Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Góp ý với tạp chí Xưa & Nay

(Về bài viết của ông Nguyễn Văn Nhật trên tạp chí Xưa & Nay, số 490, tháng 12-2017)

Trong tạp chí Xưa & Nay, số 490 (tháng 12-2017), có bài viết về “Thể chế “Việt Nam Cộng hòa” trong lịch sử Việt Nam hiện đại” của ông Nguyễn Văn Nhật. Được biết ông Nguyễn Văn Nhật có học vị tiến sĩ, học hàm phó giáo sư, từng giữ chức vụ viện trưởng Viện Sử học Việt Nam, nhưng bài viết nầy của ông có nhiều kiến thức chưa chính xác và nhiều nhận thức sai lầm, do đó chúng tôi xin góp ý như sau:

1. Ông Nguyễn Văn Nhật viết: “Theo Hiệp định, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quản lý phần lãnh thổ phía Bắc từ vĩ tuyến 17 trở ra còn nửa phần phía Nam thuộc về Quốc gia Việt Nam”.

Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam được ký giữa đại diện Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam và đại diện Tổng tư lệnh Quân đội Liên hiệp Pháp ở Đông Dương.

Điều 1 của Hiệp định viết: “Lực lượng QĐNDVN ở phía Bắc giới tuyến (quân sự tạm thời), lực lượng QĐ Liên hiệp Pháp ở phía Nam giới tuyến.

Khoản a, điều 14 viết: “Trong khi đợi tổng tuyển cử để thực hiện thống nhất nước Việt Nam, bên nào có quân đội của mình tập hợp ở vùng nào theo quy định của Hiệp định nầy thì bên ấy sẽ phụ trách quản trị hành chánh ở vùng ấy. (Bộ Ngoại giao, Hiệp định Genève – 50 năm nhìn lại, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội – 2015, tr. 339, 343)

Trong 47 điều của Hiệp định, không có từ nào nói tới Quốc gia Việt Nam!

2. Ông Nguyễn Văn Nhật viết: “Sau 2 năm, tức đến năm 1956, hai miền Bắc – Nam sẽ tiến hành hiệp thương, tổng tuyển cử, thống nhất đất nước. (tr. 13, cột giữa)

Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève viết: “Kể từ ngày 20-7-1955, những nhà đương cục có thẩm quyền trong hai vùng sẽ có những cuộc gặp gỡ để thương lượng về vấn đề đó (tức vấn đề tổ chức tổng tuyển cử).

Như vậy từ khi ký Hiệp định Genève (20-7-1954) đến ngày tổ chức hiệp thương (20-7-1955) là 1 năm (chứ không phải 2 năm).

Bằng chứng của vấn đề hiệp thương là ngày 19-7-1955 – thi hành Hiệp định Genève – “Chính phủ VNDCCH gởi công hàm cho chính quyền miền Nam đề nghị cử đại biểu tham dự hội nghị hiệp thương bắt đầu từ ngày 20-7-1955 để bàn vấn đề tổng tuyển cử tự do trong toàn quốc theo đúng như Hiệp định Genève qui định” (Viện Sử học, Việt Nam những sự kiện 1945-1986, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1990, tr. 106). Mỹ – Diệm đã chủ trương không thực hiện Hiệp định Genève nên không thể có hiệp thương giữa “những nhà đương cục có thẩm quyền trong hai vùng” như “Tuyên bố cuối cùng” đã ghi.

Cũng theo “Tuyên bố cuối cùng” của Hiệp định Genève, thời điểm tháng 7-1956 mới là thời điểm tổng tuyển cử nhằm thống nhất đất nước và thời điểm đó mới đúng là hai năm sau khi Hiệp định Genève ký kết.

3. Ông Nguyễn Văn Nhật viết: “Giữa năm 1956, sau khi tổ chức bầu cử ở miền Nam, Ngô Đình Diệm tuyên bố lập nước “Việt Nam Cộng hòa”. (tr.13, cột giữa)

Ngày 23-10-1955, Ngô Đình Diệm, dưới sự đạo diễn của đại tá tình báo Mỹ Edward Lansdale tổ chức “trưng cầu dân ý” gian lận để truất phế Bảo Đại và suy tôn Ngô Đình Diệm làm quốc trưởng. Ba ngày sau, 26-10-1955, Ngô Đình Diệm tuyên bố “Hiến ước tạm thời” tại Dinh Độc Lập trước vài vạn dân chúng: “VN (Việt Nam) là một nước Cộng hòa, Quốc trưởng lấy danh hiệu là tổng thống VNCH (Việt Nam Cộng hòa)” (Đoàn Thêm, Hai mươi năm qua, việc từng ngày 1945-1964, Nam Chi tùng thư, Sài Gòn, 1966, tr. 184). Như vậy, VNCH được thành lập ngày 26-5-1955 chứ không phải “giữa năm 1956” như ông Nguyễn Văn Nhật viết.

So-490--Gop-y-voi-tap-chi-Xua-va-Nay---Anh-1
Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Tạ Quang Bửu (ngồi bên phải), phái đoàn VNDCCH và tướng Pháp Henri Delteil,
Quyền Tổng Tư lệnh lực lượng Liên hiệp Pháp ở Đông Dương, phái đoàn Pháp ký Hiệp định đình chỉ chiến sự
tại Việt Nam – Ảnh: Tư liệu TTXVN

4. Ông Nguyễn Văn Nhật viết: “Mỹ tiếp tay để Ngô Đình Diệm lập quốc gia riêng ở nam vĩ tuyến 17…”. (tr. 13, cột giữa)

Nói như vậy là nói ngược với thực tế vì thực tế việc chia cắt nước ta, không hiệp thương, tổng tuyển cử để thống nhất đất nước Việt Nam là chủ trương của Mỹ, Ngô Đình Diệm chỉ là tay sai khi thực hiện chủ trương của Mỹ mà thôi. Chúng ta hãy cùng đọc lại những bằng chứng qua các ghi chép sau đây:

- Tại tạp chí Hồn Việt, số 104 (tháng 6/2016) ở cuối trang 33 và đầu trang 34 ghi như sau: “Thật ra kịch bản nầy không hề “ngẫu hứng” mà đã được Mỹ lên kế hoạch chi tiết từ trước. Trong hai ngày 8 và 12-8-1954 (tức chỉ 2, 3 tuần sau ngày ký Hiệp định Genève), Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ đã họp; và ngày 20-8-1954 thông qua Nghị quyết NSC 5429/2 đề ra các việc phải làm: “Ủng hộ một chính phủ bản xứ mạnh và xây dựng lực lượng quân sự bản xứ có thể bảo đảm an ninh nội địa”, đưa ra một loạt biện pháp như: “bầu cử một Quốc hội, soạn thảo một hiến pháp, truất phế Bảo Đại một cách hợp pháp, gắn cải cách điền địa với tái định cư dân di cư, trao viện trợ trực tiếp cho người Việt Nam không thông qua Pháp nữa….“ (The Pentagon Papers, ấn bản của thượng nghị sĩ Gravel, NXB Beacon Press, Boston, 1971, tập 1, tr. 204). Và… “Ngô Đình Diệm đã thực hiện trọn vẹn Nghị quyết NSC 5429/2 ngày 20-8-1954 nói trên của Washington”.

- Ở tạp chí Hồn Việt, số 119 (tháng 10/2017), trang 15 ghi: “Hồ sơ Lầu Năm Góc tiết lộ: Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ họp trong hai ngày 8 và 12-8-1954 đã ấn định chính sách “3 bước”, loại Pháp khỏi Nam Việt Nam (Văn kiện NSC 5429/2 ngày 20-8-1954) và Ngô Đình Diệm đã thực hiện đúng các bước trên trong hai năm 1955-1956 (The Pentagon Papers, NXB Bantam Books, New York, 1971, trang 1 – Trích lại trong Lịch sử Nam bộ kháng chiến, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2010, tập II, trang 44). Và John F. Kennedy, thượng nghị sĩ rồi sau đó là Tổng thống Mỹ đã từng phát biểu về chế độ VNCH: “… Chúng ta chủ trì khi nó ra đời, chúng ta đã viện trợ cho nó sống, chúng ta đã giúp để định hướng cho tương lai của nó. Vì ảnh hưởng trên các lãnh vực chính trị, kinh tế và quân sự của Pháp ở Việt Nam đã giảm, ảnh hưởng của Mỹ gia tăng một cách đều đặn và vững chắc. Đó là con cháu của chúng ta – chúng ta không thể bỏ rơi chúng…”.

- Cũng trên tạp chí Hồn Việt, số 120 (tháng 11-2017), trang 26 ghi: “Hiệp định Genève 1954 dự kiến sẽ tổ chức tổng tuyển cử ở cả hai miền Nam – Bắc vào tháng 7-1956 để tái lập nền thống nhất của Việt Nam. Ngoại trưởng Dulles nhận định: “Một sự thật không còn nghi ngờ gì nữa: bầu cử cuối cùng cũng có nghĩa là thống nhất Việt Nam dưới quyền Hồ Chí Minh” (8). Tổng thống Eisenhower dự đoán: “Hồ Chí Minh có thể thu được 80% số phiếu” (9). Do đó Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ quyết định phải “ngăn ngừa cộng sản giành được thắng lợi thông qua cuộc bầu cử trên toàn Việt Nam” (10), phải duy trì một miền Nam Việt Nam nằm trong quỹ đạo của Mỹ, đồng thời nhấn mạnh: cần làm sao “để không tạo ra ấn tượng [Mỹ] ngăn cản cuộc tuyển cử” (11). Mặt khác muốn loại bỏ ảnh hưởng của Pháp ở Việt Nam, ngay từ tháng 8-1954 Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ chủ trương phải truất phế Bảo Đại một cách hợp pháp” (Nghị quyết NSC 5429/2) (12). Và “Mỹ đã chọn Ngô Đình Diệm, người từng sống lưu vong tại Mỹ từ năm 1950 với sự ủng hộ của Hồng y Francis Spellman (tổng tuyên úy của quân đội Mỹ), tướng tình báo William J. Donovan, các nghị sĩ Mike Manfield, John F. Kennedy (cả ba ông nầy cùng đạo Công giáo với Diệm) cùng một số chính khách khác, trong đó có hai anh em nhà Dullers (Ngoại trưởng John F. Dulles và Giám đốc CIA Allen Dulles)… Mỹ xem ông ta là người – và là người duy nhất – có thể dựng lên một quốc gia mới (13) ở phía Nam vĩ tuyến 17 mà sau đó mang tên là nước Việt Nam Cộng hòa. Và ở trang 27 ghi: “Tướng Paul Harkins, chỉ huy đầu tiên của Bộ tổng tư lệnh viện trợ quân sự Mỹ ở Việt Nam MACV, thì dùng những từ Công giáo cho phù hợp với tôn giáo của hai tổng thống Việt Nam và Mỹ lúc đó: “Mỹ là Mẹ bề trên (mother superior) và là cha nghe xưng tội (father confessor) của Diệm từ khi ông nầy cầm quyền và nương tựa mạnh vào chúng ta (19).

Tháng 5-1957, ông Diệm trở lại thăm nước Mỹ trong hai tuần lễ. Trong dịp nầy, ông ta tuyên bố một câu không thể phản động hơn: “Biên giới nước Mỹ kéo dài tới vĩ tuyến 17 (20).

(Các chú thích số 8, 9, 10, 11, 12, 13, 19 và 20 xin xem ở Hồn Việt số 120, tr.29)

- Trong tác phẩm “Lời phán quyết về Việt Nam của Joseph A. Amter (Sách Việt Nam Verdict – A Citizen’s History, tác giả Joseph A. Amter, NXB Continuum, New York, 1982, Nguyễn Tấn Cưu dịch, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1985), trang 45 ghi: “Mục tiêu quan trọng tiếp theo của CIA là gạt Bảo Đại và đặt Diệm lên thay, nhằm phá hoại có hiệu quả cuộc đình chiến Genève. Eisenhower xưng hô với Diệm “thưa tổng thống” và “người đứng đầu nhà nước” ngay khi Bảo Đại còn là quốc trưởng.

So-490--Gop-y-voi-tap-chi-Xua-va-Nay---Anh-2
Toàn cảnh Hội nghị Geneva – Ảnh: Internet

Trang 46: “Với việc Bảo Đại bị gạt, và tên Diệm bù nhìn của Mỹ bây giờ hoàn toàn nắm sự kiểm soát, người Pháp rút lui, để Nam Việt Nam lại trong tay của chính phủ Mỹ và người thay thế của họ”.

Trang 49: “Chính phủ Mỹ mua và trả tiền cho toàn bộ chế độ của hắn (tức Ngô Đình Diệm – NV), cả chì lẫn chài. Vào khoảng năm 1958, Mỹ không chỉ trả tất cả chi tiêu của các lực lượng vũ trang của Diệm, mà còn trả 80 phần trăm tất cả các chi tiêu của chính phủ Diệm nữa”.

Với chừng đó ý kiến, thiết nghĩ đã đủ để thấy không phải đế quốc Mỹ chỉ là kẻ “tiếp tay” cho Ngô Đình Diệm như ông Nguyễn Văn Nhật đã viết, mà chính Ngô Đình Diệm mới là kẻ đã “tiếp tay” cho Mỹ phá hoại Hiệp định Genève nhằm chống lại việc thống nhất đất nước Việt Nam và áp đặt chế độ thực dân kiểu mới lên một phần lãnh thổ nước ta.

Viết như ông Nguyễn Văn Nhật, mấy đời tổng thống Mỹ sẽ hết sức cảm ơn vì ông đã biện hộ dùm cho người Mỹ, họ chỉ là kẻ “tiếp tay” thôi chứ Ngô Đình Diệm mới là kẻ chủ động chủ trương lập quốc gia riêng ở nam vĩ tuyến 17 của Việt Nam!!!

5. Ông Nguyễn Văn Nhật viết: “Ngô Đình Diệm không tán thành việc chính quyền Kennedy muốn tăng mạnh số cố vấn Mỹ ở miền Nam vì cho rằng chính sách của Kennedy đe dọa chủ quyền của Việt Nam Cộng hòa và trái với sự nghiệp và lý tưởng quốc gia của ông ta”. (tr. 14, cột giữa)

Trước hết nói về “chủ quyền” và “lý tưởng quốc gia”. Một khi đã có những ý tưởng như vậy thì sao lại có thể phát biểu một câu làm “mát lòng” người Mỹ và phản lại “lý tưởng quốc gia” khi sang thăm lại Mỹ từ 6-5 đến 20-5-1957. Nguyên văn như sau: “The bordes of the United states exend to the 17th parallel” (Biên giới nước Mỹ kéo dài đến vĩ tuyến 17 – trích lại bởi Joseph Buttinger, Việt Nam: A Dragon Embattled, NXB Praeger, New York, 1967, tập II, tr. 1010).

Về vấn đề đổ thêm quân Mỹ vào miền Nam Việt Nam, Joseph A. Amter trong “Lời phán quyết về Việt Nam”, trang 61, viết như sau: “Khi trở về Washington, Johnson báo cáo với tổng thống là phải gởi quân chiến đấu sang Việt Nam để cứu nhân dân Việt Nam khỏi những người cộng sản. Bản thân Diệm cũng có cảm giác mâu thuẫn nhau về kiến nghị nầy. Mặc dù hắn muốn sự ủng hộ tài chính và quân sự của Mỹ, hắn vẫn sợ sự dính líu quân sự của Mỹ có thể có nghĩa là hắn sẽ mất quyền kiểm soát của chính hắn”. Và trong thực tế quân số Mỹ trong thời Diệm, từ đầu năm 1961 chỉ có 685 cố vấn quân sự đến tháng 10-1963, trước khi Diệm và Kennedy lần lượt bị giết, con số đó đã lên tới 16.732 người (theo The Pentagon papers do báo New York Times công bố, NXB Bantam, New York, 1971, tr. 79).

Về số liệu, tuy chưa thật trùng khớp nhau nhưng Joseph A. Amter cũng đã viết: “Suốt năm 1962 qua năm 1963, một sự xây dựng từng bước đã được bắt đầu đưa con số lên đến gần 18.000 “cố vấn” Mỹ ở Nam Việt Nam (sách đã dẫn, tr. 63).

Dưới thời Kennedy – Diệm, Mỹ bắt đầu rải chất độc hóa học (còn gọi là chất diệt cỏ hay chất làm rụng lá cây) mà hậu quả đến nay đã 55 năm sau khi họ chết vẫn còn tác hại nghiêm trọng (chưa kể trong 9 năm Diệm cầm quyền ở miền Nam, hàng trăm ngàn đồng bào đã bị giết, bị nhục hình, tra tấn và tù đày, có thể nói, thời kỳ nầy đã xảy ra những cuộc tàn sát, khủng bố khốc liệt nhất trong lịch sử Việt Nam). Ý thức “chủ quyền”, lý tưởng “quốc gia” gì mà lại đồng tình và trực tiếp thực hiện những hành động dã man, giết hại đồng bào mình như vậy!?

Tóm lại, khi Diệm đã tự biến mình thành con cờ trong tay của ngoại bang, hồn cốt của ông ấy đã là “con cháu” của Mỹ như Kennedy đã nói thì những ngôn từ hoa mỹ như: chủ quyền, lý tưởng quốc gia chỉ là thứ để trang trí, để lừa mỵ mà thôi.

So-490--Gop-y-voi-tap-chi-Xua-va-Nay---Anh-3
Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng – Trưởng đoàn đàm phán của Việt Nam DCCH tại Hội nghị Geneva
Ảnh: Freddy Bertrand

6. Ông Nguyễn Văn Nhật viết: “Theo như hồi ký của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Mc. Namara, chính CIA đã hậu thuẫn cho việc lật đổ này và Mc. Namara xem đó là một sai lầm nghiêm trọng mà Hoa Kỳ mắc phải. Tuy nhiên Hoa Kỳ không chủ trương phải giết hại ba anh em Diệm, Nhu, Cẩn mà đó là do quân đảo chính tự tiến hành”.

Câu nầy có hai ý không chính xác:

Một là, “theo hồi ký của Mc. Namara, chính CIA đã hậu thuẫn cho việc lật đổ Diệm, Nhu năm 1963”. Trong hồi ký của Mc. Namara không có chỗ nào nói như vậy cả. Ông Nguyễn Văn Nhật cần đọc lại sách nầy để xác định lại cho rõ. Thực ra, trong mùa thu năm 1963, chỉ có các quan chức Bộ Ngoại giao Mỹ và đại sứ Henry Cabot Lodge muốn lật đổ cả Diệm lẫn Nhu, còn giới quân sự (Bộ trưởng Quốc phòng và Chủ tịch Hội đồng các tham mưu trưởng liên quân) cũng như giới tình báo (giám đốc CIA John Mc. Con, phó giám đốc Richard Helm, chuyên gia CIA về Việt Nam William Colby…) đều không muốn đảo chính, chỉ đòi loại bỏ Nhu nhưng giữ Diệm ở lại vì họ muốn có sự ổn định chính trị ở Nam Việt Nam, sợ đảo chính sẽ ảnh hưởng tới nỗ lực chiến tranh và nhất là vì họ chưa tìm ra người xứng đáng để thay Diệm. John Richarson, trưởng chi nhánh CIA ở Sài Gòn, miễn cưỡng làm theo lệnh của đại sứ Lodge nên bị Lodge thay thế (5-10-1963). Do đó, nói CIA hậu thuẫn việc lật đổ là nói theo quán tính (vì CIA thường đứng sau các cuộc đảo chính) nhưng không chính xác trong trường hợp nầy.

Hai là, “Hoa Kỳ không chủ trương phải giết ba anh em Diệm, Nhu, Cẩn”. Nói như vậy cũng chưa chính xác vì lúc nầy, nội bộ ban lãnh đạo Hoa Kỳ bất đồng ý kiến sâu sắc về vấn đề Diệm, Nhu nên nói Hoa Kỳ không chủ trương chung chung như vậy là chưa thấu đáo. Cụ thể, vào lúc 7 giờ sáng ngày 2-11-1963, Diệm gọi điện thoại cho Cabot Lodge để cầu cứu trước khi đầu hàng phe đảo chính nhưng Lodge đã “bỏ máy xuống và đi tìm cái gì đó”. Khi trợ lý của Lodge là Mike Dunn đề nghị Lodge cho phép Dunn đến nhà thờ Cha Tam để cứu Diệm và Nhu “bởi vì chúng (tức phe đảo chính) sẽ giết họ mất” nhưng Lodge ngăn lại: “Chúng ta không thể dính líu như vậy được”.

Diệm cũng gọi cho tướng Dương Văn Minh – người cầm đầu cuộc đảo chính – xin được rời khỏi Việt Nam an toàn. “Tướng Minh hỏi sứ quán (Mỹ) có thể cho một cái máy bay cho Diệm và Nhu đi ra khỏi nước không. Conein (người thay mặt đại sứ Lodge để liên lạc trực tiếp với phe đảo chính) gọi cho chi cục CIA và được đáp rằng phải mất 24 giờ đồng hồ mới thu xếp được một chiếc máy bay có thể đưa hai anh em bay không ngừng tới nước tỵ nạn” (Zalin Grant, Giáp mặt với phượng hoàng, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 1993, tr. 271-272).

Hậu quả của việc Lodge không cho phép Dunn đi cứu Diệm và Nhu và của việc 24 giờ nữa mới có máy bay đưa họ ra nước ngoài là cái chết thảm khốc của hai anh em họ Ngô trong xe bọc thép.

Sau khi đảo chính xảy ra ở Sài Gòn, Ngô Đình Cẩn xin tỵ nạn ở tòa lãnh sự Mỹ ở Huế. Sau đó, Mỹ đưa Cẩn vào Sài Gòn. “Nhưng khi tới Sài Gòn thì Cẩn được giao lại cho Lou Conein và sau đó cho những người lãnh đạo đảo chính theo lệnh của Lodge (Người trích nhấn mạnh) (Zalin Grant, sđd, tr. 275). Mấy tháng sau, Cẩn bị xử tử tại Sài Gòn (ngày 9-5-1964). Khi đó Lodge vẫn còn là đại sứ Mỹ tại Nam Việt Nam.

Với tư cách là người đại diện cao nhất của nước Mỹ ở VNCH, Lodge hoàn toàn có thể cứu mạng sống của ba anh em nhà họ Ngô nhưng ông ta không làm.

Lou Conein thì kết luận bằng một câu ngạn ngữ Pháp: “Người ta không thể làm món trứng rán mà không phải đập bể mấy cái trứng” (On ne fait pasd’omelette sans casserles oeufs) (Trần Văn Đôn trích dẫn trong hồi ký Việt Nam nhân chứng, NXB Xuân Thu, California, 1989, tr. 228).

7. Ông Nguyễn Văn Nhật viết: “Ngày 22 tháng 4, Nguyễn Văn Thiệu từ chức Tổng thống Việt Nam Cộng hòa và rời bỏ Việt Nam. Tổng thống Dương Văn Minh, người được đề cử vào chức vụ nầy vào ngày 27 tháng 4 năm 1975…”.

Câu nầy cần ghi lại cho đúng. Chính xác là Nguyễn Văn Thiệu từ chức ngày 21-4 chứ không phải 22-4 và đến ngày 25-4 Thiệu rời khỏi Sài Gòn. Ngay khi Thiệu từ chức tổng thống thì Trần Văn Hương với tư cách là phó tổng thống được trao lại nhiệm vụ tổng thống. Đến ngày 28-4, Hương cũng từ chức và giao lại chức tổng thống cho tướng Dương Văn Minh.

8. Ông Nguyễn Văn Nhật viết: “Tuy tổ chức nhà nước của “Đệ nhất cộng hòa” và “Đệ nhị Cộng hòa” có khác nhau, song đều được thành lập theo chế độ Cộng hòa và về cơ bản tương đối thống nhất.

+ Lập pháp. Quyền lập pháp thuộc về Quốc hội với Hạ nghị viện (các thành viên được gọi là dân biểu với nhiệm kỳ 4 năm) và Thượng viện (các thành viên được gọi là nghị sĩ, nhiệm kỳ 6 năm).

Viết như vậy chỉ đúng một nửa, câu nầy chỉ đúng với “Đệ nhị Cộng hòa” nhưng không đúng với “Đệ nhất Cộng hòa”. Dưới thời Ngô Đình Diệm, Quốc hội chỉ có một viện thôi.

9. Ông Nguyễn Văn Nhật viết: “Lực lượng quân đội của chính quyền Việt Nam Cộng hòa được gọi là quân lực Việt Nam Cộng hòa, được thành lập năm 1955 với nòng cốt là lực lượng quân đội quốc gia Việt Nam trong Liên hiệp Pháp, chủ yếu là Bảo an đoàn, Bảo chính đoàn…” (tr. 15, cột 3)

Việc xác định quân đội Việt Nam Cộng hòa với nòng cốt là lực lượng quân đội Quốc gia Việt Nam trong Liên hiệp Pháp, chủ yếu là Bảo an đoàn, Bảo chính đoàn là không đúng. Nói quân đội VNCH với nòng cốt là quân đội Quốc gia Việt Nam thì được, còn nói “chủ yếu Bảo an đoàn và Bảo chính đoàn” lại không chính xác.

Bảo chính đoàn là lực lượng quân sự địa phương do tổng trấn Bắc phần Nghiêm Xuân Thiện thành lập tháng 7-1948. Đồng thời với BCĐ còn có 2 lực lượng địa phương khác là Việt Binh đoàn (do tổng trấn Trung phần Phan Văn Giáo thành lập) và Vệ binh Nam Việt.

Quân đội Quốc gia Việt Nam được thành lập ngày 11-5-1950 trên cơ sở tập hợp 3 lực lượng quân sự địa phương nói trên cùng các lực lượng quân sự của các giáo phái…

Ngày 8-4-1955, thủ tướng Ngô Đình Diệm lập Bảo an đoàn làm nhiệm vụ Cảnh sát hành chính, bình định và đảm bảo an ninh lãnh thổ, trực thuộc Bộ Nội vụ (chứ không thuộc Bộ Quốc phòng). Sau khi truất phế Bảo Đại, Ngô Đình Diệm lập quân đội VNCH (26-10-1955) trên cơ sở tiếp thu và cải tổ quân đội Quốc gia VN đã có trước đó. Lúc nầy Bảo an đoàn vẫn thuộc Bộ Nội vụ, QĐ VNCH thuộc Bộ Quốc phòng. Như vậy Bảo an đoàn đâu phải là lực lượng “chủ yếu” khi thành lập QĐ VNCH.

10. Ông Nguyễn Văn Nhật viết: “Đến cuối năm 1975, toàn bộ quân lực Việt Nam Cộng hòa gồm có 1.351.000 quân, trong đó có 495.000 quân chủ lực, 475.000 quân địa phương, 381.000 quân “Phòng vệ dân sự” có vũ trang”. (tr. 15, cột 3)

Không đúng. Quân lực VNCH gồm 3 bộ phận:

- Chủ lực quân.

- Địa phương quân (trước 7-5-1964 gọi là Bảo an đoàn).

- Nghĩa quân (trước 12-5-1964 gọi là Dân vệ đoàn).

Dân vệ đoàn (thành lập ngày 4-4-1956, sau đổi thành Nghĩa quân) khác hẳn với Phòng vệ dân sự (thành lập năm 1964, đổi thành Nhân dân tự vệ năm 1968). Không thể nhầm Nghĩa quân với Phòng vệ dân sự được.

11. Ông Nguyễn Văn Nhật viết: “Kinh tế Việt Nam Cộng hòa đạt được thành tựu đáng kể, nhất là ở lĩnh vực phát triển nông thôn. Chương trình cải cách ruộng đất với luật “người cày có ruộng” cùng các chương trình “canh tân hóa nông nghiệp”, “hiện đại hóa nông thôn” đã làm thay đổi nền kinh tế, xã hội và chính trị ở phần lớn khu vực nông thôn”.

Đọc câu nầy tôi thật sự thấy xót xa. Chuyện nông thôn miền Nam trong thời Mỹ – Diệm – Thiệu là một chuỗi dài đau khổ đến cùng cực vậy mà lại được nhà Sử học đánh giá bằng một câu với những từ ngữ hết sức “mỹ miều” như trên. Tài liệu về vấn đề nầy tràn ngập, không biết khi viết câu nầy ông Nguyễn Văn Nhật có tham khảo không? Chỉ đơn cử một tài liệu mà tôi đang sử dụng cho bài viết nầy, đó là sách “Lời phán quyết về Việt Nam” của tác giả – một người Mỹ – Joseph A. Amter – Xuất xứ quyển sách tôi đã có ghi ở trên. Tôi xin trích một số đoạn sau đây:

Trang 50: “Diệm và chính phủ Sài Gòn cũng có được sự ủng hộ của giai cấp thượng lưu quý tộc là giai cấp chiếm phần lớn đất đai của Nam Việt Nam. Diệm và Mỹ đứng về phía những người quý tộc Việt Nam đó mà ước tính số lượng khoảng 480.000 người. Phần lớn thành viên của tập đoàn đầu sỏ chính trị đó là con cháu của giai cấp địa chủ phong kiến rất có ảnh hưởng trong thời kỳ thuộc địa Pháp… Mỹ và Diệm để cho hệ thống cũ “cho thuê cắt cổ” này tiếp tục sự nghiệp. Vì vậy các địa chủ giàu vẫn có thể ở lại Sài Gòn và ở các nơi khác để đầu tư tiền cho vay của họ trong các ngân hàng Thụy Sĩ hoặc trong các hộp đêm và tiệm nhảy của Việt Nam. Mối quan tâm duy nhất của chúng đối với nông dân là số tiền chúng có thể xoáy được từ họ”.

Trang 53 và 54: “Ở nông thôn, Diệm hoàn toàn triệt bỏ chính sách ruộng đất được lòng dân của Việt Minh trước đây. Năm 1954, sau khi đánh bại người Pháp, Cộng sản đã lấy tất cả đất đai đã được giải phóng chia cho nông dân. Tác động của cử chỉ đó rất sôi nổi. Như một chiến sĩ du kích đã thừa nhận: “bọn không hiểu được người nông dân cùng khổ như thế nào. Khi kháng chiến giải quyết vấn đề ruộng đất thì ở nông thôn có hạnh phúc và nổi dậy mạnh mẽ. Ý nghĩa cụ thể của nền độc lập là bảo vệ ruộng đất”. Rồi thình lình đúng vào lúc người nông dân nghĩ rằng ruộng đất là của họ, thì Diệm nhảy ra sân khấu và dùng sức mạnh giật lấy ruộng đất của họ. Tệ hơn nữa là hắn chuyển quyền sở hữu ruộng đất cho bạn bè của hắn là những địa chủ vắng mặt đến sống ở Sài Gòn. Đáng ra được làm chủ một mảnh đất nhỏ, mỗi một nông dân lại trở thành một tá điền lần nữa, chịu những thuế mới cho chính phủ và cho giai cấp có đặc quyền đặc lợi”.

Chuyện ruộng đất đâu chỉ có vậy, việc “gán tội”, “ép tội” theo kháng chiến để cướp ruộng, giựt ruộng thậm chí cướp vợ, cướp con, cướp tiền, cướp của xảy ra cùng khắp ở nông thôn. Tiếng kêu khóc vang động cả đất trời. Chính sách lập Khu trù mật, Khu dinh điền rồi sau đó là “Ấp chiến lược” thật sự là Mỹ – Diệm – Thiệu đã xây dựng một hệ thống nhà tù, những trại tập trung khổng lồ để nhốt dân vào đó nhằm cách ly với Cộng sản và phân loại dân đến từng hộ gia đình. Ra vô “Ấp chiến lược” bị xét hỏi, moi móc từng lon cơm, đến cả cái lai quần, lai áo. Sống còn không xong thì làm sao có chuyện làm ăn, phát triển.

12. Ông Nguyễn Văn Nhật viết tiếp: “Chính sách phát triển kinh tế đã có những thành tựu quan trọng về sản xuất và phân phối lúa gạo, về quản lý thị trường, về chính sách tài chính, đưa kinh tế miền Nam phát triển theo con đường tư bản, gần hơn với mục tiêu độc lập kinh tế khi viện trợ Mỹ chấm dứt”.

Ông Nguyễn Văn Nhật nói kinh tế miền Nam phát triển đến gần hơn với mục tiêu “độc lập kinh tế”. Nói như vậy không biết ông Nguyễn Văn Nhật dựa vào đâu trong khi chính một số tác giả người Mỹ và các nhà kinh tế học VNCH đều khẳng định: kinh tế của VNCH lệ thuộc vào viện trợ của Mỹ chứ không độc lập nổi. Chúng ta cùng đọc mấy ý sau đây:

“Sau 6 năm được Mỹ viện trợ với quy mô lớn (1955-1960), VN (CH) trở thành một kẻ ăn xin thường xuyên” (GS. Milton C. Taylor viết trên tạp chí Pacific Affairs số Mùa thu 1961).

“Không có viện trợ Mỹ cho bộ máy quân sự và kinh tế của VN (CH), xứ này không thể sống còn trong 10 phút” (Bernard B. Fall, The Two Viet-Nams, NXB Praeger, New York, 1966, tr. 290).

“Không có viện trợ liên tục của Mỹ, chính phủ Nam Việt Nam sẽ chấm dứt tồn tại” (David Kaiser, American Tragedy, The Belknap Press of Harvard University Press, Massachusetts, 2000, tr. 60).

Bản thân Ngô Đình Diệm cũng thừa nhận rằng: “chính phủ Nam VN không thể tiếp tục nếu không có viện trợ Mỹ” (trích dẫn bởi David Kaiser, sđd, tr. 270).

“Nếu Hoa Kỳ cắt giảm viện trợ cho VNCH, VNCH chỉ sống được bốn tháng thôi” – GS. Nguyễn Cao Hách, phó chủ tịch Hội đồng kinh tế – xã hội VNCH.

“Viện trợ (Mỹ) còn thì còn kinh tế VN (Cộng hòa); hết viện trợ thì kinh tế VN (CH) cũng hết” – GS. Nguyễn Văn Hảo (trong phúc trình dự án thành lập quỹ phát triển kinh tế).

(Hai câu trên trích từ sách “Kinh tế VNCH dưới tác động của viện trợ Hoa Kỳ (1955-1975)” của TS. Phạm Thị Hồng Hà, NXB Công an nhân dân, 2017, tr. 259).

Qua những đoạn trích trên, chúng ta thấy sự phụ thuộc của chính quyền VNCH vào viện trợ Mỹ là rất lớn, ngay từ khi Ngô Đình Diệm về nước chứ không phải chỉ từ khi Ngô Đình Diệm bị lật đổ như ông Nguyễn Văn Nhật đã viết: “Kể từ đây (tức từ sau đảo chính 1-11-1963), sự phụ thuộc của Việt Nam Cộng hòa vào viện trợ của Hoa Kỳ ngày càng lớn, cả về tài chính cũng như quân sự. Sự can thiệp của Mỹ vào công việc nội bộ về chính trị và quân sự của Việt Nam Cộng hòa ngày càng tăng”.

Bài viết đến đây đã quá dài, nhưng vì tính hệ trọng của việc viết lại bộ lịch sử Việt Nam thời hiện đại như trong bài viết của ông Nguyễn Văn Nhật đã đề cập, nên dù lịch sử không phải là chuyên môn của mình, tôi cố gắng ghi lại một số ý như trên theo sự hiểu biết và nhận thức của mình nhằm làm rõ một số nội dung mà tôi thấy chưa chính xác để tránh những lệch lạc về nhận thức cho những ai quan tâm đến lịch sử nước nhà. Tôi hiểu rằng, sai lầm về kiến thức là điều cần tránh nhưng sai lầm về nhận thức thì nghiêm trọng hơn. Rất mong được nghe ý kiến phản hồi của tác giả bài viết trên Xưa & Nay.

17-3-2018

Cao Đức Trường
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 490

Ý Kiến bạn đọc