Tản văn

Gọi sáng

Tôi đang nghe những âm giai đầy hào khí cách mạng rồi chuyển sang trữ tình từ mười ngón tay hoa của một người không còn trẻ nữa. Tiếng piano bổng trầm, sôi sục làm sống lại một thời mà bà đã đi qua. Mặc cho ngoài kia là bụi phố, ồn ào tiếng xe qua lại của ngày nắng thành phố Hồ Chí Minh, bà độc tấu “Học sinh hành khúc”, “Tiếng gọi thanh niên” rồi “Hè về” và da diết với tình khúc Phạm Duy. Hình ảnh và tinh thần Trần Văn Ơn luôn là tấm gương soi đẹp trong lòng mỗi học sinh, sinh viên yêu nước ngày ấy… Tôi im nghe cùng sự nhớ của bà và nỗi niềm xưa đang nhen lên cháy đỏ của một người bước sang tuổi 86, vẫn yêu đời thiết tha và không ngừng cống hiến trí vận.

Vốn sinh ra trong một gia đình có truyền thống cách mạng và trí thức thời bấy giờ nên sự giác ngộ lý tưởng cách mạng của bà cùng các em là lẽ hiển nhiên. Thân phụ của bà là kỹ sư Nguyễn Văn Đức (1906 – 1987), người đồng hương cũng là đồng chí với Bác Tôn Đức Thắng. Khi Bác Tôn bị bắt đưa ra tòa xét xử (1928) vì những hoạt động chính trị trong giới công nhân cũng là lúc ông Nguyễn Văn Đức đậu Thủ khoa trường Cao đẳng Công chánh, ông đã nhờ luật sư bào chữa cho Bác Tôn và chăm lo cho Bác trong thời gian 15 năm Bác Tôn bị đày ra nhà tù Côn Đảo. Sinh thời thân phụ của bà cùng các cộng sự thân tín đã thành lập Hội Đức Trí – Thể dục và cùng nhiều trí thức thành lập Scola Club nhằm hướng dẫn, giúp đỡ học sinh, sinh viên hoạt động văn hóa xã hội, chính trị mà nòng cốt là nhóm Hoàng – Mai – Lưu (Huỳnh Văn Tiểng, Mai Văn Bộ, Lưu Hữu Phước) và Trần Văn Khê. Phải chăng cụ thân sinh bà muốn gia đình yên ổn, nước nhà hòa bình, mọi việc đều êm ấm mà đặt tên cho cả ba chị em của bà đều có chữ lót là Bình. Đặc biệt, cả ba chị em bà đều yêu âm nhạc và ý thức sâu sắc trước cảnh nước nhà bị thực dân Pháp đô hộ.

Ba-Nguyen-Binh-Minh
Bà Nguyễn Bình Minh.

Hồi nhỏ, bà học piano với bà Thái Thị Lang (dì ruột danh cầm Đặng Thái Sơn) và nhà bà trở thành nơi thường xuyên các anh chị em văn nghệ sĩ đến tập kịch và hát các bài hát lịch sử hùng hồn. Lúc đó, bà (10 tuổi) đàn accordéon, Bình Thanh (9 tuổi) đàn violon và Bình Trang (8 tuổi) đàn banjo đều tham gia chương trình của dàn nhạc thiếu nhi.

Qua tìm hiểu, tôi biết được bà là chị của hai người phụ nữ hoạt động cách mạng, xem rừng là nhà, đánh giặc cho tới khi “còn cái lai quần cũng đánh”. Đó là Nguyễn Bình Thanh và Nguyễn Bình Trang, mà Bình Trang là vợ đầu của nhà văn Nguyễn Thi (tức Nguyễn Ngọc Tấn). Vì hai em đã là “người chính thức của cách mạng”, nên bà không thể theo các em vô chiến khu như lòng nhiệt huyết đang réo gọi, mà phải ở nhà với cha mẹ. Vậy là yêu nước và đấu tranh của bà theo một hướng khác, đó là nghệ thuật và trí vận.

Thế rồi hôm nay tôi đã tìm đến địa chỉ số 89 Bis, đường Cách Mạng Tháng Tám, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh để thấy và thêm tôn kính người phụ nữ có lòng quả cảm vì quê hương đất nước, đó là Nguyễn Bình Minh (1931 – Tân Mùi). Bà đã một đời miệt mài học tập và không ngừng sáng tạo. Kết quả học tập đã chắp cánh khát vọng cống hiến của Nguyễn Bình Minh, khi trong tay đã sẵn có bằng cấp: Cử nhân Luật Khoa Đại học đường Hà Nội (1954); cử nhân Giáo khoa Sử Địa Đại học Văn khoa Sài Gòn (1960); Đệ I Tiến sĩ chuyên khoa Địa Lý tại Sài Gòn (1973). Yêu nước bằng nghệ thuật và tuyên truyền ngọn lửa đẹp đẽ ấy qua những giờ dạy là niềm vui, hành trang của người phụ nữ anh hùng đó vậy.

Tình yêu nước ở Nguyễn Bình Minh đã nhen nhúm ngày một lớn qua những mẩu chuyện được học và nghe về người dân Pháp chống Đức. Từ đó bà Bình Minh ý thức việc đi học mỗi ngày phải chào cờ tam sắc của Pháp là nỗi đau của dân tộc bị mất nước, từ đó bà đã cố gắng tìm cho bằng được hình ảnh lá cờ dân tộc để chào, thay vì phải chào cờ Pháp mỗi ngày. Nguyễn Bình Minh tâm sự: “Khi còn là nữ sinh trường “đầm” (trước 1940), mỗi lần chào cờ Pháp và thấy những gương mặt thực dân ngạo nghễ ấy, tôi đã tức tối và quyết tìm cho bằng được lá cờ Việt Nam. Từ điển Bách khoa có in một lá cờ màu vàng in hình rồng bay của triều Nguyễn. Thế là mỗi sáng chào cờ tam sắc của Pháp nhưng trong thâm tâm tôi đang chào lá cờ vàng rồng bay của đất nước mình. Rồi một ngày vui lại đến, vào năm 1941, tại Nhà hát lớn Sài Gòn chú Trần Văn Khê đã giới thiệu bài hát chính thức của Tổng hội Sinh viên Đông Dương tên là “Thanh niên hành khúc”, một sáng tác mới của nhạc sĩ Lưu Hữu Phước và mời tất cả khán giả đứng lên chào thế hệ thanh niên mới. Bình Minh với cây đàn accordéon ngồi trên sân khấu thấy mọi người đứng lên chào, kể cả khách Pháp”. Bà hãnh diện với nụ cười mãn nguyện vì được trả đũa cảnh hàng ngày phải chào lá cờ không thuộc về đất nước mình.

Tháng 8.1945, Nguyễn Bình Minh đã tham gia cách mạng tại thị xã Rạch Giá (Kiên Giang), phục vụ văn nghệ trong Ban Tuyên truyền, phát thanh tin tức. Cây đàn accordéon đã rất nhiều lần được bàn tay tài hoa của bà biểu diễn phục vụ các đồng chí chiến sĩ lên đường ra Khu Kháng chiến (huyện Thoại Sơn – An Giang).

Kể từ thế chiến II bùng nổ, trường ngưng hoạt động, học sinh phải tản cư để tránh bom đạn. Chị em bà Nguyễn Bình Minh ban đầu còn ở Bình Trị (Phú Lâm – TP.HCM) để ẩn trú ít ngày, sau phải di tản về quê Núi Sập (Long Xuyên – An Giang). Sau đó chị em bà Bình Minh lại trở về Sài Gòn, tiếp tục con đường học vấn nhưng trường cũ bị xung công, nên phải học ở trường Chasseloup Laubat (nay là trường Lê Quý Đôn) rồi trường Marie Curie. Bà học xuất sắc và hầu như năm nào cũng lãnh giải thưởng.

Những năm 1947 – 1950, bà Nguyễn Bình Minh đã tích cực gia nhập Hội Liên hiệp Học sinh thuộc Khối Thanh vận Sài Gòn – Chợ Lớn. Thuở ấy, nữ sinh Bình Minh đã tích cực thực hiện các cuộc tuyên truyền vận động học sinh trong các cuộc đấu tranh tại thành phố vào dịp sinh nhật Bác Hồ, đám tang Trần Văn Ơn, nhân ngày Quốc tế Lao động 1.5.1950, biểu tình chống Mỹ vào tháng 3.1950. Đặc biệt, những bản nhạc hùng hồn, trong sáng, đậm chất quê hương đất nước đã trở thành vũ khí sắc bén chống lại sự đầu độc văn hóa, văn nghệ đồi trụy của giặc. Lúc đó, bà Nguyễn Bình Minh đã cùng nhóm bạn học thực hiện vở kịch nhạc “Nông tác vũ” chấn động dư luận, sau khi nhóm sinh viên Luật – Y khoa biểu diễn vào Tết Hòa Bình (1955) tại Đại học Y Dược Sài Gòn, thì “Nông tác vũ” bị cấm diễn vĩnh viễn.

Qua các phong trào đấu tranh, hai cô em Bình Thanh và Bình Trang bị nhà trường đuổi học, đã vào chiến khu trực tiếp tham gia cách mạng. Lúc đó Bình Minh rất nôn nao trong lòng muốn được như hai em nhưng do yêu cầu của tổ chức, đành ở lại nội thành hoạt động kiểu nửa bí mật, nửa công khai. Bà Minh từng nói: “Không trực tiếp cầm súng giết giặc thù, không được sống cùng vùng kháng chiến, mình sẽ rèn luyện để ngày một nâng cao tinh chuyên hơn trong các lãnh vực khoa học, nghệ thuật, tư tưởng,… nhằm góp phần giáo dục những con người tốt cho xã hội”. Vậy là người phụ nữ ấy trở thành cô giáo trải qua nhiều trường và ở nhiều môn học. Những ngôi trường in dấu ấn với cô Bình Minh là trường Gia Long (nay là trường Nguyễn Thị Minh Khai) và trường nữ Trung học Đức Trí mà bà làm Hiệu trưởng ở đây từ năm 1963. Trường Đức Trí ban đầu do thân phụ của bà Bình Minh tổ chức Hội tư thục Đức Trí để thành lập trường, nhưng chính yếu là che mắt địch để thực hiện việc tiếp nhận các anh chị em kháng chiến không tập kết ra Bắc được vào dạy.

Do sống ở thành phố và dạy học ở nhiều trường nên mối quan hệ giao tế của cô giáo Nguyễn Bình Minh rộng. Chuyên ngành của bà lúc đó đang thiếu và rất cần: môn Địa Lý (dạy tại trường Đại học Văn khoa, Sư phạm, Nông Lâm, trường trung học cấp 3); môn Nghệ thuật về Ký xướng âm và Tâm lý Âm nhạc (dạy tại trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ Sài Gòn). Qua công tác giáo dục bà đã hoạt động tuyên truyền cách mạng lồng ghép trong dạy học, đó là một cách hoạt động cách mạng công khai nội thành.

Bà Nguyễn Bình Minh vẫn dạy trường công, trường tư nhưng không vào ngạch viên chức chính thức của nhà nước. Bà chia sẻ: “Vì tôi muốn được tự do, không bị áp chế dưới chế độ hành chánh của chính quyền hiện hữu. Nếu vào ngạch nhà nước có khi họ lại luân chuyển công tác cho mình về tỉnh, về huyện thì làm sao thực hiện giấc mộng trí vận và nghệ thuật thức tỉnh và khích lệ thanh niên lúc bấy giờ. Do vậy, tôi chỉ hưởng lương theo giờ dạy (không hơn 10 giờ ở trường công) nhưng được tự do hoạt động nội thành, vậy hạnh phúc quá còn gì!”.

Từ đây bà Bình Minh đã trải qua công tác Phong trào Bảo vệ Hòa bình, Ủy ban Cứu trợ Hỏa hoạn; tham gia Hội Truyền bá Quốc ngữ, Nghiệp đoàn Giáo giới Tư thục (phân bộ Đức Trí).

Kể từ năm 1954 đến 1960, bà Nguyễn Bình Minh đã chuyển sang chi bộ Trí vận thuộc Đặc khu Ủy Sài Gòn – Chợ Lớn. Bà từng đại diện sinh viên Luật trong Ban Chấp hành Tổng hội Sinh viên Việt Nam với chức vụ Thủ quỹ, rồi đấu tranh tư tưởng gay gắt với đoàn Sinh viên Hà Nội mới di cư vào Sài Gòn. Vì họ đòi giải tán Tổng hội Sinh viên trong Nam.

Không chỉ vậy, bà Bình Minh còn vận động Phong trào chống bắt lính trong sinh viên và tổ chức các trại hè cho sinh viên nòng cốt ở các trường Y khoa, Kiến trúc, Dược khoa. Song đó, bà tích cực hoạt động xã hội và gầy dựng các đoàn văn nghệ sinh viên.

Từ những hoạt động sôi nổi ấy mà bà Nguyễn Bình Minh bị địch theo dõi gắt gao. Vào tháng 4.1960, trong một lần đi chấm thi, cô giáo cách mạng ấy vừa ra khỏi xe đã bị địch câu lưu tại bót Ngô Quyền (Biệt kích 4) và tại Trại Lê Văn Duyệt suốt 10 tháng, khi thả ra đã là tháng 2.1961. Kể từ đó mọi hoạt động của bà đều bị địch theo dõi tỉ mỉ.

Để tránh mạng lưới mật vụ địch, bà Nguyễn Bình Minh đã tạm chuyển sang hoạt động kinh tế nhằm che mắt địch. Từ những năm 1968, bà Bình Minh đã xin tập sự tại Công ty Bảo hiểm và tái Bảo hiểm Sài Gòn, để trở thành Giám đốc kỹ thuật “Đông Nam Á Bảo hiểm Công ty”. Nhờ vậy đã bao phen bà tránh được sự kềm kẹp của công an, đồng thời bảo vệ được các công tác của đội quân y nội tuyến Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định. Vì yêu cầu công việc, bà đã đi nhiều nơi, chính hoạt động kinh doanh đã giúp bà Bình Minh tiếp tục mở rộng mạng lưới đấu tranh cách mạng trong lòng địch.

Sau khi đất nước hoàn toàn giải phóng thống nhất Bắc Nam chung một nhà, bà Nguyễn Bình Minh đã trở lại ngành Giáo dục và lại phấn khởi tham gia các sinh hoạt của Hội Đoàn chuyên nghiệp. Một làn sóng mới của thế hệ thanh niên đầy hứa hẹn tiến lên trên đà hội nhập quốc tế, khai phóng cho những giấc mơ gọi ngày mọc sáng bằng tiếng lao động, bằng nụ cười sẻ chia, bằng đền ơn đáp nghĩa, bằng dựng lại người. Như vậy Trí vận và Nghệ thuật vẫn luôn là con đường cháy bỏng trong người nữ anh hùng Nguyễn Bình Minh.

Hiện nay, dù tuổi cao nhưng bà vẫn trẻ hơn nhiều so với độ tuổi 86 ấy và lòng nhiệt huyết không ngừng tuôn chảy. Bà vẫn họp cùng nhóm bạn cũ và xây dựng tinh thần từ thiện cho việc xây cầu, xây trường, giúp học sinh, sinh viên nghèo vượt khó cùng nhiều việc tốt đẹp không tên ấy. Những bông hoa trong thành phố mang tên Bác vẫn âm thầm ngời hương sắc bừng sáng theo tháng năm, trong đó có Nguyễn Bình Minh. Đảng và Nhà nước cùng chính quyền địa phương đã tặng bà nhiều bằng khen, giấy khen, huân huy chương. Trong đó có thể nêu: Bằng khen của Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong sự nghiệp dạy Địa Lý từ 1975 – 1985; Huy chương Vì sự nghiệp Giáo dục (1995); Huân chương Kháng chiến hạng 3 (1989); Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng 3 (2001); Kỷ niệm chương về Chiến sĩ bị tù đày (2006); Huy chương Nhà giáo Nội đô (2007); Bằng khen của Liên hiệp Tổ chức Hữu nghị Việt Nam cho các năm 2003 – 2006 – 2007; Kỷ niệm chương Vì sự nghiệp Dân vận (2007); Anh hùng Lực lượng Võ trang Nhân dân – Ban Trí vận Đặc khu Ủy Sài Gòn – Chợ Lớn (2012).

Cuộc chuyện giữa chúng tôi bị ngắt quãng bởi chuông điện thoại bàn của bà réo lên liên tục. Đó là những lời mời của học trò, đồng nghiệp xưa về dự Lễ Hiến chương Nhà giáo 20.11 ở các trường mà cô giáo cách mạng Nguyễn Bình Minh từng tham gia công tác và lãnh đạo. Nụ cười vui trên gương mặt ấy truyền cảm hứng vào 10 ngón tay trổ hoa trên phím đàn piano quên cả nắng ngoài phố đang phả rát mặt đường và dòng người nhộn nhịp. Lúc này, bà Bình Minh đang say sưa bên những bản hùng ca và miên man gọi sáng lại những ngày xưa… Có lẽ ở nơi xa xăm trong hương khói ấy, đồng chí phu quân của bà đang mỉm cười với người đồng chí vợ đã thay chồng chăm lo nên vóc nên hình cho 2 con trai và 1 con gái nay đã công thành danh toại cả.

TP.HCM, 12.2016

Trần Huy Minh Phương
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 439

Ý Kiến bạn đọc