Truyện ngắn

Giữ đền thiêng

(Tặng dì Thắm)

Tiếng máy bay trực thăng Mỹ gầm rú trên bầu trời tối om om. Những trái sáng (hỏa châu) ném xuống tạo những vệt sáng dài ngoằng lóe lên rực sáng một khoảng trời rồi dần lịm tắt. Tiếng đại liên bắn xối xả xuống ruộng vườn không thương tiếc tạo những tiếng nổ đoành đoành, lụp bụp điếc tai kèm theo mùi hăng hắc của thuốc súng bốc lên nồng nặc. Bắn chán chúng kéo nhau bay về hướng tỉnh lỵ Vĩnh Bình. Dưới những rặng tre xanh to đùng kết chặt nhau như những bức tường thành che khuất bầu trời đêm, tiếng đục, đẽo, cưa, búa đóng đinh cứ đều đều vang lên. Tiếng kéo tôn nghe loảng xoảng, xèn xẹt, khẩn trương, dồn dập.

- Sao rồi ? Có đứa nào “dính chấu” hôn bây? Tao lo quá. Bà mẹ nó. Nó có ngon về bắn xuống mồ mả ông bà ông vải nó kìa. Dân Long Đức nầy mắc mớ gì mà nó mần ăn “sống nhăn” vậy chớ? – Tiếng má Bảy sang sảng uất ức.

- Hổng sao hết. Thôi má ơi! Chửi chi cho mỏi miệng. Mai mốt tụi con cũng “quằm” nó rớt xuống đây thôi. Có gì ăn hôn má? Làm đền thờ ban đêm đói bụng thấy bà nội – Tiếng Hai Thảo – nữ tiểu đội trưởng du kích ấp nói vui.

- Khỏi nói. Tao “chửn bị” cả giỏ bánh tét lá cẩm, bánh lá dừa nhưn đậu với mấy cái bánh cúng. Tụi bây ăn đi rồi mần tiếp. Tao nghe nói sắp hòa bình rồi. Tụi nó “quợn” lắm rồi, hồn vía đâu mà chiến đấu.

- Ngoại hay quá ta. Già quá trời mà cũng rành thời cuộc dữ he! – Tiếng con Thắm giao liên trêu ghẹo.

- Bộ già rồi hổng biết theo dõi “la-dô” hả mậy? Đồ chó con.

Đây là lần thứ bao nhiêu mà má Bảy và tiểu đội nữ du kích Long Đức đẩy lùi những đợt tiến công đốt phá đền thờ Bác, đến nay cũng không nhớ hết được. Tiểu đội có 12 người nay chỉ còn có 9, nhưng không một ai rời bỏ nhiệm vụ. Cái điệp khúc quen thuộc cứ lặp đi lặp lại: giặc bắn phá đốt cháy thì vài hôm sau ngôi đền khác lại mọc lên như chuyện liêu trai. Lạ một điều, càng bị đốt cháy nhiều thì những lũy tre làng xung quanh đền Bác lại tươi tốt xanh mịt rất lạ thường. Ban ngày giặc ném bom tiêu diệt, ban đêm nhân dân và bộ đội lại xây dựng bất kể gian lao nguy hiểm khó khăn. Có một lệ rất thiêng liêng luôn được duy trì trước khi bắt đầu công việc cất đền là đội nữ du kích lại được nghe đọc di chúc thiêng liêng của Bác bằng cái máy cát-sét cũ xì lâu lâu đứt băng phải dùng băng keo dán lại.

Nghe-loi-Bac---Phan-Van-Thang
Nghe lời Bác – Gò kim loại – TG Phan Văn Thăng

Má Bảy nhớ hoài hình ảnh má con Thắm cùng hai người nữ du kích Long Đức bị giặc bao vây bắt được hồi năm 1970 khi đang chất lá dừa, chở ván vô làm đền thờ Bác. Đánh đập, khảo tra, mua chuộc không được, chúng đem tất cả ra xử bắn tại sân banh Trà Vinh nầy. Hôm bị giải đi qua bờ ruộng đầu xóm, má con Thắm còn ngoái lại dặn má: Má ráng nuôi con Thắm giùm con để trả thù, cho tía má nó mỉm cười nơi chín suối, thôi con đi gặp ảnh và đồng chí mình đây. Lạ! Đau đớn vậy mà con nhỏ hổng khóc, chỉ thấy nó ngước nhìn lên trời cao với đôi mắt trong xanh, với niềm mãn nguyện xen lẫn niềm tự hào rất lạ lùng. Má và bà con Long Đức bật khóc khi những phát súng oan nghiệt chát chúa vang lên cắm sâu vào thân thể má con Thắm và hai người nữ du kích bị chúng bịt mắt trói chặt. Đêm đó, dân Long Đức thức trắng. Không ai nói với nhau một lời. Chỉ có những đôi mắt căm thù giặc trừng trừng bên những rặng tre xanh đang rung lên từng đợt. Trên mỗi gốc tre có treo những mảnh khăn tang màu trắng.

Từ đó, má Bảy vừa là cha, vừa là mẹ để chăm sóc con Thắm. Khổ một nỗi má già rồi sữa sùng đâu mà cho nó bú. Bí quá má chỉ cho nó uống nước cơm sôi pha với đường tán. Vậy mà con nhỏ khoái chí bú lèm lẹm. Trời cao có mắt. Nó mạnh cùi cụi, quanh năm không bệnh hoạn gì, lại xinh đẹp, trổ mã lớn nhanh như thổi. Năm lên 16 tuổi, có lần Thắm hỏi:

- Mai mốt ngoại cho con theo “mấy ổng” trả thù cho tía má con. Mỗi ngày thấy tụi Mỹ – Ngụy lảng vảng trước mặt là con nổi xung thiên lên, chịu không được nữa ngoại ơi.

- Ờ. Nhưng mà lớn một chút nữa mới được, con nít như bây làm ăn giống gì.

Tưởng nói cho qua truông, nhưng mấy ngày sau má thấy nó tươi cười ra vẻ hớn hở lắm, má bỗng lo: Trời đất, coi bộ con nhỏ nầy mần thiệt chớ hổng phải nói chơi. Một đêm tối trời chờ hoài không thấy nó đi học trên tỉnh về, má Bảy ra bàn ông Thiên đốt nhang van vái tía má nó về phù hộ cho nó bình an vô sự. Má giật thót tim khi thấy một bóng đen lù lù từ dưới mé rạch bò lên nói nhỏ:

- Ngoại ơi! Con Thắm bỏ học trốn theo Việt Cộng rồi. Nó gởi thơ nầy cho ngoại nè. Thôi con “dông” đây, lớ ngớ tụi nó rỉa một băng là không còn cái đội nón – Nói xong, bóng đen ấy băng xuống mé rạch rồi biến mất trong màn đêm.

Má Bảy buông mấy cây nhang rớt xuống đất rồi ngồi bệt xuống dưới sân khóc nức nở. Mà trách nó sao được. Ai mà không biết căm giận oán hờn trước mối thù gia tộc quá lớn lao như con Thắm. Ngoài sông bìm bịp kêu nước lớn ngày một lớn dần như đang sẻ chia bao nỗi ngổn ngang giằng xé trong lòng má. Má bỏ ăn mấy bữa rồi khăn gói vô đền tìm con Thắm. Gặp nhau hai bà cháu ôm nhau khóc như mưa. Biết không thể xoay chuyển tình thế má nói:

- Thôi con đã muốn “thát ly” theo du kích, ngoại cũng hổng cản đản gì ráo. Nhưng phải làm tròn nhiệm vụ mấy chú giao cho. Hễ “quởn” lúc nào tao vô thăm lúc đó.

Vậy là Thắm ở luôn trong đó. Khí thế xây dựng đền Bác rộn rã hơn bao giờ hết. Hết ngày lại đêm, nhịp độ lao động thật khẩn trương với tấm lòng luôn hướng về Bác kính yêu. Một đêm mưa rất lớn, Thắm nghe có tiếng ai gọi mình khe khẽ ngoài lán trại.

- Ai vậy? Đi đâu giờ nầy. Hổng nói tui “đẩy” một la phan là bà nội cũng đội chuối khô đó nghe – Thắm nói lớn.

- Đừng. Tui nè. Thằng Bớt nè. Cho tui gởi cái nầy nghe. Coi xong nhớ đốt bỏ đừng để ai biết. Kỳ cục lắm – Nói xong Bớt nhét một miếng giấy gấp làm tư qua khe cửa ván gòn rồi chạy thục mạng. Thắm vừa thương lại vừa tức cười. Người đâu mà kỳ lạ. Đánh giặc thì lì như trâu, thậm chí có lần bị thương mà cứ nhe răng cười khì khì khi được Thắm băng bó. Vậy mà cái chuyện ngỏ lời yêu thương thì nhát như thỏ đế. Đọc xong, Thắm áp lá thư chữ viết nguệch ngoạc vào lòng mà rơi nước mắt. Đồ quỷ sứ. Có gì nói đại ra đi. Thắm cũng đang chờ mà. Vậy mà… Thư từ chi cho mắc công đốt bỏ. Trong thư Bớt nói nếu có thương tui thì chờ tới hòa bình, hai đứa mình sẽ làm lễ tuyên bố ngay tại đền thờ Bác Hồ nầy và mời hết bà con Long Đức chứng kiến.

Những tiếng nổ long trời vang lên kèm theo hàng loạt đạn bắn xối xả. Giặc lại càn vô. Du kích triển khai đội hình chống trả. Hỏa châu sáng rực. Xe tăng tràn vào. Máy bay trực thăng quần đảo. Đến hừng đông, giặc rút lui sau khi bỏ lại 26 cái xác nằm ngổn ngang trên bờ ruộng, gốc dừa. Mọi người hốt hoảng khi thấy vắng một người: thằng Bớt. Cả xóm đi tìm, Thắm cũng đi tìm trong nước mắt, trong sự linh cảm về điều không may sắp xảy đến cho mình. Quả đúng như vậy. Bớt đã hy sinh dưới rặng tre có đặt hình Bác phía trên, tay anh vẫn còn ôm ghì lấy khẩu súng AK, mắt mở trừng trừng. Đôi mắt ấy chỉ khép lại khi được Thắm vuốt mặt trong nỗi nghẹn ngào, nức nở. Gió từ miệt biển Ba Động lại phần phật thổi về như muốn chia sẻ nỗi mất mát đau thương quá lớn lao của một người con gái đang yêu.

*
- Thôi mình đi một vòng quanh đền để tui kể thêm về xứ sở anh hùng Long Đức nầy cho nghe – Tiếng của Thắm, người con gái giữ đền năm xưa, nay đã là một phụ nữ trung niên tóc hoa râm và nụ cười thật hiền hậu, chơn chất.

- Rồi sau khi chú Bớt hy sinh, dì có chồng hôn? – Tiếng lũ nhỏ nhao nhao.

- Hông. Già rồi mấy cháu ơi. Sau giải phóng, dì xin vô đây làm nhân viên vừa lo hương khói cho Bác Hồ, vừa chăm sóc phần mộ tía má dì, chú Bớt và nhiều người khác nữa đã hi sinh khi dựng đền thờ. Ai muốn nghe chuyện xây đền hồi xửa, hồi xưa thì dì kể cho nghe. Làm vậy để người đi xa mãn nguyện.

Màn đêm đang dần buông, ánh trăng non đang nhú lên sau những rặng tre kêu xào xạc như đang kể chuyện giữ đền, dì Thắm lặng lẽ bước đi trong khoảng không mênh mông của khu vực đền thờ Bác Hồ kính yêu.

Phan Thị Anh Thư
(Liên hiệp các Hội VHNT TP. Cần Thơ)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 450

Ý Kiến bạn đọc