Người tốt - Việc tốt

Ghi nhớ về Bác

Lúc bấy giờ khoảng 7 giờ tối. Bác vừa nói chuyện xong với anh em bộ đội, trên một khu đồi lộng gió – điểm cuối cùng trong chương trình một ngày Tết, cả một ngày tròn trặn. Bác đi thăm công trường đập Thác Huống, bà con nông dân một xã ở Thái Nguyên, đơn vị công nhân làm cầu Phủ Lạng Thương và một đơn vị quân đội đóng ở một điểm nào đó giữa khoảng Bắc Ninh – Bắc Giang. Trong dư âm tiếng vỗ tay sôi nổi xúc động và tiếng hô “Muôn năm! Hồ Chủ tịch muôn năm!”, Bác bước xuống đồi trở về Hà Nội. Đêm đầu tháng, tối nhưng quang đãng; thấy mờ mờ những vuông xám nhà cửa rải rác của một xóm phía dưới xa. Anh em đốt đuốc soi đường để Bác đi. Giữa hai bó đuốc cháy rừng rực trong gió lạnh, Bác rảo bước, đôi dép cao su quai đen – đôi dép đã thành lịch sử – dận trên sỏi rào rạo. Chợt Bác nhìn quanh trong quãng đêm tối, Bác bảo: “Để thấp đuốc, kẻo bay tàn lên nhà đồng bào”. Vài ba tàn lửa nảy lép bép, rơi chéo xuống đất. Đang bước nhanh, bỗng dưng Bác quay mình sang trái, rồi sang bên phải, lấy dép dập dập cái đốm đỏ ấy đi. Rồi Bác lại rảo bước, Bác vừa đi vừa nói chuyện, nhưng mắt vẫn không ngừng dõi theo dăm ba cái đốm lửa theo chiều gió mạnh bốc bay vằn vèo về phía dưới kia, mất hút trong bóng tối. “Thấp xuống, thấp xuống tí nữa”, Bác nhắc người cầm đuốc. Lúc bấy giờ tôi quay nhìn lên gương mặt Bác; trong ánh đuốc rực hồng, hình ảnh vị lãnh tụ của cả dân tộc hiện ra rạng rỡ trong một vẻ đẹp xiết bao giản dị, xiết bao hồn hậu, thân thiết và gần gũi xiết bao!

Ấy là vào một ngày trong cái Tết đầu tiên sau tiếp quản thủ đô. Người vừa kỹ lưỡng lấy chân di di dập mấy tàn lửa để khỏi ảnh hưởng, dù là tí chút, đến đời sống yên lành của một xóm nhỏ, cũng chính là Người, 9 năm ròng, đã nhen nhúm, xốc dậy chí khí quật cường của triệu triệu đồng bào thành ngọn lửa lớn thiêng liêng, chọi lại một công cuộc xâm lược vào cỡ quy mô nhất thời bấy giờ, và đã dùng tài trí của mình đánh tan xâm lược trong một trận lừng lẫy có tên gọi “Điện Biên”, cách đấy chỉ vừa mấy tháng.

Sáng hôm đó, xe Bác rời khỏi Phủ Chủ tịch từ 5 giờ trong sương mù lạnh, và tận 8, 9 giờ tối Bác mới về lại thủ đô, giữa lúc phố xá tưng bừng dưới những chùm đèn điện, đèn lồng lung linh màu sắc, trong cái reo vui thắm đỏ của một rừng cờ.

Khi Bác lên nói chuyện với đơn vị bộ đội thì trời đã chạng vạng. Ai nấy đều lo Bác mệt. Nên đều thấy tim mình rộn ràng sung sướng khi nghe giọng Bác cất lên vẫn ấm và sang sảng. Gió chiều se lạnh, khu đồi hoang phùn phụt gió, Bác – một cụ già 65, khuôn mặt gầy còn in nét kham khổ rừng kháng chiến – Bác lại vừa đi suốt cả một ngày, có lúc xe phóng rất nhanh, đến bao nhiêu nơi, gặp bao nhiêu người, ghé thăm cả một số nhà dân. Giờ đây, cách gần trọn 15 năm, trí tôi vẫn còn ghi nhớ trọn vẹn âm vang tiếng Bác lúc bấy giờ, giọng Bác thật là khỏe, cái khỏe thể chất chắc không nhiều, nhưng chính nhờ cái rắn chắc, cái sảng khoái tinh thần làm cốt lõi. Những lời khuyên dặn của Bác tỏa bay trong gió lộng có cảm giác không phải Bác chỉ đang nói cho một nhóm nhỏ người nghe, mà khắp 4 phương cả nước cũng đang lắng từng câu từng chữ ân cần của Bác.

Phải chăng do tình cờ, đồng chí chỉ huy đơn vị lại là một chiến sĩ đã từng hoạt động hồi bí mật ở vùng Cao Bằng. Bác cháu gặp lại nhau trước đó trong một nhà dân dùng làm chỉ huy sở. Bác liền nhận ra ngay. Thế là Bác cháu cùng ôn lại những ngày “hàn vi” cũ. Giọng vui vui, Bác kể, lúc ấy ăn toàn ngô với bí, muối rất hiếm, ăn nhạt lại càng khó ăn. Cho nên phải thay đổi: sáng ăn bí với măng, chiều thì măng với bí (Bác cười). Mình ăn đã nhiều, thấy bọn trẻ nó ăn mà mình phát sợ!

Thay-co-giao-va-cac-em-hoc-sinh-truong-Trung--hoc-GTVT-Thuy---Bo-vui-mung-chao-don-Chu-tich-Ho-Chi-Minh-den-tham-truong
Thầy cô giáo và các em học sinh trường Trung học GTVT Thủy – Bộ
vui mừng chào đón Chủ tịch Hồ Chí Minh 
đến thăm trường – Ảnh: tiin.vn

Nói về đồng bào địa phương, giọng vui của Bác chen tí xúc động, cái xúc động khiến giọng nói không phải là trầm xuống mà tròn gọn và ấm hơn, âm vang hơn. Nhân dân tốt, tốt lắm, Bác bảo. Làng chỉ có một cổng ra, một cổng vào, đêm đêm Tây nó rắc tro để xem có dấu chân mình không. Tối mình vào hoạt động, gần sáng phụ nữ trong làng kéo ra đi đi lại lại xóa hết dấu chân, thế là thằng Tây chịu… Hồi đó, mình in báo bí mật mà thiếu giấy. Mua thì không có tiền. Phụ nữ liền chia nhau mỗi người đi mua năm ba tờ, mua nhiều nó nghi, đem về ủng hộ. Báo bán lấy tiền, nhân dân mua, đọc đến thuộc lòng. Lúc nào mình cũng chuẩn bị ba bốn hòn đá in, lấy những bia mộ người ta vứt bỏ đem về mài rồi cất cách xa nhau, chỗ này một viên, chỗ kia một viên. Có động là mang giấy mực sang chỗ khác in, tờ báo không bao giờ bị gián đoạn…

Cuộc đời hoạt động của Bác phong phú, sôi nổi, dồn dập, khó mà tưởng tượng nổi, trong khối óc đầy rộn những suy nghĩ lo lắng có tầm cỡ đất nước và thế giới, liên quan đến vận mệnh hàng triệu con người, còn có chỗ dù là nho nhỏ cho những kỷ niệm thời niên thiếu. Nhưng hồi trưa, lúc ghé nghỉ trên một đồi thông để ăn cơm, những người đi theo Bác lại có cái ngạc nhiên thích thú được nghe Bác tả lại trò chơi vật cù rất khỏe của đất Nghệ An – nhân chiếc đu tiên thoáng thấy dọc đường – rồi Bác lại kể một vài chuyện ra câu đối oái ăm của những ông đồ Nghệ. Quang cảnh lúc bấy giờ đẹp và nên thơ hết sức. Bên sườn đồi, dưới một cây thông cổ thụ tán xòe xanh rờn, một ông cụ già râu tóc bạc ngồi xếp bằng tròn trên chiếu hào hứng nói chuyện văn thơ với ba bốn người cùng đi, tựa như với đàn con cháu, quanh mâm cỗ Tết thanh đạm – không, không có mâm, chỉ có miếng vải nhựa lót, và cỗ Tết của vị Chủ tịch nước cũng chỉ gồm đĩa bánh chưng, khoanh giò lụa và một đĩa dưa hành. Gương mặt Bác lúc đó càng rám hồng lên, không rõ vì say câu chuyện, vì cuộc đi bộ lên đồi, hay do làn gió xuân mát lạnh, hay đó chính là phản quang màu những lá cờ san sát suốt dọc đường mừng đón Tết hòa bình? Ăn xong, Bác nằm nghỉ một lát dưới bóng thông. Tay gác trán, Bác nằm lặng im, chỉ còn thấy chòm râu gió mơn phơ phất. Bầu trời thoáng đãng, không quang hẳn nhưng cũng không vẳn mây mờ. Gió cũng đã lắng lại, chú ý lắm mới nghe được tiếng rì rào thầm thì của những gốc thông. Phía dưới kia, những chân mạ, những đồng lúa trải màu xanh lặng lẽ. Không ai bảo ai, những người quanh Bác cũng lặng im, hết sức nhẹ bước khi cần đi lại, sợ làm xao động sự nghỉ ngơi hay sự suy nghĩ của Bác.

Nhớ lại một thời kỳ công tác vùng phụ cận Vinh – Bến Thủy, tôi trú tại nhà một ông cụ khoảng ngoài 60, thỉnh thoảng cụ bế đứa cháu ngoại, ru nó bằng một bài lục bát với giọng nửa ngâm nửa hát nghe lạ tai:

Hỡi ai cực khổ trên đời
Hỡi ai nô lệ đồng thời đứng lên…

Đôi khi tôi hỏi chuyện về thời thanh niên hoạt động của cụ – tôi biết cụ là một chiến sĩ Xô viết Nghệ Tĩnh, đã từng bị tù. Hứng khởi, cụ kể lộn xộn một số chuyện, nhớ đâu kể đấy. Những đoàn biểu tình rùng rùng kéo đi, băng đỏ, chữ phấn trắng… Những cuộc đấu tranh trong tù… Những cuộc kỷ niệm ngày Quốc tế lao động trong nhà lao, những buổi huấn luyện, nói chuyện về Lê Lợi, Hai Bà Trưng, “Răng Đác” (sau tôi đoán ra là bà Jeanne d’Arc)… Chuyện vận động lính lê dương, họ giác ngộ, giúp rải truyền đơn, lại đem cho anh em nào cà phê, thuốc lá, thịt, bánh mì to bằng bắp vả… Chuyện anh em tù chính trị ngồi hai hàng sạp đồng thanh hát bài Quốc tế ca, nó càng khủng bố càng gào lên thật to, bất chấp!

Cuộc đời nay đã biến ra
Xưa kia con đỏ nay đà chủ ông
Trận này là trận cuối cùng
Ầm ầm đoàn lực đùng đùng đảng cơ…

Khi tôi mách cho cụ rõ, người dịch bài Quốc tế ca sang thành những câu thơ lục bát Việt Nam ấy chính là Hồ Chủ tịch, thì ông cụ tỏ vẻ vui thích lắm, ngồi lặng đi một lát như trước một điều khám phá mới mẻ. Từ đó mỗi lần nằm võng ru đứa cháu, vỗ vỗ vào lưng nó, thấy cụ càng cao giọng ngâm ngợi, giọng vô cùng sảng khoái:

Ầm ầm đoàn lực, đùng đùng đảng cơ…
Anhtécnaxiônalơ
Ấy là nhân đạo, ấy là tự do

Ngâm hay là hát, ông không biết và chắc cũng không cần phân biệt. Ông đang sống lại một giai đoạn, không phải chỉ của đời mình, mà của cả lịch sử dân tộc. Người chủ biên trang sử đẹp ấy lại cũng chính là người đã ngồi hí húi chuyển lời ca đấu tranh quốc tế nổi tiếng thành những vần lục bát thân quen.

Anh con trai út ông cụ không quên ghi lại bài hát của cha làm kỷ niệm. Rồi đến lượt anh lên đường. Anh sắp phải vượt một chặng Trường Sơn. Theo kinh nghiệm những người đi trước, anh biết chặng đường sẽ hết sức gian khổ, lúc đó một ống thuốc đánh răng dự trữ, một cái bìa cứng sổ tay cũng phải vứt bớt cho đỡ cháy vai. Anh chuẩn bị một cuốn sổ mỏng, kiếm chiếc ảnh Hồ Chủ tịch cắt ở báo dán vào, nắn nót chép lại mấy câu thơ Bác khuyên dặn thanh niên “Không có việc gì khó…”, và thế là đủ, đủ lắm, anh khoác ba-lô ra đi, nhẹ nhõm và hăm hở.

Đầu năm 1950, tôi đi theo bộ đội vào một vùng vừa giải phóng ở Thừa Thiên. Chúng tôi ghé lại một xóm ăn Tết. Chị chủ nhà tôi ở tiếp đãi niềm nở. Anh em cho biết chị là một cơ sở tốt, đã cung cấp cho bộ đội nhiều tin quý giúp cho cuộc đánh đồn thành công. Tuy nhiên, thấy nét mặt chị đôi khi thoáng buồn, chị lại mang khăn tang trắng. Hỏi ra thì chồng chị vốn làm tề, bị trúng đạn chết hôm ta tấn công đồn, ngay từ phút đầu, không rõ do đạn của ta hay vì thằng địch nghi anh làm nội ứng nên hạ sát để trả thù. Đêm giao thừa, chị ra sân đứng hồi lâu giữa trời, khấn vái. Về sau, chị nói với tôi: “Tôi cầu cho Cụ mình mạnh khỏe sống lâu, để Cụ dìu dắt nhân dân mình mau tới Độc lập”.

Vậy đó, trên đời sống và trong tâm khảm mỗi chúng ta, ánh sáng Bác Hồ lặng lẽ tỏa chiếu, mỗi người theo một góc độ khác nhau, nhưng đều chan hòa, thấm đượm.

Nghĩ rộng ra, tôi thấy: người làm văn nghệ may mắn bao nhiêu được sống trong thời đại Hồ Chí Minh! Thực tế đời sống, cái chất liệu để người nghệ sĩ nhào nặn làm nên tác phẩm. Cái thực tế đời sống của dân tộc kể từ ngày có Bác Hồ, tự nó đã chứa đựng bao nhiêu vẻ đẹp quý, bộc lộ hoặc tiềm tàng, mà Bác là người nghệ sĩ lớn tiên phong đã ý niệm, ước mơ, khơi gợi, đắp vun, thể hiện. Nhìn khắp chung quanh, nhìn vào khuôn mặt mỗi người, có thể thấy mỗi việc to nhỏ xa gần, mỗi cuộc đời bất cứ ai đều có thấm nhuần niềm ưu ái của Bác, sự suy nghĩ, chăm lo, sáng tạo của Bác. Trong nụ cười em bé, trong giọng hát véo von khuya đêm của cô gái làm đường, trong tiếng rình rịch rền vang của máy xúc, máy ủi, máy trộn bê-tông xây thêm nhà mới, trong tin vui đột ngột đến choáng ngợp người về cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân, trong niềm tin của người làm văn nghệ: biết mình đang ở đâu, đi tới đâu, đang chiến đấu cho một cái gì, và biết rằng cái gì mình viết, bản thân nó đẹp vì nó góp cho cái đẹp, trong tất cả, tất cả mọi biến đổi, dựng xây trên đất nước và trong tâm hồn con người, đều có thể gặp ánh mắt tươi cười và nhân hậu của Bác Hồ bao trùm tỏa chiếu; tất cả đều như những hình thêu đẹp đẽ trên nền một bức thêu lớn mang hình ảnh Bác Hồ; tất cả tựa như đều đã có nét phác ngay từ cái ngày xa xôi một anh Ba ra đi đặt chân lên tàu làm phụ bếp, kéo lê những chảo nặng, đêm đêm ngồi dưới hầm tàu đọc đọc viết viết. Điều ấy trong mỗi chúng ta đã thành một sự thực cụ thể gắn bó đến nỗi, khi đọc cuốn sách của Trần Dân Tiên, đến chỗ anh Ba suýt chết đuối vì một ngọn sóng lớn quật qua tàu, bất giác thấy nhói một cái trong tim, một xúc động hồi hộp gần như nỗi sợ hồi cố sau một tai biến đe dọa trực tiếp sinh mệnh, vận mệnh của chính mình.

Giờ đây Bác nằm yên nghỉ.

Tôi hồi tưởng lại những giờ phút hiếm quý được gặp Bác, được trông thấy Bác. Cả một ngày mồng 1 Tết đi theo Bác cùng với vài ba phóng viên nữa, như đã kể ở trên. Trước đó nữa, một buổi sáng Bác về thăm bà con nông dân Đại Từ (Thái Nguyên). Bác bước đi trong ruộng giữa những cụm rơm rạ, lúc bấy giờ bà con đang gặt lúa “sớm mừng”. Những lần Bác đi qua cơ quan báo Đảng ở An toàn khu, đứng nhìn quang cảnh một chút, rồi vén quần lội qua suối, chân Bác trắng và gầy, một chiếc khăn mặt vắt vai.

Rồi lần Bác đến Đại hội văn nghệ – lời Bác, khuyến khích thúc giục: “Quần chúng đang chờ đợi những tác phẩm văn nghệ xứng đáng với thời đại vẻ vang của chúng ta…”. Và nhất là những lần Bác đến với các anh hùng chiến sĩ trong những kỳ Đại hội, ôi những lúc đó sao mà Bác vui, Bác rạng rỡ!

Rồi trí nhớ lại tìm thêm nữa. Những đoạn phim về Bác. Trong các hình ảnh được thấy qua màn ảnh đó, đọng lại nhất đối với tôi là hình ảnh Bác ở Pháp, hồi năm 1946. Phim do một Việt kiều không chuyên nghiệp quay, ánh sáng thiếu, ảnh mờ hoặc rung rinh, thế mà cách đã 23 năm, gần trọn 1/4 thế kỷ, tôi vẫn còn ghi rõ cảnh Bác hai tay đút túi quần, đầu hơi cúi suy nghĩ, sải bước rất nhanh trên bãi biển Bi-a-rít như để đuổi kịp ý nghĩ của mình, những đồng chí đi cùng gần như phải chạy mới theo kịp.

Trong niềm tiếc thương thành kính, tôi lần giở những đoạn ghi lời Bác khuyên dặn các tầng lớp công nông và bộ đội, cái lần ngày Tết làm phóng viên tôi đi theo Bác. Những điều Bác nói, sao mà vui, sao mà rõ ràng, đơn giản! Và sao mà thấm thía! Đến nỗi ngay đến bây giờ, có những điều nghiền ngẫm lại, cảm thấy như Bác nói không phải chỉ cho một nhóm nhỏ, mà cho tất thảy đồng bào, Bác nghĩ không phải chỉ về lúc đó, mà cả tới bao chuyện lâu dài mãi mãi về sau…

Chúng ta không thần thánh hóa lúc sinh thời, Bác kỵ điều đó hơn ai hết, như một cái gì hoàn toàn xa lạ với cách mạng. Nhưng rõ ràng là qua cuộc đời trọn vẹn, sáng như gương, không một chút bợn của Bác, chúng ta có quyền tự hào có vị lãnh tụ anh minh, đã cống hiến tất cả tâm hồn và cuộc sống của mình cho hạnh phúc nhân dân và nhân loại.

Bác thường viết và nói rất giản dị. Theo chỗ tôi biết, Bác ít viết những bài lý thuyết thuần túy. Bác thích khuyên dặn những điều cụ thể, thiết thực. Chúng ta mong một ngày kia sẽ được học hỏi sâu thêm, qua sự phân tích nghiên cứu những tư tưởng lý luận chủ đạo của Bác, mà cái sâu sắc sáng tạo đã được chứng tỏ qua bao thắng lợi nhân dân ta đã giành được dưới ngọn cờ của Hồ Chủ tịch và Đảng tiền phong.

Ngay cả những điều giản dị Bác nói, dễ thường cũng không phải một lúc mà ta hiểu hết. Có lẽ rằng, tiếp tục làm theo những lời Bác khuyên dặn, cố gắng thêm, phát huy thêm, dần dần ta càng nhuần thấm thêm ý Bác, lòng Bác, những điều suy tính xa rộng của Bác, nó bao trùm không phải chỉ một đời ta mà bao thế hệ mai sau.

Lúc bấy giờ, chúng ta, con cháu chúng ta, càng phát huy thêm mình, càng thấy thêm cái lớn lao của Bác. Lúc bấy giờ ở mỗi việc, mỗi hành động, mỗi thành công, mỗi thắng lợi mới, chúng ta sẽ luôn luôn thấy Bác, gặp Bác, sự gặp gỡ trong vô cùng và trong vĩnh cửu.

9-1969

Nhà văn Bùi Hiển
(Từ sách Bác Hồ với Văn nghệ sĩ – NXB Văn hóa – Văn nghệ – 2013)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 448