Tản văn

Gánh rễ trầu

Mẹ tôi người dân tộc Mường (Hòa Bình). Dù theo ông bà ngoại vào Nam hơn 60 năm, nhưng vẫn nhớ chuyện “miếng trầu là đầu câu chuyện” của quê nhà. Bác gái tôi vào thăm mẹ, xin miếng rễ mang để ăn trầu. Ba tôi bảo: “Giờ hiếm lắm chị ạ! Với lại người ta đã ít ăn trầu”. Bác gái phàn nàn, ăn trầu mà không có miếng rễ nó lạt lẽo quá.

Ba mươi bảy năm trước, ba là người từng xách rựa vào rừng kiếm rễ trầu về bán nuôi chị em tôi. Những năm đó, người dân huyện Phù Cát quê tôi đã nhờ vào cây rễ để có tiền mua mắm, mua gạo. Cứ 5 ngày một phiên, người ta mang rễ đã được đánh nài đẹp mắt ra chợ bày bán. Vừa bán lẻ, vừa bán sỉ cho mấy bà buôn mua đem về miền biển bán lại. Chợ phiên đông đúc, kẻ bán người mua. Đặc biệt những ngày lễ hội hay rằm, mùng 1 hàng tháng, rễ có bao nhiêu cũng bán hết, chợ vui rôm rả, ai cũng phấn khởi trong lòng. Cũng có ngày mưa gió, thưa người mua, ế ẩm não nề buồn thiu góc chợ. Ba tôi nói nghề lấy rễ mang cũng có lúc thăng trầm. Thôi phải chấp nhận. Thường người đi rừng lấy rễ về bán cho người buôn sỉ, người mua sỉ bỏ mối cho người ngồi bán lẻ. Hồi đó mấy người dưới biển lên mua rễ trở thành bạn thân thiết, lâu ngày quen mặt quen tên. Ba tôi đi khám bệnh ở tuyến huyện, gặp lại họ mừng lắm, hỏi thăm hết chuyện này tới chuyện kia.

Để có những gánh rễ đưa ra chợ, phải biết đến công phu vất vả cả một ngày đi rừng và cả đêm ngồi đánh nài sao cho đẹp, cho gọn gàng. Dụng cụ đi nghề chỉ cần một chiếc rựa thật bén. Thợ rèn rựa chặt rễ phải rèn sao cho nhỏ gọn vừa tầm, cán rựa không dài, không ngắn. Vì dài quá thì vướng víu, khó khăn cho việc luồn rừng. Còn cán ngắn quá, hụt tầm chặt không mạnh, dễ mỏi tay. Rừng quê tôi có mật độ dày. Hỗn sinh nhiều loài cây đa dạng, phong phú. Cây to nhỏ, dây dợ nhằng nhịt, nên khi đi rừng ai cũng mang theo rựa để dọn đường. Cây rễ mang là loại cây bụi nhỏ, vỏ có vị chát hơi đắng, khi cho vào miệng nhai thì dẻo dẻo thơm thơm, quyện với trầu, cau và ít vôi nồng thì miếng trầu thơm ngon hẳn lên, vô cùng thú vị. Thường khi ba đi rừng chặt rễ mang, mẹ tôi dậy từ sáng sớm để nấu cơm cho ba dỡ theo ăn trưa. Cơm nấu dỡ theo phải đổ nhiều nước hơn cơm nấu ăn ở nhà, để khi vắt hạt cơm dẻo và mịn. Khi cơm chín, dỡ vào khăn rồi vắt lại, sau đó gói vào lá chuối đã hơ qua lửa. Thức ăn cũng chỉ muối đậu phộng, muối mè. Thường 5 giờ sáng người ta đã có mặt ở bìa rừng, bắt đầu tìm bụi rễ mang.

Rễ ở quê tôi trước kia nhiều lắm. Nghe cô tôi kể, những năm trước cách mạng 1945, người dân muốn vô rừng chặt rễ phải đến nhà địa chủ Trần Tế để xin phép, vì ở đâu cũng là rừng của ổng nên muốn chặt rễ phải đóng thuế rừng. Chưa kể bắt được con hươu, con nai là bị phạt nặng. Trong rừng ớn nhất là rắn rít. Đặc biệt rắn lục mây nhiều vô kể. Rắn nằm vắt vẻo trên nhánh lá nên khó phát hiện ra. Bọn rắn lục ban ngày không thấy đường, cứ lừ đừ nằm im, chỉ khi người ta trảy nhánh rễ, đụng tới rắn thì nó mới lồm ngồm chậm chạp bò đi. Cũng có một vài con không may bị rựa chém phải, đứt làm hai phần. Nửa đầu bò đi, phần đuôi thì giãy giụa một chặp rồi ngay dần. Có lần, chị hàng xóm nhà tôi sơ ý mà bị rắn lục cắn vô chân. Ba tôi trước kia từng là bộ đội ở rừng nên có kinh nghiệm, đã xé áo ga-rô phía trên, sơ cứu hút nọc độc rồi đưa vô bệnh viện. May mà cứu được.

Trong rừng thường nhanh tối, nên mọi người đều ra khỏi rừng trước lúc 5 giờ chiều. Tranh thủ về nhà sớm để còn giúng rễ ngày mai kịp chợ. Đêm đó nhà nhà giúng rễ, những ngọn đèn dầu leo lét và đôi bàn tay khéo léo của các mẹ các chị đã chắt chiu từng nài rễ gọn gàng sạch đẹp. Trước đó người ta đốt lửa thui rễ, tức là hơ thân rễ qua đống lửa to, vừa cho dễ lột vỏ, vừa làm dậy mùi thơm đặc trưng của rễ. Hồi nhỏ tôi cũng từng tham gia việc này, nhìn mọi người vừa lột vỏ vừa quệt mồ hôi trên mặt, nên ai nấy đều lem luốc, nhìn tức cười.

Tục ăn trầu ngày nay vẫn còn nhưng ít, chủ yếu là mấy bà già. Hình ảnh những cụ già đu đưa bên cánh võng, hay ngồi ngoài hiên với hũ vôi cơi trầu dần dần trở thành dĩ vãng. Trầu cau và miếng rễ nhỏ giờ phần lớn tồn tại trên bàn thờ, ngày lễ hội… có nhà cúng rồi thì đem vứt. Bây giờ người ta phá rừng hoang, trồng keo lá tràm, bạch đàn… muốn đi chặt rễ phải lủi tuốt vô trong rừng sâu. Tôi đi thành phố học đại học, quen dần với nhịp sống thị thành. Vậy nhưng, trong kí ức vẫn còn hằn sâu hình ảnh gánh rễ ba tôi mang về lúc chiều muộn. Hình ảnh mẹ tôi một mình ngồi giúng rễ thâu đêm. Mẹ đi chợ bán rễ, sau khi lo xong gạo, mắm sẽ nhín lại ít tiền mua cho mấy chị em mớ bánh đúc, kẹo cà. Những gánh rễ trầu của ba của mẹ đã nuôi chị em tôi khôn lớn thành người. Thương gánh rễ quê mình lắm ai ơi!

Nguyễn Lan Quy
(H. Bình Chánh, TP.HCM)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 474

Ý Kiến bạn đọc