Tản văn

Gặp gỡ tháng ba

Bà già lưng còng gập dưới cây gậy tre, luống cuống nép vô ven đường, đứng im nhìn chiếc xe 4 chỗ của chúng tôi chầm chậm chạy qua làng. Tháng 3 đỏ rực những bông hoa gạo ngay thung lũng đầu núi, như những đốm lửa giữa trời. Cái đầu bạc phơ ngẩng lên, nụ cười thân thiện và chiếc răng vàng làm tôi nhận ra cô Tuyết người làng.

- Cô Tuyết! Cô đi đâu con chở đi luôn?

Cô nheo mắt một phút rồi cũng nhận ra tôi.

- Ôi giời ơi! Thằng Hùng! Mới về à cháu? Giờ chúng mày toàn đi xe du lịch, cô không nhận ra.

Tôi nói với cô là đưa mấy người bạn về thăm Đền Hùng, sắp vào Hội rồi. Sau đó sẽ đi thăm chú Sáu Ấm, chú Út Đào, chú Tưởng, mấy ông già quê Quảng Nam. Cô Tuyết cũng là dâu xứ Quảng, nhưng ở giá nuôi con cả nửa thế kỷ nay. Cô khua gậy chỉ vòng quanh, cười buồn:

- Chết hết rồi! Còn có cô với lão Út Đào!

*

Tháng 7/1975 ở Huế trời nóng rừng rực, như thể dư âm đạn lửa hồi tháng 3 để lại. Đơn vị An ninh vũ trang của chúng tôi vừa rời khỏi ngôi biệt thự trống hoác của ông Ngô Đình Nhu bên đường Nguyễn Huệ, thoát cảnh nằm đất. Địa điểm đóng quân mới là khu cư xá của Mỹ bên số 2 Trần Cao Vân, bên bờ nam sông Hương. Cánh lính chúng tôi lật sấp những chiếc tủ tài liệu bằng sắt đã rỗng, biến thành chiếc giường nằm cao ráo, sạch sẽ. Huế giải phóng ngày 26/3. Miền Nam giải phóng hoàn toàn ngày 30/4. Tháng 7 đã có những chuyến xe xuyên Việt từ Bắc chạy vô, chở những người con miền Nam tập kết ra Bắc nay tìm về quê hương xứ sở. May mắn buổi chiều chủ nhật tôi nhìn thấy một chiếc xe ca (xe khách) biển số Vĩnh Phú đậu trước khu cư xá, một cô bé thò đầu ra cửa xe gọi: “Anh Hùng! Ơ kìa anh Hùng!”. Tôi đã đón được chiếc xe vào đậu trong sân nghỉ qua đêm. Cô bé kia tên là Võ Thị Mai 14 tuổi, con gái chú Võ Anh Trang, bộ đội Quảng Nam tập kết đã lấy vợ làng tôi. Trên xe còn có 3 người lớn là chú Sáu Ấm, chú Út Đào và cô Tuyết.

Tieu-doi-An-ninh-vu-trang-sau-giai-phong-Hue
Tiểu đội An ninh vũ trang sau giải phóng Huế.

- Nghe miền Nam giải phóng, tụi tau khóc vì mừng. Giờ Ủy ban tỉnh bố trí cho xe ca chở về quê tìm gia đình, tau với thằng Út đây đi trước thử về coi còn ai không?

Chú Sáu Ấm cười nói rổn rảng. Chú Út Đào lỉnh kỉnh chiếc ba lô cóc đã cũ, căng phồng. Chú là người duy nhất thư từ liên lạc được với gia đình sau ngày 24/3, nên chuyến hồi hương này chú Út xin giấy Ủy ban xã cho mang theo 3 kí trà Bắc mang về làm quà. Cô Tuyết mới ngoài 40, trẻ trung, duyên dáng với chiếc răng vàng nơi khóe miệng. Quê chồng cô ở thị xã Tam Kỳ, chú Trang tập kết ra Bắc lấy vợ, có được bé Mai rồi năm 1965 lại đi B tiếp, bằn bặt 10 năm đến nay chưa có tin tức gì. Mẹ con cô Tuyết cứ theo địa chỉ ghi trong hồ sơ cũ, liều vô Nam tìm chồng. Chú Sáu Ấm nói, ngày trước đi cách mạng từ quê nội ở thôn An Tân, xã Hòa Phong (Hòa Vang), nhưng ngặt má đã đi lấy chồng khác, nên chỉ hy vọng tìm lại người anh trai làm nông dân và người em gái lúc chia tay mới 10 tuổi đầu. Đêm thành Huế nóng nực, tôi và mấy cậu đồng hương đưa các cô chú ra bờ sông Hương dạo mát, sang bên kia cầu Tràng Tiền thăm chợ Đông Ba. Khuya về, chúng tôi nằm đất, nhường mấy chiếc giường bằng tủ sắt cho khách. Những chiếc máy điều hòa nhiệt độ của quân Mỹ để lại, chạy suốt ngày suốt đêm, làm dịu đi sự nóng nực mùa hè Huế. Những người hàng xóm của tôi, tuy rất vui khi được thăm Huế, nhưng trong mắt mỗi người vẫn hiện lên những lo lắng, nôn nao khi chưa về đến quê hương Quảng Nam sau hơn 30 năm xa cách. Chiến tranh, bom đạn, ai còn, ai mất, ngôi nhà cũ liệu có còn nép dưới tán vườn xưa. Ngày mai, xe sẽ đưa họ vượt đèo Hải Vân, tập kết ở Đà Nẵng, rồi tự tìm phương tiện về quê, sau 4 ngày quay lại điểm cũ, xe lại đưa về Bắc. Tôi cũng như họ, rất là hồi hộp. Phải không bận công tác, tôi sẽ theo các cô chú vô Quảng để chứng kiến cuộc đoàn viên của mọi người sẽ như thế nào.

Bốn ngày sau chuyến xe quay ra nhưng không dừng lại ở Huế mà chạy ra ngoài Đông Hà. Tôi không gặp được những người hàng xóm, nhưng năm 1976, trong dịp về nghỉ phép, tôi có gặp lại mọi người ngoài Bắc. Theo lời kể lại của cô Tuyết, chuyến xe khứ hồi hôm ấy chỉ có mẹ con cô và chú Sáu Ấm. Họ buồn vì không gặp được người thân. Chú Út Đào may mắn hơn tìm được người anh và mấy đứa cháu, nên họ giữ lại chơi tới tháng 9 năm ấy mới ra Bắc. Chú Sáu về tới Đà Nẵng, thuê xe ôm chạy thẳng tới xã Hòa Phong. Thôn An Tân vẫn còn đó, nhưng căn nhà cũ năm xưa đã mất. Người anh đã bán nhà đi nơi khác từ năm Mậu Thân, cô em gái lấy chồng xứ nào không ai hay. Chú cũng không thể tìm lại nghĩa trang có mộ ba mình, vì mấy chục năm có bao nhiêu thay đổi. Quảng Nam lại là nơi chiến trường ác liệt, bom pháo cày lên vùi xuống biết bao nhiêu lần. Mẹ con cô Tuyết cũng không may mắn gì hơn. Gia đình nhà chồng cũng tan tác hết, còn lại bà dì ruột. Bà cho hay chú Trang hi sinh năm 1965 ngay sau khi trở về chiến trường Quảng – Đà được 2 tháng. Bà già chồng bệnh mất năm 1972, người em trai chồng bỏ vô Sài Gòn trốn quân dịch bao nhiêu năm giờ chưa có tin tức. Nhà còn lại chiếc xe đạp nữ hiệu ATOM màu tím còn khá tốt, bà dì cho em Mai mang ra Bắc lấy phương tiện đi học. Chiếc xe đạp đó trở thành tài sản có giá nhất của hai mẹ con, vì miền Bắc hồi đó rất thiếu thốn.

Tháng 3 năm nay (2017), cuộc hội ngộ với những người hàng xóm đã từng ghé đơn vị tôi 42 năm trước, không còn được vui vẻ như ngày trước. Bốn chú cán bộ người Quảng Nam đã về với tổ tiên vì già yếu. Em Mai ngày nào giờ đã là bà nội, tóc đốm muối tiêu. Cô Tuyết xinh đẹp ngày xưa giờ là bà cụ lưng còng, tay cầm gậy dò từng bước. Chỉ có chú Út Đào dù 90 tuổi nhưng vẫn còn khỏe, có thể tiếp tôi được vài ly rượu trắng. Chú ngồi bên mâm cơm, vỗ hoài lên vai cô Tuyết.

- Bà nhớ không! Bữa đó nó nhét mình vô cái phòng vừa nhỏ vừa thấp, kín mít. Tui bảo ngủ thế nào được, nóng chết. Thế mà nửa đêm lạnh quá, phải dậy mượn mền mấy em bộ đội.

Tôi cười, giải thích đó là do cái máy lạnh gắn trong phòng. Hồi đó chúng tôi cũng lần đầu biết đến máy điều hòa nhiệt độ, huống chi mấy chú ở nông thôn vô thành phố. Chú Út Đào “cạch” với tôi ly rượu nữa, rổn rảng:

- Nhưng mà thằng cháu mầy biết không? Quảng Nam tau giỏi chớ. Còn giải phóng trước Huế hai ngày lận.

Điều đó thì ai cũng biết, nhưng những người con xa quê thì cảm nhận được sâu sắc hơn niềm tự hào về truyền thống cách mạng quê nhà. Chú Út còn hăng hái bàn với mấy người con của những người bạn đồng hương. Dịp 30/4 năm nay, cả hội tổ chức về thăm Quảng Nam. “Cần gì phải còn người nhà. Mình cứ vô chơi ít bữa, thăm thú lại quê hương, chỗ ăn nghỉ tui bảo mấy đứa cháu trong đó lo. Đi nhá?”.

Tôi cầu mong cho chuyến hồi hương lần này của những người hàng xóm được bình an vui vẻ. Quê hương Quảng Nam chắc cũng đang chờ đón họ trở về.

Tháng 3/2017

Phùng Phương Quý
(Huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 441

Ý Kiến bạn đọc