Truyện ngắn

Giấc Thanh minh

 

Chiếc bàn gỗ tròn kê giữa sân, dưới những vạt nắng xuyên qua tán lá của hàng cây xanh. Chắc phải 10 giờ mâm cỗ mới được bày biện xong. Cái đầu heo đặt ở chính giữa cùng vài thứ bánh, bia, rượu, nước ngọt, trái cây; bên cạnh là nồi cháo lòng to tổ chảng. Nhang, đèn đã đốt lên, có ông mặt trời chang chang trên đầu chứng giám. Phía đầu xóm, mấy nhà tập trung lại, hùn nhau cúng thanh minh, thuê giàn karaoke di động về, hò hát ầm ĩ từ sáng giờ. Bà Hảo đứng chắp tay kính cẩn, rì rầm khấn vái: “Kính thỉnh các bác, các anh mũ tai bèo, mũ sắt, cùng những người khuất mày khuất mặt đang nằm trên đất này. Hôm nay nhân tiết Thanh minh, gia chủ lòng thành…”.

Binh nhất áo vá nằm vắt vẻo trên cây mít già, lẩm nhẩm hát: “Quần nhau với giặc, áo con rách thêm, nên các mẹ già lại phải thức thâu đêm vá í áo. Chiếc áo ấy, bấy lâu nay con quý hơn cơm gạo…”, bỗng hắn hỉnh mũi, hít hít, rồi la lên:

- Có mùi nhang! Các cậu ơi!

Hạ sĩ đầu băng kín một mắt, phủi bụi bám đít quần, đứng dậy, ngó dáo dác. Tiếng nói vọng từ trên ngọn dừa:

- Chú ý! Chú ý! Có tiếng máy bay phản lực từ hướng đông bay tới! Nhìn rõ rồi, là máy bay MiG 31.

Áo vá vẫy tay.

- Xuống đi trinh sát độc thủ! Còn một tay mà khỏe leo trèo thế! Giờ toàn máy bay của ta thôi mà!

Trinh sát nhảy từ trên ngọn dừa xuống nhẹ nhàng, cánh tay áo cụt bay lất phất như cánh chim.

- Tớ cứ quen như hồi còn đánh nhau, vốn dị ứng với tiếng máy bay. Trận chống càn năm ấy, đang quan sát trên ngọn dừa, thằng cường kích A4 quất cho tớ một loạt đại liên, nên mới rơi xuống đứt luôn đấy chứ!

- Lúc ấy nếu cậu cố bám cây dừa, từ từ tụt xuống thì đã không chết!

- Tổ sư nó! Đạn bắn nát một bên cánh tay, bám thế đếch nào được nữa!

Áo vá xoay người lại, một miếng vá màu xanh mới đè lên vai áo quân phục bạc phếch.

- Là trinh sát giỏi, có ngửi thấy mùi gì không?

- Mùi cháo lòng, mùi thịt heo luộc, thơm quá! Ôi giời ơi! Cái bụng tôi đau quặn. Đói quá!

So-554--Ban-Sonate-Mau-Than-1968---Phan-Oanh---Anh-1
Bản Sonate Mậu Thân 1968 – sơn dầu – Phan Oánh.

Hạ sĩ buộc lại nút băng trắng trên đầu thật chặt, nắm gạc bông bịt trên mắt trái, máu đỏ bầm. Cả ba dàn hàng ngang, tiến dần về hướng có mùi nhang thơm ngát. Gần nửa thế kỷ cư trú ở khu đất này, từ khi còn là khu đồi hoang cho tới đầu thập niên 80 vợ chồng bà Hảo dắt nhau từ thành phố về khai hoang lập trại, mấy người lính được hưởng hoa trái và nồi cháo gà đúng một lần khi gia đình này dựng căn nhà tranh nhỏ. Ngạc nhiên thật, mấy chục năm nay tự nhiên bày cỗ cúng thanh minh, mà lại cỗ to nữa chứ. Thủ tục khấn bái rườm rà quá, làm mấy người lính sốt ruột. Cốt ở cái tâm thôi mà! Nói nhiều thì cũng vậy thôi. Nghe bà chủ lầm rầm khấn, chắc còn vài người nữa. Mâm cỗ được chuyển từ trên chiếc bàn ngập nắng xuống bãi cỏ dưới gốc cây mít già. Tán lá xanh ưỡn mình chống chỏi với ông mặt trời nóng nực.

- Uống rượu trước hay bia trước?

Hạ sỹ đưa mắt hỏi cả nhóm. Binh nhất áo vá ồn ào.

- Nóng nực quá! Làm ngụm bia trước cho mát! Cứ từ từ nhấm nháp, bữa nay quá nhiều đồ ăn.

Gió thổi ào ạt, mát rượi. Quen tay, mấy chiếc mũ tai bèo vẫn phe phảy đuổi lũ ruồi háu ăn đang liều mạng lao tới. Bỗng hạ sỹ nức lên khóc, giơ tay chùi nước mắt, miếng thịt sỏ vừa đưa lên miệng vội đặt xuống tàu lá chuối.

- Sao khóc?

- Tớ nhớ mẹ! Hồi còn ở nhà, mỗi lần ăn đụng thịt lợn Tết, bao giờ bà cũng nhặt nhạnh đám xương vụn nấu cho mấy anh em nồi cháo. Chẳng được như nồi cháo này, nhưng lúc đó thấy ngon kỳ lạ.

Trinh sát chép miệng.

- Ừ! Cái thời ấy đói hoa mắt, có khoai lang ăn đã tốt rồi, nói gì cháo xương lợn. Thôi ăn đi! Nhớ mẹ thì ngày giỗ về thăm.

Áo vá xoa tay lên vết áo thủng trên ngực trái.

- Ước gì mẹ tớ vá cho miếng áo rách này! Ở đây có tí kim chỉ nào đâu!

Lỗ thủng trên ngực áo là nỗi buồn khó quên của chàng binh nhất 19 tuổi, trong một đêm tổ 3 người của anh đi công tác bị bọn lính Đại Hàn phục kích. Chúng rắp tâm bắt sống các anh nên bí mật tiếp cận. Không có tiếng súng, chỉ những tiếng bịch, hự, gầm gừ. Chàng binh nhất áo vá bị vật ngã ngửa, một cánh tay của tên lính chèn ngang cổ họng. Vùng vẫy, giãy giụa, rồi sức thanh niên thần kỳ giúp anh thúc đầu gối lên bụng đối phương, hất hắn ngã ra. Bất ngờ và nhanh như cọp, hàm răng chắc khỏe của anh ngoạm chặt yết hầu tên lính, cảm thấy vị mằn mặn nóng hổi của máu kẻ thù. Hắn rú lên ằng ặc, nhưng vẫn kịp phóng mũi dao găm vào ngực trái anh. Trên ngực áo hằn một vết rách nhỏ và mỏng. Hai đồng đội nhờ bóng tối mà thoát vào rừng. Bọn Đại Hàn rút lui, nhưng không làm sao tách thi thể của anh ra khỏi xác tên lính. Hàm răng anh nghiến chặt, khiến bọn chúng phải dùng dao găm khoét yết hầu tên lính, để lại.

Thịt đầu heo luộc chấm muối ớt rất ngon, nhưng cay quá, ai cũng xuýt xoa. Rượu Bàu Đá ngọt nước mà nặng, mới đi một li đã sốc tận óc.

- Chào mấy anh! Cho em vui với!

Giọng phụ nữ xứ Nẫu véo von như chim. Trinh sát đứng dậy, nhìn sang hướng 2 giờ, phát hiện một thiếu phụ chừng 30 tuổi, mặc chiếc áo màu đỏ cam.

- A! Chị hàng xóm! Mời nhập mâm! Xin lỗi bọn tôi dùng trước mất rồi!

Áo vá đon đả mời, tháo chiếc dép cao su đưa cho người nữ lót ngồi.

Chị này quen lắm, nhà ở mãi cuối bãi, nơi có cây vú sữa to, sum suê màu lá tím biếc. Không biết làm gì, chỉ thấy chị áo đỏ hay lang thang tìm kiếm trong rừng.

- Cho em xin lát bánh tét! Lâu quá chưa được ăn…

- Uống bia! Uống ly bia cho mát nhá!

- Dạ thôi! Uống vô say xỉn dị lắm! Cho em miếng lỗ tai heo nữa.

Chị áo đỏ vẻ no nê, bắt đầu líu lo chuyện. Chị kể mình là cư dân đầu tiên ở đây, trước cả 3 anh lính mũ tai bèo. Năm “65”, tụi lính Đại Hàn mới về đây, hung hãn như cọp, hở ra là chúng bắn giết, hãm hiếp. Chị áo đỏ từ ấp chiến lược vác cuốc về vườn cũ đào khoai lang, ai dè đụng lính Đại Hàn. Bốn thằng lực lưỡng túm lấy chị, tát liên tiếp lên mặt. Tên thông dịch hỏi chị vô rừng liên lạc với “vi-xi” phải không? Căn cứ “vi-xi” ở chỗ nào?

- Chỗ cái đầu cha tụi bây! Tao đi đào khoai chớ biết vi-xi ở đâu.

Một báng súng dộng vô ngực chị đau nhói, tức thở. Tên lính khác túm ngực áo chị xé toang. Những tiếng cười khả ố vây quanh, rồi cả đám đè chị ra, cưỡng hiếp. Lâu lắm, chị không biết thời gian bao lâu trôi qua. Chị lả đi, rã rời, vừa thoát khỏi sức nặng đám người thú thì đầu chị choáng váng, nổ bung ra cùng một tiếng súng. Tụi lính vùi vội vàng thân thể chị dưới rãnh đất giữa hai luống khoai, nửa cánh tay còn hở trên mặt đất. Hôm sau, một nhóm phụ nữ cũng mò về đào khoai, phát hiện cánh tay áo đỏ thì sợ quá, bỏ chạy. Người chồng cùng hai đứa con chờ hoài không thấy vợ về, gặp nhóm phụ nữ, hỏi:

- Mấy chị lên Cát Phong, có gặp vợ tui trển hông?

- Hông thấy! Ủa, mà cổ mặc áo gì?

- Dạ, áo màu đỏ cam!

- Thôi rồi…! Lên rẫy khoai mang xác cổ về đi!

Nhưng khi người chồng tìm đến nơi, đám thú rừng đã hoàn thành bữa tiệc của chúng, dưới rãnh đất chỉ còn vương vãi mấy mảnh vải áo màu đỏ.

- Em có chiếc gương để trong túi áo, lũ thú rừng lôi xác em đi, hông biết rớt ở đâu. Nhiều lúc muốn soi gương xem mặt mũi mình ra sao. Em đi tìm miết mà hông thấy!

- Thảo nào! Thấy chị cứ lúi húi tìm kiếm suốt ngày!

Hạ sỹ chép miệng. Anh cũng có một chiếc gương nhỏ hình chữ nhật, đằng sau có tấm ảnh 3×4 của người yêu tặng. Lúc người anh bay lên cùng quả đạn cối nổ gần, chắc chiếc gương văng đâu mất, nếu không anh sẽ tặng lại chị áo đỏ. Phụ nữ không có gương lược thì chán chết.

Bỗng chị áo đỏ hét lên, ôm chặt lấy Áo vá, tay chỉ về phía gò mối. Mọi người cùng ngoái lại nhìn.

Nơi ấy xuất hiện một người đội mũ sắt, quân phục mầu xám rách tả tơi, cặp mắt một mí hau háu nhìn mâm cỗ. Kẻ lạ mặt bước ra khỏi gò mối, gập lưng chào mọi người. Chị áo đỏ lại hét lên:

- Lính Đại Hàn! Nó hung dữ lắm đó!

- Je song ham ni da! Je song ham ni da! (Tôi xin lỗi!)

Tên lính lại cúi gập người, lặp đi lặp lại câu tiếng Hàn. Chẳng ai hiểu gì hết, vì có ai biết tiếng Hàn đâu. Thực ra tên lính Đại Hàn đang nói câu xin lỗi, vẻ mặt hắn hiện ra rất rõ điều đó. Chắc hắn muốn xin lỗi vì những tội ác của đồng đội gây ra trên mảnh đất này mấy chục năm trước. Chị áo đỏ hốt hoảng vì nhận ra bộ quân phục và chiếc nón sắt khi mình bị bọn lính Đại Hàn cưỡng bức, nhưng chợt bình tĩnh lại khi thấy bộ dạng đói khát và hối hận của tên lính.

- Coi bộ nó đói khát hung rồi!

Cho nó chút gì ăn đi mấy anh!

Lời đề nghị của chị áo đỏ được hưởng ứng. Áo vá vẫy tay kêu tên lính lại gần:

- Tới đây! Đừng sợ! Chiến tranh qua lâu rồi, tất cả chúng ta giờ chỉ là hư ảo thôi!

Tên lính hình như hiểu được câu nói đó, qua cử chỉ của người lính Bắc Việt. Mấy chục năm trước, lính Đại Hàn điên cuồng tìm diệt những đơn vị chủ lực miền Bắc trên chiến trường Trung Nam bộ, giờ thì họ ân cần mời hắn nhập cuộc mâm cỗ ngày Thanh minh. Hắn lại cúi đầu, chắp tay rồi ngồi khép nép bên cạnh.

- Uống gì? Rượu hay bia?

Hắn chỉ vô lon bia Sài Gòn xanh, đưa hai tay đón lấy, giật nắp rồi nhìn khắp mọi người như biết ơn. Cái cần cổ gầy gò, cáu bẩn ngửa lên, cục yết hầu nhấp nhô liên tục. Cánh tay quệt ngang miệng, lau sạch đám bọt bia trắng đục. Áo vá nhìn chăm chú cục yết hầu nhọn hoắt của tên lính. Không phải cái yết hầu bị anh cắn hồi ấy. Chị áo đỏ gắp cho tên lính miếng thịt heo. Hắn cúi đầu “ne ne”, rồi mới đưa lên miệng. À! Chị áo đỏ thốt lên. Nhớ rồi! Nhớ ra rồi! Sau vụ chị bị lính Đại Hàn hiếp giết khoảng 3 tháng, có một trung đội “hổ xanh” trở lại đây và bị quân giải phóng bao vây, pháo kích. Lúc đó chị ngồi dưới gốc cây vừng, sợ hãi bịt hai tai lại, nhưng mắt thì quan sát thấy đám lính Đại Hàn bị chết, bị thương la liệt. Tên lính này bị hắt văng xa cả chục mét, rớt xuống cái Lỗ Lớn, một hố nước nhỏ bằng cái ao nông dân đào để lấy chỗ tát nước lên ruộng. Hắn bị chìm dưới nước, nên đồng đội không tìm thấy xác. Hơn nửa thế kỷ nằm lại xứ người, cũng tội nghiệp hắn.

- Có vợ con ở bển hông?

Chị áo đỏ hỏi, chỉ vào mình rồi vòng hai cánh tay đung đưa như bồng em bé. Tên lính cười, lắc đầu. Trinh sát thôi giơ chiếc đồng hồ cũ lên tai lắc lắc, lẩm bẩm:

- Không vợ con càng may chú mày ạ! Trai thời chiến, càng nhẹ thân càng tốt. Tớ hồi mới nhập ngũ, bố mẹ cứ ép cưới vợ, tớ chẳng dại. Phải cưới rồi, bây giờ dở dang đời con người ta không?

Hạ sỹ chỉ vào nồi cháo, nhắc tên lính:

- Ăn cháo đi! Cháo lòng lợn ngon lắm!

- Ne! Ne!

Trên bầu trời xanh chợt hiện lên một vệt khói trắng dài, rồi tiếng máy bay phản lực rít lên, xoẹt qua. Cả đám cỗ nhoáng nhoàng đứng dậy. Tên lính Đại Hàn chạy vụt nấp sau gò mối. Chị áo đỏ đã thấy thấp thoáng dưới gốc cây vú sữa. Áo vá kéo Hạ sỹ tránh trong tán lá mít, để mặc cậu trinh sát tót lên ngọn dừa cao. Họ cùng ngửa cổ nhìn lên trời, hỏi:

- Tình hình thế nào?

- Bố khỉ! Máy bay ta!

Trên ngọn dừa tiếng trinh sát vọng xuống. Mọi người phá lên cười. Lại cứ tưởng địch sắp càn. Làm bữa ăn mất cả ngon.

Ông Hảo cựa mình trên chiếc võng, ngáp một tiếng thật to.

- Cúng xong chưa hả bà?

- Xong lâu rồi! Ông ra dọn vô nhà giùm tui với! Chô cha! Heo nhà mình đẻ rồi ông ơi! Mười bốn con lận!

Ông Hảo chống gối đứng dậy. Mừng hung rồi! Năm nay bò đẻ, heo đẻ, hai vợ chồng già ấm túi, mặc sức mà chăm. Ngoài sân gió thổi hiu hiu mát, cái nắng dường như dịu đi. Trên chiếc bàn gỗ, mấy nén nhang đã cháy hết, tàn nhang cong vòng rất đẹp, cây đèn cầy vẫn cháy phần phật trong gió. Lạ thiệt, gió vầy mà lửa không tắt, cứ như bốc cháy từ một ngọn lửa bất tử. Ông lượm hai lon bia rơi dưới sân đặt lên mâm, bưng vô nhà. Hơi nóng từ nồi cháo lòng vẫn bay thơm phức, vẳng tiếng cười thích thú.

Trời Thanh minh đầy nắng.

Đã 4 tháng rồi chưa có trận mưa nào. Cầu trời mưa xuống một trận thiệt lớn.

Ngày 1/5/2019

Phùng Phương Quý
(Phù Ninh – Phú Thọ)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 554

Ý Kiến bạn đọc