Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Góc thiếu nhi (số 630)

Nguyễn Hữu Trường Từng Là Sinh Viên Giỏi Khoa Ngữ Văn Trường ĐẠi Học SƯ Phạm Hà Nội, Tốt Nghiệp Anh Được Giữ Lại TrưỜng Giảng Dạy Môn Ngôn Ngữ Học. Từ Bục Giảng Đại Học, Nguyễn Hữu Trường Nhập Ngũ Thành Anh Bộ Đội Tên Lửa Thời Chống Mỹ Cứu Nước. Là Giảng Viên Hay Người Lính, Nguyễn Hữu Trường Đều Giữ Được Hứng Thú Sáng Tác Văn Học. Nhân Năm Trâu Tân Sửu Đang Đến, Xin Giới Thiệu Tản Văn  Nguyễn Hữu Trường Viết Về Thời Mục Đồng Của Chính Mình Ở Dải Đất Miền Trung Nước Nhà, Viết Trong Mùa Lũ Kinh Hoàng 2020. 

 

Ngửa mặt lên trời như sáo non há miệng

…Lũ chúng tôi, những đứa trẻ sinh ra từ làng quê nghèo khó, năm lên 6 lên 7 đã phải đi chăn trâu, chăn bò cơ khổ.

Thủa ấy, cứ vào tháng 3 âm lịch trở đi, ngọn gió nóng từ các trận lụt bên Lào trườn qua dãy núi Trường Sơn thổi băng đỉnh Hòn Vàng đầu làng Thông Thống, ập vào ruộng vườn, thổi quặt cây lá, hun sạm mặt người. Mặt trời vừa ló ngọn tre, mặt đất đã ánh lên tinh thể phèn chua, muối chát lốp rộp như đơn sùi ghẻ lở trẻ con. Đồng điền nứt nẻ chân chim, bên cái giếng làng, đêm đêm nườm nượp người xếp lu, trình, vò, ngủ gà ngủ vịt chờ đến lượt mình vục gàu chắt từng ngụm nước đục ngầu như nước vo gạo. Trâu bò cứ chiều tối khát nước kêu rống lên như bị chọc tiết, theo lũ trẻ chúng tôi chạy thục mạng về phía hói Cạn còn sót lại vài vũng nước lợ đen ngòm nhung nhúc nòng nọc, bọ liểng…

So-630--Anh-minh-hoa---Goc-thieu-nhi---Anh-1
Nguồn: sensesofvietnam.wordpress.com.

Người lớn thường kể chuyện con ma “cụt trôốc” ngày ngày thường sà vô các làng bưng hết nong nia khoai vằm, sắn lát phơi trên các giàn hất đổ ra đồng, đêm đêm lại mò về lè cái lưỡi đỏ độc liếm khô chum vại nước.

Lũ trẻ chúng tôi đêm ngủ ngoài sân trên các chỏng tre, ngửa mặt lên trời, đau đáu nhìn dải sao Ngân Hà nơi có con vịt lội, ước bay ngay lên đó để được lặn ngụp thỏa thích. Nhiều làng lập chay đàn cầu mưa. Có bữa nhìn lên phía truông Mòn, hói Quánh thấy mây đen kéo về những tưởng lời cầu của ông thầy cúng đã ứng nghiệm. Ai ngờ cơn dông chợt tan, chỉ để lại chút “ngoi nam” (mưa tạt qua chút đỉnh) càng chọc thèm cơn khát…

Những lúc chợt nắng, chợt mưa như vậy, hơi đất khét lẹt xông lên như có khói. Bọn trẻ chúng tôi vội vàng phốc lên lưng trâu, lưng bò để khỏi bị hơi đất rút bại chân, khỏi đau phong thấp. Ngửa mặt lên trời như đàn sáo non há miệng hớp từng giọt mưa rơi không đủ thấm môi, thấm lưỡi. Đêm về cứ để nguyên quần đùi, áo cọc khét lẹt hơi đất lẫn mùi hơi trâu bò mà lăn ra ngủ. Tóc đứa nào đứa nấy cũng đỏ quăn như Xuân Tóc Đỏ. Chao ôi, cái mùi khát ấy, cái đầu tóc ấy mẹ thường xoa lên, hôn lên đã trở thành nỗi nhớ khắc khoải của mẹ khi mỗi đứa con đi xa…

Nắng là thế, mùa mưa lũ càng cực hơn.

Đất miền Trung quê tôi, nắng nhiều mưa lắm. Chớm thu là lũ lần lượt kéo về theo năm, bảy cơn bão tràn vô. Lũ trẻ chúng tôi lại phải băng đồng nước ngập tận cổ, lùa trâu bò lên các cồn đất cao trú lụt. Mưa gió tầm tã mà trên mình chỉ độc chiếc nón cời và cái tơi chằm bằng lá tro. “Trâu rét gió, bò rét mưa” cứ mưa tuôn gió gào, đàn trâu bò lại ken vào nhau cho đỡ lạnh. Những con đực khỏe mạnh đứng thành vòng tròn sừng chĩa ra ngoài để bảo vệ trâu cái và nghé con ở phía trong. Thương nhất là những nghé, những bê con mới sinh, run lên bần bật. Thương chúng nó quá, chỉ lùa chúng nó vào dưới bụng mẹ giữa bầy đàn mà chờ nước rút… Một đứa bạn nối khố của chúng tôi cũng vì bơi theo một con bê non, chẳng may sẩy chân bị lũ cuốn trôi trong sự gào thét bất lực vô vọng của chúng bạn.

Qua những mùa chăn trâu nắng cháy, bão lũ, chúng tôi đứa nào cũng biết chịu đựng những cơn đói và cơn khát, biết bơi lặn, biết bày trò tập trận giả và quan trọng hơn cả là biết thương yêu nhau. Sau này nhiều anh vô quân ngũ đã thành dũng sĩ, anh hùng, tướng lĩnh…

Lớp trẻ ngày nay nghe chuyện chăn trâu thủa còn thơ của các bậc cha anh ngày trước cứ ngỡ như là chuyện cổ tích.

NGUYỄN HỮU TRƯỜNG
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 630

Ý Kiến bạn đọc