân dân và cán bộ chúng ta ai cũng mong ước được dịp gặp Bác, nghe lời Bác dạy bảo, chính mắt trông thấy tác phong giản dị của người công dân thứ nhất của đất nước, vị lãnh tụ yêu quý nhất của dân tộc. Đời tôi đã hai lần được hân hạnh ấy. Mười ba năm đã qua, kỷ niệm ấy vẫn còn ghi trong tâm khảm, nay hồi tưởng lại, tôi vẫn cảm thấy cảm xúc như mới hôm qua…

Lần thứ nhất là vào dịp Đại hội Liên hoan Chiến sĩ thi đua toàn quốc đầu tiên, tổ chức ở Việt Bắc hồi tháng 5-1952.

Hôm trước ngày khai hội, một buổi sáng đẹp trời, Bác đến địa điểm họp để thăm hỏi các chiến sĩ và xem xét lần cuối cùng việc tổ chức cho được chu đáo. Thường thường, Bác đến không báo trước. Tin Bác đến truyền nhanh như chớp, mang lại niềm vui sướng đột ngột cho các chiến sĩ. Từ các gian nhà dựng rải rác trên khắp một quả đồi rộng, mọi người đổ xô ra: “Bác đến! Bác đã đến! Bác đâu? Bác đâu?”. Khu hội trường nhộn nhịp hẳn lên. Giữa tiếng reo mừng, những tràng pháo tay giòn giã, mọi người chạy ồ ra phía Bác đến, xúm quanh Bác và theo Bác đi thăm mọi nơi.

2 giờ chiều, các chiến sĩ được mời tập họp trước Đài Liệt sĩ để chụp ảnh chung với Bác. Tôi tranh thủ trước khi sắp xếp đứng chụp ảnh, tự giới thiệu với Bác: “Thưa Bác, cháu là Tú Mỡ, tức Bút Chiến Đấu, xin ra mắt Bác và cảm ơn Bác đã khuyến khích cháu rất nhiều…”. Lần đầu tiên đứng trước vị lãnh tụ vĩ đại, tôi không khỏi hồi hộp, và chỉ nói được có thế thôi… Bác niềm nở bắt tay tôi: “A! Tú Mỡ, nhà thơ bình dân. Đại hội này có nhiều đề tài hay lắm đấy, nên để ý trong tim, lắng nghe, ghi chép, về viết cho tốt”.

Sắp xếp chỗ đứng, chỗ ngồi để chụp ảnh dưới nắng hè gay gắt, ai nấy mồ hôi mồ kê nhễ nhại. Anh nhiếp ảnh cứ loay hoay ngắm, nhòm, xê người này, dịch người kia mãi chưa ổn chỗ. Bác giục: “Chú chụp ảnh liệu chong chóng lên, kẻo chúng tôi hóa ra… Tú Mỡ cả bây giờ!”. Câu nói đùa thân mật đó như một làn gió mát làm dịu cả không khí nóng bức, và riêng đối với tôi, đã đánh tan sự e lệ lúc đầu, khiến tôi càng gần gũi lãnh tụ và càng kính yêu Bác.

Vui tính không lúc nào rời Bác trong suốt thời gian Đại hội. Chiều mát, Bác đến từng tổ chiến sĩ ân cần thăm hỏi, rồi mọi người theo Bác ra một quãng đồi san phẳng để vui chơi tập thể. Hồi đó, phong trào nông tác vũ “son la son” mới gia nhập chiến khu Việt Bắc. Bác bảo các chiến sĩ: “Các cô, các chú, chiến đấu đã chiến đấu hăng, vui nhộn phải vui nhộn mạnh. Nào, ta nhảy đi!”. Đám thanh niên rất sẵn sàng, nhưng đám thiếu nữ còn sượng sùng ra ý rụt rè… Bác bảo: “Các cô còn phong kiến thế à?”. Được lời Bác khuyến khích, cả nam lẫn nữ bấy giờ mới tay cầm tay, nhảy tưng bừng giữa dàn nhạc mồm “son la son… son đô sí la son mì…” vang dội cả khu đồi. Nhìn các cháu nhảy, mắt Bác trìu mến, Bác mỉm cười, vui cái vui của đàn cháu ngoan cường. Trông Bác trẻ hẳn ra, Bác hởi lòng hởi dạ thấy những hạt giống cách mạng của Bác gieo trồng vun xới bấy lâu đã đợt đầu trổ hoa, kết quả.

Nha-van-Tu-Mo---Anh-1
Nhà văn Tú Mỡ.

Nhảy đã thỏa thuê, nghỉ. Bác hỏi một nhóm bộ đội: “Trong các chú, chú nào là chiến sĩ hạ được máy bay địch?”. Một chiến sĩ giơ tay: “Thưa Bác, cháu cùng đơn vị cháu ạ”. Bác nói: “Chỉ có súng trường mà hạ được máy bay địch, thế là giỏi. Nhưng thắng không nên kiêu mà chủ quan khinh địch. Các chú phải phổ biến chiến thuật ấy cho các đơn vị anh em để hạ được nhiều máy bay nữa”.

Anh em bộ đội sung sướng quá! Muốn biểu lộ lòng phấn khởi một cách nhiệt liệt, một chiến sĩ ra khẩn khoản xin Bác một đặc ân: “Thưa Bác, Bác cho phép chúng cháu làm kiệu công kênh Bác đi một vòng”. Bác cười khoan dung, lưỡng lự, rồi nhìn ở phía xa mấy người đang đi tới, Bác chỉ tay: “Đây kia, các chú trông thấy không? Đại tướng của các chú sắp tới. Bác cho phép các chú công kênh Đại tướng của các chú đấy!”. Ai cũng chịu Bác nhanh trí, ứng biến tuyệt khéo và rất được lòng… Và, trong lúc các chiến sĩ bộ đội kiệu Đại tướng Võ Nguyên Giáp giữa tiếng hoan hô náo nhiệt, Bác đã rút lui từ lúc nào…

Đại hội tiến hành long trọng, tưng bừng chưa từng thấy. Bác luôn luôn chủ tọa các buổi họp; một đôi khi Bác vắng mặt hẳn là vì bận công việc gì quan trọng lắm. Bác chủ tọa không những với uy tín của Chủ tịch nước, với tinh thần cha đẻ của phong trào “Thi đua ái quốc”, mà đặc biệt là với cả tấm lòng bác cháu đối với các chiến sĩ. Cho nên có Bác là hội nghị trong tôn nghiêm vẫn nồng nàn không khí đầm ấm của một gia đình lớn… Bác có những lời nói hiền hậu, những cử chỉ thân mật cởi mở lòng người.

Khi chiến sĩ công nghiệp số 1 (sau được Đại hội tặng danh hiệu Anh hùng) Ngô Gia Khảm lên đọc báo cáo thành tích, bàn tay của anh bị thương tật vì tai nạn thuốc nổ, lật giở trang giấy lúng túng, thấy vậy Bác rơm rớm nước mắt. Anh báo cáo xong, Bác nói: “Khảm là “công binh xưởng” đầu tiên của quân đội Việt Nam, đã chế tạo ra quả lựu đạn đầu tiên cho kháng chiến. Khảm bị què tay, mờ mắt, điếc tai vẫn hăng hái làm nhiệm vụ. Với tinh thần ấy, trăm thằng Tây, trăm thằng Mỹ ta cũng đánh tan (thằng đây có nghĩa là một đế quốc)”.

Bác quý trọng những nhà trí thức học rộng tài cao, nhưng Bác lại càng quý trọng những người công nhân bình thường, chỉ bằng nhiệt tình cách mạng, dám nghĩ dám làm, đã phát huy sáng kiến, khắc phục khó khăn làm nên công lớn cho kháng chiến, như chiến sĩ công nghiệp số 2 Nguyễn Văn Thường đã bắc được chiếc cầu Thụy Khẩn dài 54 thước, cao 20 thước mà không phải dùng đến gỗ với bù loong. Bác nói: “Ở các nước tư bản, người ta chỉ tin ở bằng cấp. Ở Việt Nam, chúng ta tin vào khả năng tinh thần của con người lao động. Có giai cấp công nhân lãnh đạo thì trí óc mới phát huy được khả năng”.

Bác điều khiển Hội nghị rất linh hoạt. Sau mỗi bản báo cáo, Bác lại động viên mọi người hát và hò, xen cái vui tươi vào cái trang nghiêm, nên tuy làm việc khẩn trương mà không ai thấy mỏi mệt. Buổi họp nào vắng Bác thì tôi cảm thấy như thiếu thốn một cái gì, khó ai bổ sung được.

Bác tuy tuổi già (năm ấy Bác 62 tuổi), nhưng tâm hồn cứ trẻ trung, vui hơn thanh niên. Trong buổi tối liên hoan sau Hội nghị, Bác làm “trưởng trò”, điều khiển cuộc vui như một nghệ sĩ. Lúc cuối chầu, khi mọi người đã đóng góp tài ba vào tối biểu diễn văn nghệ rất xôm trò, Bác có ý kiến mà không ai ngờ tới. Bác nói: “Bây giờ đến lượt các ông Bộ trưởng. Các ông đã được nghe chiến sĩ ca hát, phải đóng góp cái gì cho sòng phẳng chứ! Đại hội có tán thành không?”. Dĩ nhiên là Hội nghị hoan nghênh nhiệt liệt, và mấy ông Bộ trưởng tuy bị “đột kích” cũng có ngay một số tiết mục góp vui. Bác thật là chí công vô tư trong bất cứ việc nào.

Sắp sửa chiếu bóng, Bác chuyển xuống ngồi hàng ghế cuối. Bên cạnh tôi còn một chỗ trống, Bác đến ngồi cạnh tôi. Thật là niềm vui bất ngờ đến với tôi. Bác lấy thuốc lá thơm ra hút và có nhã ý mời tôi. Tôi lúng túng thực thà: “Cám ơn Bác, cháu không hút thuốc lá”. Suy nghĩ ra mới biết mình dại, thực quá hóa ngốc; đáng lẽ Bác cho là cứ nhận; hút một điếu vẫn cứ được; không hút thì đem về khoe, tặng lại anh em, chẳng quý hóa ư? Và tôi cứ tiếc mãi mà không dám nói lại.

Trời oi ả. Nhà hội trường rộng rãi thế mà ngột ngạt hơi nóng. Tôi giở quạt ra phe phẩy và quạt tạt sang phía bên để Bác cùng mát. Bác nói chuyện về văn nghệ nhân dân vừa biểu diễn, và khen ngợi văn nghệ sĩ quân đội đã có tài sáng tác tại chỗ những câu ca dao, hò vè phục vụ Hội nghị rất sát và rất kịp thời. Tôi phải thú thực với Bác rằng tôi chịu thua về mặt đó, không có tài xuất khẩu thành thi, nhất là trong hoàn cảnh náo nhiệt. Một lúc sau, Bác bảo tôi đưa quạt, Bác phe phẩy và cố ý cho tôi cùng hưởng mát.

Lại một lần nữa, tôi thấy tác phong công minh của Bác, tế nhị và chu đáo cả những việc nhỏ nhặt, tầm thường.

Chiếu bóng xong. Tối liên hoan cũng kết thúc, mọi người lục tục đứng dậy ra về. Bác vội đứng lên, giơ tay ra hiệu trật tự và nói to: “Hãy khoan đã, để cho các cháu bé ra trước, kẻo lộn xộn các bé sẽ lạc đấy!”. Chao ôi! Óc sáng suốt của Bác thật lạ lùng, hiếm có! Bác chăm lo hàng vạn việc lớn lao mà không quên sót một việc nhỏ người thường lại không nghĩ tới! Ai chú ý chăm sóc các cháu nhi đồng bằng Bác Hồ Chí Minh?

Buổi tối hôm sau, một bữa tiệc linh đình tiễn đưa các anh hùng, chiến sĩ. Bác nhanh nhẹn, niềm nở đến từng bàn để thù tiếp, mỗi bàn Bác ngồi một lát, không sót một bàn nào. Bác nói: “Hôm nay Bác thay mặt nhân dân tiếp đãi các anh hùng, chiến sĩ”. Bác xới cơm, gắp thức ăn cho mọi người, không ai từ chối được.

Tiệc xong, bát đũa ngổn ngang trên các bàn ăn. Bác điềm nhiên “thu dọn chiến trường” lại gọn ghẽ và nói: “Thu xếp lại một tí, đỡ công vất vả cho các đồng chí phục vụ”. Mọi người cảm phục, làm theo Bác. Bác thực nhân đạo chí tình, dạy cho chúng ta ý thức trong cuộc chung sống dân chủ. Mình vì mọi người, mọi người vì mình. Mỗi người biết chịu khó bận mình một tí, sẽ đỡ nhiều khó nhọc cho người khác.

Tửu hậu trà dư rồi nhưng không bao giờ quên nhiệm vụ. Trước khi chia tay, Bác hỏi các anh hùng, chiến sĩ: “Sau Đại hội trở về địa phương, các cô các chú phải làm gì?”.

Kẻ trước người sau trả lời:

- Thưa Bác, báo cáo với nhân dân sự thành công của Đại hội.

Bác đáp:

- Đúng!

- Thưa Bác, phổ biến cách làm việc của mình và nguyên nhân mình đạt được thành tích.

- Tốt!

- Thưa Bác, giúp đỡ mọi người thi đua để thành chiến sĩ như mình.

- Tốt lắm!

- Thưa Bác, gương mẫu trong công tác và đạo đức.

- Hay!

- Thưa Bác, giữ vững và phát triển thành tích của mình trong đợt thi đua mới.

- Hay lắm!… Còn gì nữa?

Thấy im, Bác mỉm cười và nói: “Còn một điều quan trọng nữa là “bảo mật”, tuyệt đối giữ bí mật nơi họp Đại hội, không nói với bất cứ ai”.

Các chiến sĩ tỉnh người! Thế đấy, một điều thông thường mà rất quan trọng trong kháng chiến, có lẽ ai cũng thực hiện, nhưng Bác cứ phải nhắc cho nhớ.

Lần thứ hai tôi được gặp Bác là vào dịp lớp học chính trị mở năm 1953, khi cuộc kháng chiến đang chuyển từ giai đoạn cầm cự sang chuẩn bị tổng tấn công. Lớp này chúng tôi gọi là “lớp tàu vét”, mở đặc biệt cho hàng ngũ trí thức, cần phải chuẩn bị tư tưởng trong giai đoạn quyết liệt nhất của cuộc kháng chiến.

Bác quan tâm đến lớp này, nên mặc dầu bận trăm công nghìn việc, Bác cũng thân đến đôn đốc và huấn thị để việc học thu được kết quả tốt.

Một buổi sớm, Bác đến thăm nơi ăn chốn ở giữa rừng của các học viên, ân cần hỏi thăm sức khỏe và công tác của từng người. Gặp tôi, Bác vẫn còn nhớ “nhà thơ bình dân” đã gặp Bác trong Đại hội liên hoan các chiến sĩ thi đua.

Buổi tối, Bác đến họp để huấn thị. Bác nói: “Hôm nay tôi nói chuyện, gặp đâu nói đấy, không chuẩn bị trước…”. Bác khiêm tốn nói vậy thôi. “Gặp đâu nói đấy” của Bác vẫn đâu có đó như đã sắp xếp trong trí Bác. Giọng Bác vẫn ấm áp, khoan thai, dịu hiền; có lúc pha vị chua chát, mỉa mai; có lúc thiết tha, đanh thép; điềm đạm mà vẫn có sức mạnh khiến lòng người sôi sục khí thế chiến đấu. Ai nấy im phăng phắc ngồi nghe như uống từng lời của Bác.

Trước hết, Bác nói về khuyết điểm của một số cán bộ, đảng viên: lên mặt dạy đời, giấu dốt; xa anh em ngoài Đảng, giao thiệp hời hợt “ngoại giao”. Bác nghiêm khắc bảo: “Như thế là không đúng với sự giáo dục của Đảng. Theo lời tuyên ngôn của Đảng, ai có khuyết điểm thì phải yêu cầu nhân dân phê bình, thành khẩn tiếp thu phê bình không sợ thấy mình có khuyết điểm, chỉ sợ không quyết tâm sửa chữa”.

Bác biểu dương tinh thần những người trí thức yêu nước, đã đáp ứng tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, hy sinh tất cả đi theo kháng chiến, chịu đựng gian khổ suốt tám chín năm, luôn luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo tất thắng của Đảng, của giai cấp công nhân. Để củng cố lòng tin ấy, Bác nhấn mạnh: “Đảng có chủ trương “Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi”, vậy có quyết tâm thực hiện không? Nhất định có! Đảng có đủ cán bộ có năng lực không? Nhất định có! Việc học tập chính trị không ngoài mục đích ấy.
Phải làm cho toàn dân hiểu chính sách của Đảng”.

Lời huấn thị của Bác đã tôi thép thêm cứng cho trí thức. Lớp học thu được kết quả tốt và kết thúc trong một tối liên hoan đơn giản nhưng đầy phấn khởi vì có Bác đến dự. Tối hôm ấy, một việc làm cho mọi người hết sức cảm động là Bác đem biếu mấy cụ cao tuổi nhất mỗi cụ một tấm áo lụa của nhân dân gửi tặng Bác. Cao quý thay tấm lòng nhường cơm sẻ áo của vị lãnh tụ kính yêu!

Tiết mục của tối liên hoan có ngâm thơ và ca hát. Khi tôi lên hát kính dâng Bác một bài chèo, Bác vui vẻ nói:

- Tú Mỡ, chèo thì phải chèo cho vững!

Tôi đáp:

- Vâng, cháu xin hứa sẽ chèo thật vững.

Lời dạy của Bác thật ý nhị, đúng tâm lý tôi, một nhà thơ trào phúng, vừa vui mà thâm thúy biết bao!

Lời khuyên của Bác đã thấm vào lòng tôi và luôn luôn cổ vũ tôi làm tròn nhiệm vụ của Bút Chiến Đấu và trên đường đi tới những khi gặp sóng to gió lớn, tôi vẫn nhớ lời Bác không phút nào nản chí mà ngã tay chèo…

Tháng 4-1965

Nhà văn Tú Mỡ
(Từ sách Bác Hồ với văn nghệ sĩ.
NXB Văn hóa – Văn nghệ – 2013)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 477

Ý Kiến bạn đọc