Ngoài nước

Giết chết những câu chuyện cuộc sống…

Kỳ 2

 

Một trong những bộ phim vĩ đại nhất từng được thực hiện – Seven Samurai của tác giả Kurosawa – đã nhanh chóng bị làm cho lu mờ bởi phiên bản sản xuất lại của Hollywood, với tên gọi mới Magnificent Seven, bởi vì đó phải là những cao bồi Mỹ, không phải samurai Nhật Bản, cao bồi Mỹ mới là những người có quyền thể hiện một tiêu chuẩn đạo đức thực sự với thế giới! Tất nhiên, Kurosawa là một người theo chủ nghĩa xã hội hiện thực, và những kịch bản của ông là hoàn toàn không thể chấp nhận được đối với chế độ phương Tây. Cũng cần nhắc lại rằng Kurosawa, sau chiến tranh, là người luôn cố gắng tìm cách thoát khỏi sự kiểm duyệt của chính quyền chiếm đóng Hoa Kỳ đối với nghệ thuật và truyền thông Nhật Bản.

Giống như các bộ phim, tất cả những câu chuyện cổ tích rực rỡ từ khắp nơi trên thế giới phải bị bắt cóc, tái chế, phẫu thuật, thông điệp xã hội của những câu chuyện bị giảm xuống con số không. Disney đã đóng gói lại những sinh vật hùng mạnh cũng như nhỏ bé khôn ngoan từ kho tàng truyện cổ tích từ mọi nơi trên hành tinh, thành một khái niệm trơn tuột, đồ ăn nhanh, khủng khiếp; nó đã phá hủy và làm nhục truyện cổ tích, biến chúng thành những bộ phim màu mè và rẻ tiền.

Ngay cả ở những quốc gia có nền văn minh và văn hóa dân gian cổ đại, như Thái Lan và Indonesia, ngày nay hầu như không còn sót lại bất cứ điều gì của truyền thuyết ban đầu, trẻ em lớn lên hoàn toàn phụ thuộc vào đồ chơi sản xuất hàng loạt được thiết kế trong các xưởng máy tính ở Hoa Kỳ, thay vì dựa vào những người kể chuyện riêng và những huyền thoại tuyệt vời. Nó cũng giống như đồ ăn vặt, và sau này là thuốc lá.

Tất cả bản sắc đã bị xóa sổ, tất cả sự sáng tạo và độc đáo bị phá hủy. Ngay cả những bài hát ru ban đầu hiện đang biến mất khỏi nhiều nơi trên thế giới. Các nhà văn, nhà tư tưởng, nhà báo, nhà làm phim của thế giới – hầu hết trong số họ, dần dần – trở thành những người tuyên truyền phục tùng chế độ tư bản.

Như vậy, lời tiên tri khủng khiếp của Orwell và Huxley về sự diệt chủng trí tuệ đang dần trở thành hiện thực, một cách lặng lẽ, không được mô tả bởi bất kỳ bộ phim truyền hình lớn hoặc sự kiện quan trọng nào. Tất nhiên, “bộ phim truyền hình thực tế” thực sự – việc tàn sát hàng trăm triệu đàn ông, phụ nữ và trẻ em vô tội ở mọi nơi trên thế giới

- đã diễn ra trong nhiều thế kỷ. Nhưng các nạn nhân, như Orwell gọi, không được coi là người, nên không ai quan tâm.

Rồi đột nhiên, mọi thứ trở nên gò bó. Dòng chảy của các câu chuyện hầu như bị dừng lại. Chúng ta không biết chính xác nó đã xảy ra khi nào. Không ai tìm hiểu.

*
Tôi thường suy nghĩ về câu chuyện mô tả những ngày đen tối của hành tinh này là “do tác động hắc ám của bùa chú”. Tôi đã rút ra cảm hứng và sự lạc quan từ câu chuyện đó.

Cách đây không lâu, chỉ khoảng hơn 20 năm trở lại đây, vào đầu những năm 1990, tôi vẫn chỉ là một phóng viên trẻ, đưa tin về lục địa Nam Mỹ. Tôi sẽ không bao giờ quên sự năng động, nhiệt huyết và dũng cảm của những người tôi gặp ở Chile, Argentina, Peru và Colombia. Cuốn tiểu thuyết nổi loạn Point of No Return của tôi vừa được giới thiệu lại với độc giả Anh (cũng bị biên tập lại hoàn toàn), có nội dung ban đầu bị ảnh hưởng rất nhiều bởi những năm tháng ở Mỹ Latin.

Khi đó, Chile và Argentina vừa tỉnh dậy sau cơn ác mộng khủng khiếp của họ, từ các chế độ độc tài tàn bạo được phương Tây hỗ trợ. Cả hai quốc gia đều cố gắng đối mặt với quá khứ, để xây dựng lại xã hội của họ. Peru vẫn bị tàn phá bởi cuộc “chiến tranh bẩn thỉu” do Hoa Kỳ đứng sau.

Những câu chuyện có mặt ở khắp mọi nơi, chúng cần có những người kể chuyện để phản ánh lại, chúng đập vào trực giác, tranh giành sự chú ý của chúng tôi, đuổi theo chúng tôi. Khi đó tôi vẫn đang ở New York, nơi tôi biết hàng chục nhà văn và nhà làm phim đầy tham vọng, nhiều người trong số họ liên tục than thở về việc “không biết viết về cái gì”.

Đó là những ngày sau thời đại của Reagan, New York bị tan rã, bị chia cắt, với những khu ổ chuột khốn khổ và những người vô gia cư ở khắp mọi nơi; xác người thối rữa ở lối vào tàu điện ngầm, những đàn ông và phụ nữ chết cô đơn, bị gia đình và xã hội ruồng bỏ. Nhưng các nhà văn giành lấy điều xa xỉ cho mình là “không biết viết về cái gì”!

Đó cũng là thời kỳ mà Đế chế đang củng cố quyền lực của mình ở nước ngoài, từ Nam và Trung Phi đến Đông Nam Á và Trung Đông. Liên Xô, đất nước nơi tôi sinh ra, đang tan rã sau cạm bẫy Afghanistan, dưới sự cai trị khủng khiếp của một kẻ ngu ngốc ngây thơ, và sau đó là dưới sự cai trị của kẻ khác, một kẻ nghiện rượu khét tiếng tàn bạo, con bài của phương Tây.

Khi đó, tôi đang quay cuồng giữa sự thức tỉnh ở Mỹ Latin và sự trì trệ tuyệt đối ở phương Tây, nơi mà các nhà văn quá bận rộn với những cuộc khủng hoảng bản sắc đến mức không thể nhận ra những gì đang xảy ra trên thế giới!

*
Tôi nhớ mình đã cảm thấy ngây ngất như thế nào trên dãy Andes. Tất nhiên, không phải vì chiến tranh, mà là nhờ những câu chuyện thực tế, một số lượng đáng kinh ngạc trong số đó, hầu hết đều là hoàn toàn chính xác. Ở đó, không khí loãng và tuyên truyền Anh – Mỹ cũng vậy. Ở đó, những câu chuyện đều mang đậm hơi thở cuộc sống, nắm chắc cuộc sống trong tay.

Mọi người đã nói chuyện. Tôi đã nghe. Nó luôn như vậy, trong hàng thiên niên kỷ, những câu chuyện và sự lắng nghe, tất cả đều đúng. Tôi đã học cách kể những câu chuyện ở dãy Andes thuộc Peru và Bolivia. Tôi đã học cách lắng nghe. Đôi khi mất cả đêm chỉ để nghe một câu chuyện ngắn và đơn giản trong một túp lều bằng đất sét, nhưng nó luôn đáng giá. Một đêm nọ, nhiếp ảnh gia người Anh của tôi cùng tôi rời thành phố Ayacucho vào lúc nửa đêm, cả hai chúng tôi đều run rẩy đến tận xương tủy.

Mới chỉ hai ngày trước đó, chúng tôi đã bị chặn lại bởi lực lượng “Con đường Sáng”, Sendero Luminoso, bị xét xử vội vàng ngay bên vệ đường, và sau đó bị kết án tử hình. Đúng vậy, chúng tôi đã cố gắng tự nói rằng mình không đáng bị hành quyết, giải thích một cách trung thực, sự chán ghét của chúng tôi đối với cả Tổng thống Fujimori và chủ nghĩa đế quốc Yankee. Nhưng chúng tôi vẫn bị sốc, tưởng như cuộc đời trai trẻ của mình đã có thể bị kết thúc ở đó, bên lề đường.

Ayacucho có nghĩa là “góc của cái chết”, nó là một nơi tuyệt đẹp nhưng bị nguyền rủa trên núi cao, rất bản địa và bị vùi dập bởi nhiều thế kỷ thực dân và hậu quả là rất phong kiến. Trời tối đen như mực, và chúng tôi bật tất cả các chùm sáng của chiếc Land Rover của mình, rung chuyển vì say độ cao, lái xe thật nhanh để “bay qua” một con đường đất không bằng phẳng. Chúng tôi đang nhận nhiệm vụ cho một tạp chí tin tức lớn, và chúng tôi còn trẻ, và chắc chắn sẽ không phải là những người bỏ việc.

Tại một ngã rẽ, một phụ nữ bản địa lao ra ngay trước bánh xe của chúng tôi. Cô ấy nhảy dựng lên, rồi quỳ xuống van xin. Tôi đạp phanh hết cỡ. Đây có thể là một cái bẫy điển hình ở đây, và nó có thể là sự kết thúc của chúng tôi. Nhưng người phụ nữ đang khóc, đau đớn, cô ấy đang mang thai nặng nề, tôi thấy rằng cô ấy đang bước vào giai đoạn chuyển dạ. Sau đó, cô ấy chắp tay cầu xin mạnh mẽ hơn. Chúng tôi dừng lại, không biết phải làm gì. Hai phóng viên chiến trường vất vả với một chiếc xe lớn và tất cả các thiết bị bên trong, hoàn toàn bất lực, vụng về, ngu ngốc khi đối mặt với cuộc sống đang đòi hỏi sự trợ giúp của chúng tôi. Theo đúng nghĩa đen, chúng tôi đã bế cô ấy lên xe hơi, đặt cô ấy lên ghế sau và mở nhạc, chỉ để thấy mình có thể làm được cái gì đó, mở một số bản ballad Chile từ dàn âm thanh trên xe hơi. Chúng tôi cố gắng làm cho cô ấy cảm thấy tốt hơn.

Những gì tiếp theo là một mớ hỗn độn, một mớ hỗn độn! Và từ mớ hỗn độn đó một đứa trẻ đã ra đời. Một bé gái. Cô bé được sinh ra và đã sống sót, cả hai chúng tôi đều chăm chú để đảm bảo rằng đứa bé đã sống sót. Và hai thằng chúng tôi, hai thanh niên không ngăn nắp lắm, những kẻ chỉ biết nói những câu tếu táo kinh khủng vài phút trước đó, trong khi mắt dán vào con đường đầy bụi ở độ cao 4.000 mét, nhằm phát hiện ra những toán tuần tra quân sự chết chóc, giờ đây đang nhảy múa xung quanh điều đó – một phụ nữ bản địa với đôi má ửng đỏ, đang lau mồ hôi trên trán sau sự sinh nở – chúng tôi cố gắng trở nên hữu ích, ít nhất cũng bằng cách nào đó.

Cuối cùng, chúng tôi chở cả hai người – mẹ và cô con gái nhỏ – đến ngôi làng bên cạnh, nơi chúng tôi tìm được một bà đỡ sẵn lòng mở cửa. Với tư cách là người đỡ đẻ, chúng tôi hoàn toàn thất bại vì chẳng biết làm gì, nhưng trong nhiều tuần, và cho đến tận bây giờ, chúng tôi cảm thấy tự hào vô hạn và đứa bé – một bé gái – vẫn sống trong ký ức của tôi – như một đứa trẻ xinh đẹp nhất, thân yêu nhất.

Đó là một trong những câu chuyện vĩ đại nhất mà tôi từng gặp, đơn giản và thuần khiết như một con lạch, đằng sau đó, trên núi cao. Sau này, tôi được thấy trong phim ảnh những cảnh tương tự hoàn cảnh chúng tôi. Những người đàn ông giúp đỡ luôn hợp lý, hài hước, nhưng hoàn toàn không đúng với thực tế. Chúng tôi thấy rõ những cảnh phim không thực sự hợp lý chút nào. Đó là một cuộc chiến, một cuộc chiến tàn khốc và lạnh lùng, và một người phụ nữ có lẽ đã bị người đàn ông của mình bỏ rơi, đuổi ra khỏi nhà cô ấy… Đó không phải là một câu chuyện có hậu, nhưng đó là câu chuyện thực về con người và cuối cùng, là một câu chuyện hay, và nó có lẽ đã khiến cả hai chúng tôi trở thành những người đàn ông tốt hơn.

Sau đó, tôi đã nhìn thấy cái chết nhiều lần, quá nhiều lần, và điều đó là cần thiết. Tôi không hối hận khi nhìn thấy cái chết, vì đó là cách thế giới này sắp đặt, và tôi không thể viết về những điều tôi chưa từng chứng kiến. Tất cả những ai đã từng tham chiến đều biết rằng cách nó được thể hiện trong hầu hết các bộ phim của Hollywood chỉ đơn giản là dối trá. Tôi đã mô tả cuộc chiến trong cuốn Point of No Return nói trên của mình, và bây giờ tôi đang mô tả lại nó một cách chi tiết trong cuốn tiểu thuyết 1.000 trang mới nhất của tôi.

Điều quan trọng là viết về chiến tranh, về những câu chuyện mà một người trải qua trong trận chiến và tại các thành phố và làng mạc bị mê hoặc bằng sự giết chóc. Bởi vì hầu hết tất cả các cuộc chiến tranh trong lịch sử hiện đại đều do chúng ta, do phương Tây gây ra. Bởi vì “nền văn hóa” của chúng ta, sự tàn bạo, lòng tham của chúng ta, đã khiến hàng trăm triệu sinh mạng bị sát hại trên khắp thế giới.

Những cuộc chiến “thực sự” của chúng ta giờ đã trở thành xa vời. Chúng ta đã phát minh ra bom rải thảm, chúng ta thả bom A, chúng ta đã giết hàng triệu đàn ông, phụ nữ và trẻ em ở Đông Dương. Chúng ta đã giết họ hầu hết bằng những con quái vật bay của mình, thả hàng triệu tấn thép xuống các xóm làng nghèo chỉ có những người dân thường muốn thực sự tự do – thoát khỏi sự sai khiến của chúng ta và sự khủng bố của chúng ta.

Và bây giờ chúng ta sử dụng máy bay không người lái. Chúng ta thậm chí không dám tự tay trực tiếp thả những thứ kim loại giết người đó nữa. Tất cả những điều đó là bởi chúng ta là những kẻ hèn nhát, văn hóa của chúng ta vừa là văn hóa của những kẻ tàn bạo vừa là của những kẻ yếu đuối. Và để nhận ra nó, cách duy nhất để hiểu nó, là đọc và xem những câu chuyện có thật về những người mà chúng ta đã và đang hành hạ, đối xử tàn bạo.

Nhưng chúng ta không muốn điều đó. Chúng ta bịt tai lại bằng lòng bàn tay của mình. Chúng ta từ chối nghe họ nói và cười, chúng ta đảm bảo không nghe họ khóc và la hét. Chúng ta đang giết họ, nhưng chúng ta đang làm điều đó bằng cách “phẫu thuật” từ xa, trong khi vẫn đang ngồi trong thành phố xem trên truyền hình những trò tiêu khiển của chúng ta, trong khi tự nhồi thức ăn chế tạo sẵn và mua đồ chơi cho trẻ nhỏ – những đồ chơi không có tim, óc và linh hồn…

Chúng ta đã trở thành những kẻ ngu ngốc hoàn toàn, và chúng ta thậm chí giết người như những kẻ ngu ngốc. Oliver Stone đã làm nhiều phim về cách chúng ta “chiến đấu” trong các cuộc chiến. Phim của Stone phản ánh một số điều gần nhất với thực tế, nhưng đó chỉ là một ngoại lệ, và nhiều người không thích những gì họ nhìn thấy trên các tác phẩm của Stone.

Nhân dân Liên Xô đã chiến đấu thực sự và họ đã cứu hành tinh của chúng ta. Họ cũng giúp giải phóng hàng chục quốc gia khỏi chủ nghĩa thực dân phương Tây. Nếu không có họ, sẽ không có tự do ở châu Phi, Trung Đông và hầu hết các khu vực của châu Á. Nhưng những sự thật đó bị áp chế và không thể được nhắc đến trên truyền thông chính thống. Thêm vào những điều không được phép nhắc đến là sự anh hùng, lòng khiêm tốn, đức hy sinh của người dân Cuba và Triều Tiên trong cuộc đấu tranh giải phóng châu Phi.

Liên Xô cũng đã làm những bộ phim tuyệt vời về chiến tranh và chiến đấu, và về việc cứu chúng ta khỏi chủ nghĩa phát xít. Như The Cranes Are Flying, The Ballad of Soldier, The Dawns Are Quiet Here… Đó là kể tên tiếng Anh của một số phim. Những câu chuyện tuyệt vời đó của Nga hầu như không được ai biết đến, từ những bộ phim cho đến tiểu thuyết hiện đại, thậm chí là những bộ phim hoạt hình tuyệt vời nhất mà họ làm cho trẻ em.

Phương Tây, lúc đầu, chiến đấu nửa vời với Đức Quốc xã, đồng thời thực hiện tội ác chống lại loài người ở châu Phi, Trung Đông và châu Đại Dương, đã đảm bảo rằng mọi thứ liên quan đến cuộc chiến đấu anh dũng của nước Nga Xô Viết đều phải bị loại bỏ, và điều tương tự sau đó đã được áp dụng với Việt Nam, Đông Dương, Trung Quốc và Mỹ Latin, đặc biệt là Cuba. Cuba là kẻ thù lớn nhất, một quốc gia bị phương Tây tàn ác cố gắng tiêu diệt bằng mọi hình thái chiến tranh hóa học, khủng bố và chiến tranh tuyên truyền không ngừng.

Tại sao lại là Cuba? Bởi vì Cuba có ba thứ mà chế độ phương Tây không có: trái tim, chủ nghĩa nhân văn và sự gan dạ!

*
Có bất kỳ sự phản đối thực sự nào, hoặc thậm chí chỉ là tự phê bình ở phương Tây? Hay là phương Tây thực sự ngày càng giống đồng minh từ ngày xưa của họ – Taliban?

Không có bộ phim nào mô tả chủ nghĩa phân biệt chủng tộc công khai của Winston Churchill và các lý thuyết của ông ta về “các chủng tộc ít dã man hơn”, hoặc nhiều quái vật thuộc địa khác như Thủ tướng Anh David Lloyd George, người mà trong khi đất nước của ông ta ném bom sát hại dân thường Iraq vào giữa những năm 1920, phá huỷ một thỏa thuận quốc tế cấm bắn phá Iraq từ trên không, đã công khai tuyên bố “Chúng tôi bảo lưu quyền ném bom lũ mọi rợ”! Hầu như không có bất kỳ câu chuyện nào tiết lộ nỗi kinh hoàng gây ra cho các thuộc địa, về mặt thực tế là những hành động chống lại toàn nhân loại, đang được cho phép thuần hóa theo tâm lý của người châu Âu và Bắc Mỹ.

Nhiều tượng bán thân và cụm tượng đài lớn về những kẻ phân biệt chủng tộc và tội phạm tồi tệ nhất hiện đang được trang trí ở London và tất cả các thành phố lớn của Anh, cũng như tượng của Vua Bỉ Leopold II, một kẻ giết người hàng loạt phải chịu trách nhiệm về việc tàn sát hơn 10 triệu người Congo và chặt tay những ai không hoạt động đủ nhanh để lấp đầy kho bạc của ông ta, giờ nằm rải rác khắp Brussels.

Câu chuyện quan trọng nhất và đáng sợ nhất, về việc nô dịch thế giới của những bạo chúa châu Âu và sau đó là Bắc Mỹ, chưa bao giờ được kể. Những câu chuyện về cuộc kháng chiến chống lại sự khủng bố chưa từng có và đang diễn ra này cũng đang bị dập tắt vĩnh viễn.

*
Vì vậy, tôi lại đang ở đây, Ai Cập.

Một chiếc xe bọc thép xấu xí đang di chuyển nòng pháo từ trái sang phải, như thể đang tìm kiếm thứ gì đó, tìm kiếm một ai đó. Nó lướt qua tôi và tôi có thể nhìn rõ bên trong mõm của nó. Nó đã không dừng lại, nó phớt lờ tôi, vì tôi không phải là người nó đang tìm kiếm.

Tôi tiếp tục làm việc, không ngừng nghỉ, chụp ảnh và quay phim, sau đó lại chụp ảnh. Tôi tác nghiệp đơn điệu, mỗi nước đi đều có tính toán. Rồi một cái gì đó đập vào ngực tôi. Tôi hầu như không cảm thấy đau, không đau nhiều, chỉ một chút. Tôi nghĩ đó là một viên đạn, người ta nói rằng một người không cảm thấy đau nhiều trong thời điểm đầu tiên, trong vài giây sau khi bị đánh hay bị bắn. Tôi không muốn nhìn xuống, bởi vì nếu tôi bị trúng một viên đạn xuyên ngực, tất cả sẽ kết thúc rất sớm: cuộc đời điên rồ của tôi, tất cả những cuộc phiêu lưu và những trận chiến mà tôi đã trải qua suốt từ khi còn là một đứa trẻ. Và vì vậy, tôi tiếp tục tác nghiệp, theo quán tính.

Có một làn khói kinh tởm tỏa khắp con phố và ngay sau đó tôi nhận ra rằng mình không phải bị trúng đạn, mà là trúng một trái lựu đạn hơi cay. Tôi vẫn đang sống, đột nhiên, như để ăn mừng sự thật đó, điều kỳ diệu đó, bộ não của tôi nhớ lại những nét chữ viết tay được ghi vào trang cuối cùng của cuốn The River of Fire.

Và tôi nhớ lại khuôn mặt của một cô gái, một cô hầu gái tên là Ratan, nhân vật trong bộ phim The Postmaster, phần đầu tiên của bộ ba “Con gái” được đạo diễn bởi một trong những nhà làm phim xuất sắc nhất mọi thời đại – Satyajit Ray. Tôi nhớ lại câu chuyện của cô ấy, ban đầu được viết bởi Tagore: Một người quản lý bưu điện mới, từ Kolkata đến một ngôi làng nhỏ. Ratan, một người giúp việc, một đứa trẻ mồ côi, được trao cho anh ta. Anh ta đã tốt với cô ấy: anh ta không đánh cô như chủ nhân trước đó đã làm. Rồi anh ta cảm thấy buồn chán ngôi làng. Anh bắt đầu dạy cô cách đọc và viết, nói chuyện với cô ấy. Họ cùng nhau sợ hãi cơn bão khủng khiếp. Anh ta ngã bệnh. Cô gái chuyển đến nhà anh ta, ở bên cạnh anh, ngày và đêm, thức canh, và cứu sống anh. Cô ấy yêu anh ta, mặc dù không một lời thân mật nào được thốt ra. Anh ta hồi phục, quyết định ra đi, một người quản lý bưu điện khác lại đến. Cô gái kịp gặp tình yêu của mình, trên một con đường vắng, khi anh đang khởi hành. Cô gái nhìn anh, lần cuối cùng. Anh ta dừng lại, và sau đó lại tiếp tục đi. Đây chính là một trong những khoảnh khắc đẹp nhất của nền điện ảnh thế giới… “Thật là một câu chuyện”, tôi nghĩ, “thật là một câu chuyện tuyệt vời!”…

Khói đã bao trùm toàn bộ bề mặt đại lộ. “Mình đang làm gì ở đây?” – Tôi nghĩ, chỉ trong một tích tắc của giây. Nhưng trong tiềm thức tôi biết: tôi đã ở tiền tuyến, trong nhiều năm, chiến đấu để tồn tại trong những câu chuyện có thật. Đó là tất cả những gì xung quanh chúng ta: nhỏ bé nhưng sâu lắng, sợ hãi và bị làm cho bẽ mặt bởi hàng triệu tác phẩm đến từ Hollywood và Disney, với tất cả những điều sai trái, ồn ào và dối trá. Mỗi khi ngắm các khẩu súng thần công thời xưa, tôi thường nghĩ rằng các triết gia, không chỉ những người kể chuyện, đều đã “hết thời”. Cả hai đều được gán danh tính là đồ chơi bằng gỗ, được làm bằng tình yêu thương nhưng giờ đã lỗi thời, bị đẩy vào quên lãng bởi những điều siêu thực tế, bởi phương tiện điện tử, làm giảm cảm xúc và sự tương tác giữa con người với nhau chỉ bằng một vài tiếng sủa ngắn gọn không mạch lạc.

Tôi nhấn nút chụp. Máy ảnh tĩnh chuyên nghiệp hạng nặng của tôi đã ghi lại được một khoảnh khắc – một cô bé nhỏ xíu đang bám lấy mẹ, giàn giụa nước mắt vì hơi cay… Nhưng câu chuyện của cô ấy, câu chuyện nhỏ bé và có thật của cô ấy làm sao có thể cạnh tranh với câu chuyện giả tưởng về một số loài côn trùng khổng lồ xâm chiếm trái đất; làm sao câu chuyện có thực của cô bé có thể cạnh tranh với hình ảnh nỗi kinh hoàng khi toàn bộ California rơi xuống vách đá trong những bộ phim Hollywood về ngày tận thế…

Những gì tôi thực sự đang làm ở đây là cố gắng ghi lại những cái nhìn cuối cùng về loài người. Những nỗi đau thực sự, khao khát thực sự, hy vọng thực sự, và vâng: tình yêu thực sự.

Để ghi lại tất cả những câu chuyện đang bị làm cho biến mất đó, tôi đã tiếp tục di chuyển hết các cực địa lý, đến những nơi khó tiếp cận nhất trên thế giới, trong các khu vực xung đột và chiến tranh. Tôi được thúc đẩy bởi sự bất chấp triệt để đối với thực tế ảo, thứ đang cố gắng giết chết lòng trắc ẩn, hy vọng, ước mơ, thậm chí cả tình yêu của con ngưởi. Thực tế ảo tuyệt đối không thể tác động với những người như tôi, cuộc sống của tôi chính là hiện thực cuộc sống đang diễn ra, dù tôi có thể phải chết, bởi đó cũng là một câu chuyện hiện thực.

Tôi cố gắng vuốt thẳng chiếc áo sơ mi bẩn thỉu của mình và kiểm tra ống kính. Chúng còn nguyên vẹn. Máy ảnh đã hoạt động. Cơ thể tôi đã hoạt động. Trí nhớ của tôi vẫn hoạt động: đứa bé được sinh ra trên xe của tôi ở Ayacucho là một bé gái, xinh đẹp nhất, đáng yêu nhất; tên cô gái trong phim của Ray là Ratan; dòng chữ viết bằng bút chì cuối cuốn The River of Fire (Dòng sông lửa) ghi: DK 30-9-99 24036, bất kể nó có nghĩa là gì đi nữa…

Khẩu súng trên chiếc xe tăng lại tiếp tục di chuyển, lần này là từ phải sang trái. Một lần nữa nó đã không dừng lại vị trí của tôi. Tôi đã sống. Và trái tim tôi vẫn ở bên trái, nơi nó thuộc về, và nó đang đập đều đặn, đẩy dòng máu đỏ qua huyết quản của tôi. Và tôi sẽ không ngừng kể những câu chuyện có thật, miễn là có sự chuyển động tự nhiên ở bên trái phía trong lồng ngực đang sưng phồng của tôi.

Andre Vltchek
Ngô Mạnh Hùng (dịch)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 621

Ý Kiến bạn đọc