Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Giáo sư Phan Huy Lê: Ẩn chính dương phụ!

Thuyết trình về quan điểm mới cho các khoảng trống lịch sử, GS. Phan Huy Lê đã lẩn tránh chỗ cơ bản trương lên chỗ không cơ bản, kích động như một sự vô cùng nguy hiểm (Xem Tuổi trẻ số 47/2017, ngày 23/2/2017. Tr.17).

Giáo sư xem công lao Nhà Nguyễn, cải cách ruộng đất, quốc gia Việt Nam, lịch sử Việt Nam cộng hòa, lịch sử Nam bộ… là những khoảng trống nguy hiểm trong nhận thức về lịch sử, thậm chí một khoảng trống lịch sử cực kỳ nguy hiểm. Và GS. Lê noi theo phương pháp viết sử của Trung Quốc hiện nay để san lấp khoảng trống!

Trước hết, hãy nói về khách quan, trung thực. GS. Lê viết:

Sử học đành rằng phải làm tròn trách nhiệm công dân nhưng sứ mệnh cao cả nhất của sử học là làm thế nào để tạo nên được những trang sử bằng cứ liệu lịch sử khách quan trung thực (Báo đã dẫn. Tr.17).

Phân biệt trách nhiệm công dân với mô tả lịch sử như thế là phân lại vấn đề cơ bản nhất của khoa học lịch sử nói chung và của đất nước trong thời đại này.

Trung thực khách quan trong sử học là như thế nào? Nếu không có một quan điểm cơ bản làm nền tảng thì làm sao phân biệt được các cứ liệu lịch sử? Làm sao khách quan?

Quan điểm cơ bản của sử học Việt Nam từ trước đến nay, hiện nay và trong tương lai là như thế nào? Điều đó, vị Nguyên Chủ tịch và Chủ tịch Danh dự Khoa học Lịch sử Việt Nam phải biết hơn tất cả mọi người! Những tranh luận về chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn lâu nay chính là không đưa ra quan điểm cơ bản làm cơ sở đánh giá. Như trận cầu không có trọng tài, làm sao lấp được khoảng trống. Về Nhà Nguyễn, quan điểm của GS bộc lộ rõ trong Tổng kết Hội thảo năm 2008 về Vương triều Nguyễn. Dư luận đã hết sức phản đối và Ban Bí thư Trung ương Đảng lúc đó đã có ý kiến chỉ đạo. Nhà văn Vũ Hạnh đã có bài viết nêu quan điểm rõ ràng, cứ liệu minh bạch phản bác lại quan điểm của GS. Lê, xem đó là sự bênh vực cho chủ nghĩa đầu hàng. Điều đó là hoàn toàn đúng. Bản chất xuyên suốt của lịch sử Việt Nam trong quá trình dựng nước và giữ nước là chống ngoại xâm, giành lại và bảo vệ độc lập dân tộc. Không có gì quí hơn độc lập tự do. Thà hi sinh tất cả chứ không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ (Hồ Chí Minh). Đó vừa là bản chất, vừa là quan điểm cơ bản nhất để nghiên cứu lịch sử, viết lịch sử.

Gs
Gs. Phan Huy Lê.

GS cho rằng Nhà Nguyễn có công lao rất lớn như thế như thế… tuy rằng có tội để mất nước và bảo thủ không chịu nghe theo các đề nghị canh tân… Chúng tôi cho rằng Nhà Nguyễn có tội cực kỳ lớn là đã đầu hàng ngoại xâm, để mất nước… tuy có công mở mang bờ cõi, xác lập nền hành chính quốc gia, xác định lãnh thổ (Minh Mệnh) nhưng đã dâng cho giặc từ 1862. Công lao mở cõi, định hình thống nhất quốc gia đã trôi sông đổ biển, đúng ra là đã rơi vào tay giặc. Và cho đến trước Cách mạng Tháng Tám, về nền hành chính quốc gia, về một quốc gia Việt Nam thống nhất đã không còn nữa. Mà chỉ có Liên bang Đông Dương, trong đó đất nước chúng ta bị chia làm ba kỳ với những hình thức thống trị khác nhau: Nam kỳ (thuộc địa), Trung kỳ (tự trị), Bắc kỳ (bảo hộ)… nhưng thực chất đều do thực dân Pháp nắm quyền. Nếu GS được sinh ra ở Thanh Hóa, gia đình có ít nhiều mảnh ruộng, đều phải có tờ trích lục – như sổ đỏ bây giờ, mà biểu hiệu của văn bản ghi là: Đại Nam Trung kỳ Chánh phủ tỉnh Thanh Hóa. Vâng! Nước Đại Nam Trung kỳ chứ không phải Đại Nam nhất thống toàn đồ như thời Minh Mệnh đã xác lập. Giáo sư định lấp khoảng trống này một cách đơn giản vậy sao? Hãy tính xem từ 1862 bắt đầu cuộc chống Pháp ở Nam bộ cho đến tháng 4-1975, hoàn thành công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc… Thời gian là bao nhiêu, hi sinh tổn thất về mọi phương diện là như thế nào… để có được đất nước như hôm nay cho GS bịa ra khoảng trống cực kỳ nguy hiểm! Các chúa Nguyễn và Nhà Nguyễn, cụ thể là Gia Long – Nguyễn Ánh đã thừa hưởng thành quả của bao đời trước mà trực tiếp là của triều đại Quang Trung – Nguyễn Huệ. Một nước Việt Nam thống nhất về cơ bản gần như hôm nay là nhờ công lao của Nguyễn Huệ, trong thì trừ bạo yên dân, ngoài thì đập tan ý chí xâm lược của ngoại bang, phía Nam đánh cho quân Xiêm tan tác, phía Bắc đuổi cho quân Thanh chạy “mất dép” khiến vua Càn Long phải ngậm bồ hòn làm ngọt đón tiếp vị “Quang Trung giả” sang cầu phong, cho làm lễ ôm gối… Khi Nguyễn Huệ chết đột ngột (1792) và phải 10 năm sau (1802), Nguyễn Ánh mới chiếm lại được ngôi vị, cơ đồ, thống nhất đất nước trên cái nền mà Nguyễn Huệ đã tạo dựng. Người đứng đầu ngành sử học một quốc gia sao có thể không biết điều đó. Quan điểm sử học của GS đã nghiêng ngả và GS cũng không trung thực nhất quán. Trong thuyết trình này, GS nói: Năm 1757, chúa Nguyễn đã định hình được lãnh thổ Việt Nam mà về cơ bản gần giống như lãnh thổ Việt Nam hiện nay từ phía Bắc vào Cà Mau, từ Tây Nguyên ra biển… (Báo Tuổi trẻ, số đã dẫn. Tr.17).

Năm 1757 là thời của chúa Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát. Sự kiện năm đó là chúa Nguyễn đặt Rạch Giá làm đạo Kiên Giang và Cà Mau làm đạo Long Xuyên (Niên biểu tóm tắt Lịch sử Việt Nam. Hà Văn Thư – Trần Hồng Đức. NXB Văn hóa Dân tộc. H.2016. Tr.207). Và 20 năm sau – 1777 – mới có cuộc khởi nghĩa Tây Sơn và sự nghiệp nhất thống sơn hà của Nguyễn Huệ.

Cũng trong thuyết trình này, GS khẳng định khởi nghĩa Mai Thúc Loan, sự nghiệp của Mai Hắc đế kéo dài đến 10 năm và có quan hệ đến các quốc gia khác như Chăm Pa, Chân Lạp… Vâng, GS muốn nói sao cũng được, miễn có sử liệu khách quan trung thực, mà trước hết hãy xác định cho được nguyên nhân cuộc khởi nghĩa, có thật là do phải gánh vải chạy bộ để tiến cống cho Dương Quí Phi tận Bắc Kinh quãng đường dài trên 6.000km mà Mai Thúc Loan nổi dậy hay không? Về chuyện này GS nên biện luận với ông Lê Mạnh Chiến. Cũng nhân thể, xem ông Lê Mạnh Chiến khảo cứu về qui chế Viện sĩ Viện Hàn lâm Pháp như thế nào và trực hệ của nhà sử học Phan Huy Chú là như thế nào?

Quả thực, chúng tôi không tin. Năm 2008, GS nói các chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn đã để lại cho con cháu cả một “gói thơm thảo”. Cái gói ba kỳ, trải qua 80 năm nô lệ, nó thơm thảo quá. GS hãy về Thái Bình nhờ nhà báo Minh Chuyên dẫn đi thăm các nạn nhân chất độc da cam xem họ được hưởng cái gói thơm thảo đó như thế nào. Ra thăm Côn Đảo rồi về đọc Lịch sử nhà tù Côn Đảo xem cái gói thơm thảo nó như thế nào? Hai triệu dân Việt chết đói năm 1945 có biết cái gói thơm thảo đó không?

Cho nên không lạ gì những lời lẽ kích động của GS về những khoảng trống cực kỳ nguy hiểm!

Chúng tôi muốn nói lại với GS về công hay tội của Nguyễn Ánh, người mở đầu Vương triều Nguyễn. Sử sách đã nói nhiều đến Hiệp ước mà Nguyễn Ánh nhờ Bá Đa Lộc ký với nước Pháp. Tuy Hiệp ước đó không thành hiện thực nhưng tư tưởng sẵn sàng bán một phần lãnh thổ quốc gia để có được binh lực mong chiếm lại ngôi vị của dòng tộc đã thành hiện thực. Đây là tội lỗi lịch sử cực kỳ nguy hiểm của Nguyễn Ánh. Đối phương một khi đã nắm được yếu điểm của người nắm quyền lực cao nhất thì cái ĐIỂM TỬ của Nguyễn Ánh, của quốc gia do Nguyễn Ánh đại diện, đã lộ rõ và kết thúc chỉ là thời gian. Nguyễn Ánh hành động không phải vì quốc gia dân tộc mà vì lợi ích cá nhân, dòng tộc, đến mức có thể bán một phần quốc gia, đến mức chịu khoản nợ quốc gia bằng máu – cầu viện quân Xiêm – là những sử liệu rất rõ ràng. Cho nên quân Pháp đã rất ngang ngược gây hấn và cướp đoạt giang sơn cơ nghiệp của Nguyễn Ánh, từ ba tỉnh miền Đông cho đến hết ba kỳ của nước Việt Nam, đến hết trọn gói thơm thảo của GS. Phan Huy Lê. Quân Pháp không cần có tình báo chiến lược mà Nguyễn Ánh đã tự bộc lộ, dâng tâm can của mình cho giặc. Nếu nói là căn bệnh bản thể của Nhà Nguyễn (Nguyên Ngọc), của nước Đại Nam do Nhà Nguyễn cầm quyền thì chính là căn bệnh này. Để mất nước chính là do căn bệnh này. Nếu Thế Tổ Cao hoàng đế Gia Long sẵn sàng bán một phần quốc gia, sẵn sàng chịu không nợ quốc gia bằng máu để có được ngôi vị cho dòng tộc, cho vương triều, cho bản thân mình… thì đến đời cháu chắt, trong khoảng chưa đầy trăm năm (từ 1783 đến 1884), con cháu Nguyễn Ánh đã chịu mất cả quốc gia để được yên ngôi vị bù nhìn. Đê hèn nhất là Bảo Đại, đã bị Pháp đặt vào cái ngai vàng bù nhìn, Pháp thua, Nhật đến, lại làm bù nhìn cho Nhật, Nhật thua, Pháp quay lại, lại làm bù nhìn cho Pháp. Nếu sứ mệnh cao cả của sử học như GS. Lê nói, thì nên phân tích sự kiện và hành trạng của Nguyễn Ánh, đã gây tổn hại cho đất nước, cho dân tộc như thế nào? Xin xem thêm Phạm Nguyễn: “Biên niên những hành động bán nước có hệ thống của Nguyễn Ánh” trong sách Chiến thắng Rạch Gầm – Xoài Mút. Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Tiền Giang xuất bản năm 1984 (Dẫn lại của Nguyễn Đình Tư: Chế độ thực dân Pháp trên đất Nam kỳ. NXB Tổng hợp, TP.HCM 2016. Tập 1. Tr.10). Và của Thập nhị Đại tôn Bảo Đại nữa!

Lâu nay sử học thường nói hành động cõng rắn cắn gà nhà của Nguyễn Ánh mà ít phân tích đến di hại của tư tưởng bán nước cầu vinh, đây là điểm yếu chết người, chết quốc gia của kẻ cầm đầu quốc gia. Hoàn toàn trái với truyền thống, với bản lĩnh dân tộc. Một di hại cực kỳ lớn. Một căn bệnh cực kỳ nguy hiểm mà Vương triều Nguyễn đã để lại cho lịch sử dân tộc, thưa Giáo sư! Nhìn lại lịch sử từ Bà Trưng Bà Triệu, Lý Thái Tổ, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi – Nguyễn Trãi, Nguyễn Huệ… thì Vương triều Nguyễn là tệ hại nhất, làm ô uế truyền thống, tự đánh mất vai trò lãnh đạo quốc gia, đại diện dân tộc… Đó là một kết luận có cứ liệu lịch sử khách quan trung thực, thưa Giáo sư!

Chúng tôi nghĩ rằng nghiên cứu lịch sử Việt Nam phải lấy tính nhân văn, tính dân tộc làm quan điểm cơ bản. Từ đó mà đánh giá các hiện tượng lịch sử, thì không có khoảng trống nào không san lấp cho bằng phẳng lại được. Trước những khoảng trống cực kỳ nguy hiểm mà quan điểm trước sau bất nhất như GS thì cái sự “tạo nên những trang sử bằng cứ liệu lịch sử…” chỉ là tiếp tục các Hiệp ước của Nguyễn Ánh, của Tự Đức, Đồng Khánh, Khải Định, Bảo Đại mà thôi!

Điều này không có gì khó hiểu.

Tại Hội nghị Sử học vừa rồi, nhà lãnh đạo cao cấp của Đảng Cộng sản Việt Nam, Ủy viên Bộ Chính trị – Trưởng Ban Tuyên giáo Võ Văn Thưởng đã nói: … nhìn vào lịch sử để nhận ra bài học về xây dựng và bảo vệ đất nước (Báo đã dẫn. Tr.17). Đó là quan điểm hoàn toàn đúng đắn đến độ chính xác, không chỉ cho hôm nay mà là xuyên suốt, không chỉ cho sử học mà cho toàn bộ khoa học xã hội và nhân văn, cho toàn bộ hoạt động văn hóa – tư tưởng.

Hình như GS lẩn tránh điều này khi nói đành rằng sử học phải có trách nhiệm công dân nhưng cao hơn là tạo dựng nên được những trang sử bằng cứ liệu lịch sử…

Thưa Giáo sư, chúng tôi nghĩ rằng bản chất của sử học, sứ mệnh cao cả của sử học là rút ra được những kinh nghiệm sống – kinh nghiệm tồn tại và phát triển – của một cộng đồng quốc gia dân tộc. Nó cao cả, cấp thiết hơn là tạo dựng nên những trang sử. Sử học đâu phải chỗ chuyên chú vào chữ nghĩa, sách vở, cứ liệu sử liệu này kia, vào tài rậm lời khua bút… Chỗ này, lịch sử cũng phải như văn chương: có thứ đáng thờ và có thứ không đáng thờ. Sử học đáng thờ là sử học chuyên chú vào con người, vào quốc gia dân tộc trên con đường khó khăn gian khổ giành lại quyền sống, quyền làm người… Còn sử học không đáng thờ là thứ sử học chỉ chuyên chú vào bút mực, tạo dựng lại lịch sử hiện thực bằng lịch sử văn bản… Dù có thật như đếm thì cũng chỉ là thứ mô tả biên niên ngày ấy, giờ ấy, chỗ ấy, người ấy, có sự… ấy! Ấy đấy! Ấy đấy!

Ấy! Giáo sư thể tất cho. Kẻ viết bài này lại dám múa rìu qua mắt thợ… Ấy nhưng mà cụ Nguyễn Siêu, từ hơn trăm năm trước đã nói như thế!

Thưa Giáo sư! Cách tư duy địch – ta đã lùi vào quá khứ rồi. Sự giao lưu kinh tế văn hóa hôm nay chỉ còn có thị trường và lợi ích quốc gia thôi. Nếu trong tư duy sử học mà còn có sự ấy thì trách nhiệm trước hết ở Giáo sư, với cương vị người đứng đầu ngành sử học. Sao Giáo sư lại kêu gào ầm ĩ rằng là khoảng trống cực kỳ nguy hiểm. Hơn 40 năm từ ngày thống nhất đất nước. Hơn 30 năm từ ngày đổi mới, Đảng và Nhà nước của chính thể này đã nói rõ quan điểm nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật, nói rõ sự thật… có ngăn sông cấm chợ gì đâu. Từ ngày lãnh đạo ngành sử học đến nay Giáo sư đã làm gì theo tinh thần đó? Giáo sư đưa ra quan điểm mới đúng là như từ trên trời rơi xuống. Giáo sư gọi là mới nhưng chúng tôi thấy nó cũ lắm. Nhiệm vụ của sử học hôm nay là phải xem xét mọi hiện tượng lịch sử, tìm ra bản chất của nó (chứ không phải mô tả nó) để đi đến khái quát những qui luật, những kinh nghiệm, những bài học về xây dựng và bảo vệ đất nước, khách quan trung thực trên nền tảng lợi ích dân tộc, đất nước (PGS.TS Trần Đức Cường, đương kim Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam).

Trên quan điểm cơ bản đó thì cái bản chất bù nhìn tay sai của Quốc gia Việt Nam, Quốc trưởng Bảo Đại có gì là khó nhận ra. Thủ tướng bù nhìn của Quốc gia Việt Nam có lên tiếng ở Hội nghị Quốc tế về chủ quyền của Việt Nam trên biển đảo là đáng ghi nhận… nhưng đâu phải thiếu một lời nói đó thì nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hôm nay thiếu cơ sở pháp lý trọng yếu để khẳng định chủ quyền lãnh thổ. Cũng như cái Quốc gia Việt Nam lại có một thị trưởng Hà Nội như Trần Văn Lai. Chế độ mới trân trọng ghi nhận công lao của Thị trưởng Hà Nội Trần Văn Lai, lại mời ông làm Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Thủ đô Hà Nội… là biết người biết của, biết phân biệt chính phụ, cá nhân và bản chất của mỗi thể chế. Thủ tướng hành pháp Nguyễn Cao Kỳ và Việt kiều Nguyễn Cao Kỳ được tiếp đón như thế nào, chẳng lẽ Giáo sư Chủ tịch Danh dự lại không biết sao!

Lịch sử quốc gia quả là rộng lớn và phức tạp, thiên kinh vạn quyển khó mà bao quát hết. Nhưng một lòng tâm niệm: Không có gì quí hơn Độc lập – Tự do, cái gì có lợi cho dân cho nước, dẫu nhỏ cũng cố làm. Cái gì có hại cho dân cho nước, dẫu nhỏ phải cố tránh, sử học phải tìm ra và khẳng định, tô đậm những bài học xây dựng và bảo vệ đất nước, lấy đó làm nguyên tắc bất biến mà ứng vạn biến… thì Giáo sư tha hồ múa bút, tạo được những trang sử đúng với ý nghĩa là những trang sử! Mong Giáo sư vậy thay!

TP. Hồ Chí Minh, 2-3-2017

Quan Văn Đàn
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 441

Ý Kiến bạn đọc