Một góc làng quê

Gia tài cho con

“Kính tặng song thân sống đời nghĩa ân trung hậu”

Cha tôi mồ côi rất sớm! Người thường nói: “Từ ngày biết cầm chén cơm ăn là cực khổ rồi, cuộc đời tao trơ trọi như cây đứng giữa đồng, vì bà con thân quyến ai cũng đói nghèo lưu lạc không thể cưu mang nên tuổi thơ sớm linh đinh tha phương cầu thực”.

Đi ở cho người được chỗ nương thân mong có cơm để ăn, tiền công gia chủ không định trước, nếu có cũng không là bao vì lúc đó cha tôi còn quá nhỏ (khoảng 9, 10 tuổi). Đôi khi ông chủ cho chút ít tiền, vài lon gạo cha tôi mừng lắm túm lại xách về đưa cho chú, thím nuôi các con. Đến khi già yếu rồi Người mãi còn nói: “Hạt cơm của người ta tao ăn còn dính kẽ răng, tao làm sao quên ơn họ được…”.

Tới mùa lúa, từ nhà ở An Hữu (Cái Bè) chèo ghe đi thâu lúa ruộng của các tá điền ở nơi xa như: Bà Tồn, Bờ Vong, Xẻo Muồng, Xẻo Xịnh… Đong góp đầy ghe vội chèo về xúc đội đổ lên lẫm, tùy theo con nước xuôi ngược tranh thủ làm việc cho kịp, thường khi xong việc tới tận đêm khuya.

Anh-minh-hoa---Gia-tai-cho-con---Tre-muc-dong
Trẻ chăn trâu – Ảnh: Kim Chi

Quần áo thì thiếu thốn bạc sờn. Cha nói: “Tao có cái khăn bàng cũ rách để kê đầu đội lúa vừa làm tấm đắp lúc ngủ, có dư dả lành lặn gì con ơi! Quần áo trong nhà ông chủ mỗi lần soạn ra thấy chật hẹp nhưng còn mới, bác gái trong nhà chất đống để đốt không cho ai cả, tao thấy tiếc quá mà hổng dám xin…”.

Phương tiện di chuyển thường nhật là chèo ghe, bơi xuồng hoặc đi bộ. Mỗi lần chèo qua Vĩnh Long, xuống Bà Tồn (Cai Lậy) chở ông bà chủ đi công chuyện, trị bệnh… hoặc một mình mang xách đồ đạc để cho bà con của chủ, phải đi bộ xa như: qua Xẻo Mác (Sa Đéc), Bà Tồn (Cai Lậy)… Đi và về ròng rã cả ngày trời nhưng vẫn phải về cho kịp, cánh tay, đầu gối nhức mỏi tê cứng.

Cha mẹ tôi khi thành hôn rồi đâu có đất đai, nhà cửa gì, nên vẫn ở và lo làm việc cho nhà chủ. Mẹ tôi thường xay lúa, giã gạo, sàng sảy ruộng thóc qua tháng qua năm. Thời son trẻ của mẹ mỏi mòn theo từng ngày sàng gạo lượm thóc, lưng đau theo bao cối gạo giã, đôi tay tê nhức chai sần qua những giạ lúa trong cối xay, cùng sự cần mẫn chăm sóc đàn heo, bếp núc…

Ở đợ được nhiều năm, chủ điền bảo cha mẹ tôi ra riêng, ở đất đậu và mướn đất làm ruộng, sống đời tá điền từ đó. Nhà cửa sơ sài, huê lợi không đủ sống, vì ngoài trồng cây chuối ra chủ đất không cho trồng cây lâu năm, sợ lâu dần mình chiếm hữu đất vườn kia. Nên mẹ tôi luôn làm thuê cấy mướn, quán xuyến việc nhà cửa đồng áng, vì cha tôi lúc nào cũng túc trực ngoài nhà chủ.

Mẹ tôi phải thức sớm để bắc công cấy đất người, đất nhà. Oằn lưng trên đồng sâu ruộng cạn cấy hết mùa vụ. Anh tôi thường kể lại: “Trong xóm ấp này không có ai cực khổ như mẹ, hằng đêm thức để chăm sóc con nhỏ. Đầu hôm lo giã gạo, vì sợ đêm khuya động tịnh người trong xóm quở. Lọ mọ sàng sảy lượm thóc, vá đồ rách, canh giữ trộm cắp… thức đêm làm việc như thế!”.

Thời gian dần qua, ông bà chủ đau mất. Bà mất trên cánh tay cha tôi, rồi kế đến ông mất, cha tôi phải hằng đêm canh giữ mộ ông cả tháng trời (sợ trộm đạo phá mồ lấy của cải quí mang theo). Thời gian sau hai bác (gồm con và dâu của ông bà chủ) qua đời. Cha mẹ và các anh chị tôi chí tình lo việc hậu sự cho nhà chủ chu đáo.

Sống lao động bền bỉ cho đến cuối đời. Một đời trung thành tận tụy với chữ nghĩa ân của người tá điền nghèo khổ, luôn lặng thầm nuốt ngược nước mắt vào lòng…

Giờ đây con chỉ biết nhớ thương cha mẹ qua trang giấy mong manh với hàng chữ đơn sơ thiếu sót này. Vào đời với đôi tay trắng và số phận nhỏ nhoi, chỉ có lòng trung hậu và nhân cách sống cha mẹ để lại cả gia tài to lớn cho con cháu học tập.

Kym Phủ
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 440