Tản văn

Giọt mưa trên phố

 

Tôi là người Sài Gòn. Thỉnh thoảng trong lúc chuyện trò có bạn bè hỏi tôi thích điều gì nơi mình đang sống. Một câu hỏi đơn giản nhưng nghĩa rộng quá! Với tôi, hơn 60 năm đã đi qua có những cái vẫn còn hằn sâu trong ký ức, có những hình ảnh đã nhạt nhòa theo thời gian, sự cảm nhận của mình đôi khi cũng đổi thay theo năm tháng hoặc do biến chuyển của thời cuộc.

Thích gì? Thích những con đường có lá me bay như Võ Văn Tần, Nguyễn Du hay một rừng cây nho nhỏ nhưng tràn ngập tiếng ve cao ngất trước Dinh Thống Nhất. Thích những cao ốc vươn lên trời xanh bắt nhịp cuộc sống văn minh thời đại hay những tòa nhà cổ kính lưu lại một thời giao thoa kinh tế, văn hóa. Thích những chiếc xe bóng lộn kiêu kỳ lăn bánh trên đường phố hay chiếc xích lô có dạo từng là biểu tượng cho nếp sống của người đô thị. Thích bánh hamberger nổi tiếng toàn cầu của McDonald’s hay chén chè đậu trắng chan nước cốt dừa khiêm nhường ở con hẻm nhỏ. Thích ngồi thưởng thức cốc Cappuchino đúng kiểu Ý Đại Lợi trong một cửa hiệu sang trọng ở khu trung tâm hay nhâm nhi ly cà phê đá ở vỉa hè nhìn người qua kẻ lại?…

Sài Gòn trong những năm đầu thế kỷ XXI (có thể dẫn dấu mốc từ năm 2000), vươn lên mạnh mẽ lắm, với những người đi xa trở về, có những khu vực không còn nhận ra được nữa. Một thành phố trẻ đang vươn tới tương lai chớ không phải một đô thị cổ ra sức vật lộn với thời đại. Kiến trúc sư Nguyễn Hữu Thái có lần nói với tôi: “Sài Gòn đang khát vọng lấy lại uy thế một thời của nó!”. Với một vị trí hết sức quan trọng ở vùng Viễn Đông, Sài Gòn từng là tâm điểm giao thương từ đông sang tây, từ bắc xuống nam, kể cả đường hàng không lẫn đường biển. Ở quốc nội, với ưu thế “thiên thời, địa lợi”, Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh là đầu tàu về kinh tế, văn hóa, xã hội của cả nước, có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của khu vực phía Nam, nơi thu hút lao động và chất xám và cả cuộc định cư lâu dài của người trong nước lẫn ngoài nước. Sự tiếp cận về khoa học kỹ thuật, trí tuệ nhân tạo của Sài Gòn đối với thế giới đã dần thu hẹp khoảng cách, đã có nhiều đơn vị còn đầu tư ra nước ngoài trên lĩnh vực nầy. Với diện tích hơn 2.000km2, dân số hơn 9 triệu, thành phố của tôi hội đủ những yếu tố cần thiết về giao thông, công nghiệp, dịch vụ, thương mại. Đô thị nắng ấm nầy ngày càng thu hút nhiều nhà đầu tư quốc tế, là nơi được chọn khởi nghiệp của nhiều trí thức trẻ, thanh niên có hoài bão tiến thân, làm giàu chân chính. Nó cũng là mảnh đất dễ sống, nơi bao dung cho những phận đời nghèo khó, ít chữ, không nghề, tha phương cầu thực.

So-600--Moc-len---Nguyen-Phu-Sy---Anh-1
Mọc lên – sơn dầu – Nguyễn Phú Sỹ.

Không ít người nói: “Dù chưa giàu có hơn ai, nhưng sống ở Việt Nam là… sung sướng. Cái gì cũng có, đi đâu cũng được, ăn uống thoải mái, nghề tự do hằng hà sa số, thích cái gì làm cái đó…”. Sướng thiệt! Có người đi Thái Lan, Singapore như cơm bữa, có gia đình mỗi năm đi du lịch đôi ba lần từ châu Á sang châu Âu. Nhiều người làm nghề đơn giản như bán cơm, tạp hóa, lái xe, bỏ mối hàng… mà trong nhà ai cũng có giấy thông hành (passports), hễ thích là mua vé máy bay, bỏ quần áo vào va li, kéo nhau lên đường. Nhiều Việt kiều về nước tỏ ra ganh tỵ, cái to lớn, giàu có nơi họ sống là tài sản của quốc gia sở tại, còn riêng đời sống gia đình, thu nhập 1.500 – 2.000 đô la hàng tháng của họ phải tiện tặn, dè sẻn vất vả lắm. Không phải muốn ăn là ăn, muốn đi là đi. Nhiều người thừa nhận: “Người Việt trong nước ngày càng giàu có, giới trung lưu lan nhanh như nấm, đi đâu cũng thấy nhà cao cửa rộng, kể cả những nơi trước đây được coi là “khỉ ho, cò gáy”, “nghèo rớt mồng tơi”. Tôi có nhiều người bà con ở Na Uy, Mỹ, Canada… trước đây khi về thăm quê hương, họ mang lỉnh kỉnh nhiều thứ từ quần áo, dầu gội đến vật dụng nhà bếp, thì sau nầy họ chỉ mang một ít bánh kẹo để gọi là làm quà, bởi vì ở Việt Nam bây giờ chẳng thiếu thứ gì, có món còn rẻ hơn “bên bển”.

Hai mươi lăm năm trước (1995), vừa ra khỏi phi trường Don Muang, người quen ở Thái Lan bấm phím cái điện thoại cầm tay cho tôi nói chuyện với gia đình, tiếng vợ tôi ở nhà nghe rõ mồn một. Tôi ngạc nhiên lắm, bởi ở quê nhà chưa từng thấy cái Alô di động ấy, mặc dù nó to gần bằng cục gạch thẻ… Đất nước giờ đã đổi khác, cuộc đổi mới đã đưa Việt Nam vượt lên không ngừng, gặt hái được nhiều thành tựu ngoạn mục trên lĩnh vực kinh tế, nâng cao mức sống của đa số người dân. Từ một quốc gia trong tốp nghèo nhất thế giới, đời sống chung hết sức chênh vênh, thu nhập trung bình của các hộ gia đình giờ đây đã tăng lên nhiều lần, giảm tỷ lệ đói nghèo, không ít người đã trở thành triệu phú, tỷ phú đô la. Chỉ riêng Thành phố Hồ Chí Minh, với thu nhập bình quân 7.000 USD/người/năm (cả nước bình quân 3.000 USD), đã cho thấy tiềm lực, sự năng động, sức phát triển (mức đóng góp 23% cho GDP quốc gia) của một thành phố trẻ. Điều kiện sống của người dân luôn được cải thiện, không thua kém bất cứ đô thị nào trong khu vực; có những khu dân cư tiếp cận hoặc được xây dựng theo mô hình của những quốc gia tiên tiến, làm thay đổi lớn bộ mặt phố thị một vùng, như Phú Mỹ Hưng (quận 7), Phan Xích Long (quận Phú Nhuận), Bình Trị Đông (quận Bình Chánh)…

Vài năm trở lại đây, khi đi du lịch ở Thái Lan, Ấn Độ, Myanmar, Philippines… tôi thường không tham quan các khu trung tâm, các con phố chen chúc nhà cao tầng hay cửa hiệu trưng bày hào nhoáng, mà luồn lách đi sâu vào các khu vùng ven, tỉnh lẻ. Ở những nơi ấy, đời sống cư dân hiện ra rất tệ, phố xá nghèo nàn, nhà dân cũng thường bị nạn cúp điện, ngập nước; đường phố tràn lan cảnh buôn vặt, ăn xin, tệ nạn… Những hình ảnh đập vào mắt khiến cho tôi có cảm nghĩ: “Sài Gòn của mình có nhiều mặt còn khá hơn. Lắm lúc ai đó than phiền chuyện “cơm áo gạo tiền”, ô nhiễm môi trường, ngập nước… có lẽ họ chưa nhìn thấy đầy đủ… thế giới quanh ta”. Tôi lại nghĩ, tạo hóa sinh ra nhân loại, nhưng không chia đều miếng ăn, chỗ ở cho tất cả. Với những quốc gia nghèo khó, dân đông, để san bằng sự chênh lệch về khoảng cách kinh tế, xã hội là cuộc trường chinh đôi khi không biết đến thập niên hay thập kỷ nào mới đạt chỉ số tương đối. Thành phố Hồ Chí Minh dù mức thu nhập đầu người ngày càng tăng, nhưng vẫn còn biết bao vấn đề cần phải giải quyết, biết bao công trình cần phải xây dựng. Nhịp độ phát triển của thế giới ngày nay đã không như thời đi thuyền buồm của Christopher Columbus, phải mất 70 ngày lênh đênh trên biển mới đến được Tân Lục địa. Chỉ ít giây thôi người ta đã có thể trò chuyện được với người bên kia đại dương, chỉ một ngày người ta đã bay được nửa vòng trái đất, công trình hiện đại hôm nay có thể ngày mai trở thành lạc hậu bởi những phát minh siêu đẳng, hiệu quả hơn.

Với 60 năm cuộc đời, bất cứ ai, dù ở đâu, chắc chắn những kỷ niệm buồn vui, những thăng trầm cuộc sống hẳn đều chất chứa ngồn ngộn trong ký ức. Những câu chuyện tuổi nhỏ dưới mái trường có thể viết đầy vài trăm trang giấy, những cuộc bươn chải, bôn ba, tranh đấu để sinh tồn có thể ghi lại “thiên kinh, vạn quyển”, mối quan hệ gia đình, cộng đồng có thể biến thành một trường ca… như nhà thơ Xuân Diệu đã từng viết: “Nơi tôi sinh đó chao ôi nhớ…”. Rõ ràng có quá nhiều cái nhớ và nhớ chính là thích.

Có hai lĩnh vực hết sức quan trọng mà bất cứ quốc gia đang phát triển nào cũng cần phải nỗ lực hoàn thiện, đó là giao thông và truyền thông. Không có truyền thông thì không nắm bắt được kịp thời tình hình, yếu kém về giao thông thì sẽ hạn chế hầu hết các hoạt động kinh tế, xã hội, y tế, v.v… Nhiều vùng sâu vùng xa của chúng ta chậm tiến là do hai yếu tố đó. Trong sự vươn lên mạnh mẽ của Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh, tôi thích nhất các công trình giao thông, nó không chỉ giải quyết vấn đề đi lại, mà còn tạo thêm những đường nét lung linh trên bức tranh phong cảnh rộn ràng nhịp sống.

Đầu tiên có thể nói đến đại lộ Nguyễn Văn Linh, thuộc tuyến vành đai 2, đi từ quận 7 đến Quốc lộ 1A kết nối vào đường dẫn cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh, Trung Lương đi về miền Tây. Con đường có chiều dài 18 cây số, rộng 120 mét nầy (khởi công cuối năm 1996, hoàn thành vào tháng 12-2007), sau khi liên thông với cầu Phú Mỹ đã mở một lối thoát vô cùng quan trọng cho các loại xe tải trọng lớn vận chuyển hàng hóa dọc theo chiều dài đất nước. Trước đó khoảng 20 năm, những ai sinh sống hoặc thường đi lại trên trục đường Võ Thị Sáu – Điện Biên Phủ – Ba Tháng Hai đều hết sức khổ sở trước hàng ngàn xe tải lưu thông mỗi ngày, tiếng ồn, khói bụi, kẹt xe, tai nạn… là bản hòa tấu tạp âm không ai “thưởng thức” nổi. Nguy cơ lớn nhất chính là cầu Sài Gòn, cây cầu dài hơn 900 mét, khá già nua nầy ngày càng “oằn” xuống bởi tải trọng quá sức gồng gánh của nó. Một phương tiện huyết mạch được coi là “cánh cửa” của phía đông Sài Gòn nhưng hai chiều chỉ có 4 làn xe, nên cảnh ùn ứ cứ diễn ra liên tục. Đôi lần bị nằm bẹp dí giữa cầu, thấy mặt đường rung lắc, tôi chỉ biết nhắm mắt niệm “Nam mô…”. Dân chúng thở phào khi con đường vành đai ngoài đã giải quyết nỗi lo âu kéo dài nhiều năm kể từ sau ngày giải phóng.

Hiệu quả ngoạn mục và nhận được nhiều lời khen ngợi nhất chính là hai tuyến đường Võ Văn Kiệt và Võ Chí Công nằm sâu trong nội thành. Có thể hình dung, một người đứng ở đầu đông sải hai cánh tay thiên lý về phía tây, ôm trọn nửa số dân của thành phố, mở lối thoát cho hàng chục con đường xuyên ngang. Tuy độ dài không bằng nhau (đường Võ Văn Kiệt dài 22 km, đường Võ Chí Công dài gần 10 km), nhưng cả hai đều có những tiện ích tối ưu. Nếu như đại lộ nghiêng về phía nam thành phố là một công trình quy mô, hiện đại, có hầm vượt sông duy nhất của cả nước, băng qua các khu vực thương mại sầm uất, một thời “trên bến dưới thuyền”, mở ra những hành lang rộng lớn cho vùng đất đầy hứa hẹn ở tương lai bên kia sông Sài Gòn; thì đại lộ nghiêng về phía bắc lại rút ngắn những hành trình, tiết kiệm khoảng thời gian khá lớn cho người thành phố khi đi ra vùng Thủ Đức, Bình Dương, Biên Hòa, ngã tư Vũng Tàu… Từ những nơi nầy người muốn đến sân bay Tân Sơn Nhất chỉ trong “tầm tay”, so với trước đây đi đứng hết sức khó khăn, phải đánh đường vòng, luôn phập phồng nạn kẹt xe. Điều đáng nói, trên những đại lộ mới xây dựng, chiều ngang khá rộng, có “line” dành riêng cho xe máy, có dãy phân cách, tiểu đảo trồng cây xanh. Cấu trúc nầy tạo thêm nét đẹp, văn minh cho một đô thị hiện đại. Trước đây, trong đôi lần có dịp trò chuyện với mấy vị lãnh đạo thành phố, tôi đã dùng từ “con đường thông minh” để chỉ hai công trình nầy. Rõ ràng, nếu ai nhìn thấy cảnh hàng ngàn ngôi nhà tạm bợ, nhếch nhác lấn chiếm kênh rạch, những khu ổ chuột ngoi ngóp trong các con hẻm lầy lội, sự ngột ngạt về giao thông trên khu vực, thì mới thấy sự phong quan nầy vô cùng hữu ích, rất đáng khâm phục. Những người thiết kế công trình đã chọn quá đúng hai vị trí trọng yếu, giải quyết được hàng loạt vấn đề, tạo thêm sức bật cho sự phát triển.

Cũng như nhiều đô thị ở miền Nam, Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh được ở giữa vùng sông nước, có đến 5.000 km kênh rạch. Từ xưa, hệ thống đường thủy đã góp phần quan trọng trong việc giao thương giữa Sài Gòn và các tỉnh phía Nam, một môi trường sinh thái có thể nói vừa trong lành vừa thi vị. Cho đến nay, rất nhiều thế hệ vẫn thuộc nằm lòng câu ca dao: “Nhà Bè nước chảy chia hai, ai về Gia Định, Đồng Nai thì về”. Câu ca dao đã nói lên khung cảnh, địa lý của một đô thị son trẻ… Do sự bùng nổ dân số, xây dựng ồ ạt, có lúc thiếu kiểm soát, nên rất nhiều kênh rạch, mé sông bị lấn chiếm làm nhà ở, kéo theo nạn ô nhiễm môi trường, rác rưởi, phóng uế, làm tắt nhiều dòng chảy gây cảnh ngập ngụa. Khoảng hai thập niên gần đây, nhận thức về sự tác động của môi trường đối với cuộc sống cộng đồng và cũng nhằm cải thiện bộ mặt của đô thị lớn nhất nước, chính quyền và người dân đã chung tay nỗ lực thực hiện phong trào “Xanh, sạch, đẹp”, trong đó có việc cải tạo lại các kênh rạch. Nói đến điều nầy, tôi đặc biệt thích sự “lột xác” của kênh Nhiêu Lộc, một dòng chảy nằm sâu trong các khu dân cư dày đặc, uốn lượn qua các quận 1, 3, Phú Nhuận, Tân Bình, Bình Thạnh… Có đến 7.000 hộ dân được di dời (phần lớn là nhà sàn, lấn chiếm), kinh phí gần nửa tỷ đô la Mỹ (thời điểm đó), thực hiện ròng rã trong 9 năm. Với độ dài 8,7 km, kênh Nhiêu Lộc cùng hai nhánh đường Hoàng Sa và Trường Sa thật sự đã tạo nên một nét chấm phá độc đáo giữa lòng thành phố. Nếu như ban ngày ta nhìn thấy những dãy nhà khang trang, xây cất đủ hình dáng, thì về đêm ánh đèn lung linh trên dòng nước làm ta ngỡ đó là dãy ngân hà đang sa xuống mặt đất. Nhiều kênh rạch cũng đang mong được thay “màu áo mới” như vậy. Quá khiêm tốn và còn phải chờ đợi rất lâu khi biết rằng, thành phố chỉ mới cải tạo được 80 km trên độ dài còn ngút ngàn của nó. Hiện nay vẫn còn 20.000 căn nhà sống ven kênh rạch cần phải di dời, nhiều dòng chảy vẫn bế tắc, ô nhiễm trầm trọng, vì vậy kênh Nhiêu Lộc được coi là một tài sản quí giá, chúng ta phải biết giữ gìn và cần nâng cao ý thức bảo vệ các dòng nước ở những khu mới xây dựng.

Vấn đề giao thông bao giờ cũng là áp lực đè nặng lên guồng máy hoạt động của các đô thị có tốc độ gia tăng dân số nhanh. Ở thời điểm năm 2020 nầy, thành phố Hồ Chí Minh có hơn 800.000 ô tô và trên 8 triệu chiếc xe máy đang lưu hành, đó là chưa kể hàng loạt phương tiện từ các nơi “quá cảnh” trong thời gian ngắn hoặc di động nhiều ngày. Môi trường bị ô nhiễm khá nghiêm trọng, cái ăn, cái ở, cái đi, cái đứng luôn “thải” ra những “vấn đề” không thể giải quyết trong một sớm một chiều.

Nói như vậy thì bạn đã biết ý thích của tôi với nơi đã gắn bó suốt gần cả cuộc đời.

Tháng 5, ban ngày trời nóng hầm hập, người ta có cảm giác bầu không gian trên đầu chúng ta mất đi một lượng lớn ôxy. Buổi chiều, có chuyện đi tản bộ lơ phơ trên phố Nguyễn Huệ, tôi chợt nhớ mấy câu thơ của Nguyên Sa: “Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát, bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông…”. Trời bỗng đổ mưa, mưa không lớn, chỉ những giọt như đàn lân tinh cứ bay lơ thơ trên kính của mấy tòa nhà cao tầng. Thành phố cũng rất cần mưa. Tôi cảm thấy không khí dịu lại, dù lúc ấy không có… chiếc áo lụa Hà Đông nào lơi lả đi qua.

Tháng 6-2020

Trần Tử Văn
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 600

Ý Kiến bạn đọc