Văn học nước ngoài

Esarhaddon vua của Assyria

Esarhaddon (hay Assur-akhi-iddina) được nhắc tới 3 lần trong Kinh Thánh và cũng được ám chỉ trong hai biên niên sử với vai trò là “Vua của vương quốc Assyria, người xích vua Manasseh, trói ông lại bằng gông cùm và mang tới Babylon”. Con trai ông Assur-bani-pal, người được ông truyền lại quyền lực trước khi chết được nhắc tới một lần trong Kinh Thánh dưới cái tên Asnapper. Sử sách không nói gì nhiều về vua Lailie, nhưng trong cuốn “Chuyện vua Esarhaddon” của Ernest A. Budge có viết: “Một vị vua tên là Lailie đòi lấy lại các vị thần mà Esarhaddon giành được từ tay mình. Yêu cầu của ông được chấp thuận, và Esarhaddon nói: “Ta nói chuyện với ông ta bằng tình anh em, và giao phó chủ quyền các quận của Bazu cho ông ta”.

Nhà vua xứ Assyria, Esahaddon đã chiếm được vương quốc của vua Lailie, phá hủy và thiêu rụi các thành phố, bắt toàn bộ dân thường làm tù binh đưa về nước mình, tàn sát các chiến binh, chặt đầu một số thủ lĩnh và đóng cọc hoặc lột da một số khác, và giam cầm vua Lailie trong một cái cũi.

Một đêm lúc đang nằm trên giường, vua Esarhaddon nghĩ tới việc mình nên hành hình Lailie như thế nào thì đột nhiên ông nghe có tiếng sột soạt tiến lại gần giường. Ông mở mắt ra thì thấy một ông lão có bộ râu dài đã bạc và đôi mắt hiền từ.

“Ngài muốn hành hình Lailie sao?”, ông lão hỏi.

“Phải”, nhà vua đáp. “Nhưng ta không quyết định được phải làm như thế nào”.

“Nhưng ngài là Lailie mà”, ông lão nói.

“Không đúng”, nhà vua đáp. “Lailie là Lailie, ta là ta”.

“Ngài và Lailie là một”, ông lão nói. “Ngài chỉ tưởng tượng mình không phải là Lailie thôi”.

“Lão nói thế nghĩa là sao?”, nhà vua nói. “Ta đây đang nằm trên một chiếc giường êm ái, quanh ta là những người biết vâng lời, và sáng mai ta sẽ thết tiệc bạn bè như đã làm hôm nay; trong khi Lailie đang ngồi như con chim trong lồng. Sáng mai hắn ta sẽ bị đóng cọc, lưỡi hắn sẽ thè ra lòng thòng vật vã tới khi hắn chết, và thi thể hắn sẽ bị chó xé xác”.

“Ngài không thể giết ông ấy được”, ông lão nói.

“Thế còn 14.000 chiến binh ta đã giết mà thi thể chất đống lên kia?”, nhà vua nói. “Ta còn sống, còn chúng thì không. Điều đó không chứng tỏ là ta có thể phá hủy sự sống sao?”.

“Làm sao ngài biết được là họ không còn tồn tại nữa?”.

“Bởi vì ta không còn thấy chúng nữa. Và quan trọng hơn hết thảy là chúng đã chịu đau đớn, còn ta thì không. Chúng gặp xui, nhưng ta thì may mắn”.

“Điều đó cũng chỉ có vẻ thế đối với ngài thôi. Ngài tra tấn bản thân mình chứ không phải họ”.

“Ta không hiểu”, nhà vua nói.

“Ngài có muốn hiểu không?”.

“Có chứ”.

“Thế thì tới đây”, ông lão nói và chỉ vào một con suối lớn đầy nước.

Nhà vua đứng lên tiến tới gần con suối.

“Cởi đồ ra và lội xuống đi”.

Esarhaddon làm theo lời ông lão.

“Ngay khi ta bắt đầu rót thứ nước này lên người ngài”, ông lão vừa nói vừa đổ đầy nước vào một cái bình, “thì hãy nhúng đầu xuống”.

Ông lão nghiêng cái bình lên đầu nhà vua và nhà vua cúi đầu xuống ngập dưới nước.

Chien-thang-cua-vua-Esarhaddon
Chiến thắng của vua Esarhaddon.

Ngay khi nhà vua Esahaddon đã ở dưới nước rồi, ông cảm thấy rằng mình không còn là Esarhaddon nữa mà là một ai đó khác. Cùng lúc đó ông thấy mình nằm trên một chiếc giường lộng lẫy bên cạnh một người phụ nữ xinh đẹp. Ông chưa nhìn thấy nàng ta bao giờ, nhưng ông biết nàng là vợ mình. Người phụ nữ nhỏm người dậy và nói với ông:

“Hỡi phu quân Lailie! Hôm qua chàng đã làm việc tới mệt lử và ngủ lâu hơn bình thường, em đã canh cho chàng nghỉ và không hề đánh thức chàng. Nhưng giờ các quý tộc đang đợi chàng trong đại điện. Hãy thay đồ và đi gặp họ thôi!”.

Esahaddon nghe những lời này thì hiểu rằng mình là Lailie và ông không hề ngạc nhiên chút nào mà chỉ tự hỏi sao trước kia mình không hề biết chuyện đó. Ông đi thay đồ và vào đại điện nơi các quý tộc chờ mình.

Các quý tộc cúi rạp đầu xuống đất chào nhà vua Lailie rồi đứng dậy và khi ông ra lệnh thì họ ngồi xuống trước mặt. Quý tộc cao tuổi nhất bắt đầu nói rằng không thể để những lời lăng mạ của tên vua Esarhaddon xấu xa kéo dài thêm nữa, và rằng họ phải tuyên chiến với hắn ta thôi. Nhưng Lailie không đồng ý và ra lệnh gửi sứ thần sang phản đối vua Esarhaddon; ngài giải tán các quý tộc. Sau đó ngài bổ nhiệm những người có tiếng tăm làm việc với tư cách là đại sứ và dặn đi dặn lại là họ nên nói gì với vua Esarhaddon. Sau khi đã làm xong, Esarhaddon – lòng cảm thấy mình chính là Lailie – ra ngoài cưỡi ngựa săn lừa hoang. Cuộc săn khá thành công. Ông giết được hai con, và khi về tới nhà, ông thết tiệc cùng bạn bè và xem các nữ nô lệ nhảy múa. Hôm sau ông đi tới tòa nơi có những người thỉnh cầu, các nguyên cáo và phạm nhân đang chờ xét xử đợi mình; và như thường lệ ông lại phân xử các vụ án. Làm xong ông lại cưỡi ngựa đi săn vốn là trò giải trí ưa thích của mình. Lần này ông giết được một con sư tử cái già và bắt được hai con sư tử con. Sau đó ông lại mở tiệc chiêu đãi bạn bè và xem nhảy múa, rồi đêm tới ông ở bên người vợ mình yêu dấu.

Ông sống một cuộc sống được chia ra thành hai phần, gồm bổn phận làm vua và các thú vui trong thời gian chờ các vị sứ thần mình gửi tới vua Esarhaddon người từng là chính ông. Phải một tháng sau các vị sứ thần mới trở lại, mũi và tai họ đều bị cắt sạch.

Vua Esarhaddon đã ra lệnh cho họ kể Lailie nghe việc mình đã phải hứng chịu và điều chính vua Lailie cũng sẽ phải nhận lấy, trừ khi ông ngay lập tức gửi đồ cống nạp gồm vàng, bạc, gỗ bách và thân chinh đến tỏ lòng kính trọng với vua Esarhaddon.

Lailie, mà trước đó là Esarhaddon, lại triệu tập các quý tộc và bàn bạc với họ mình nên làm gì. Tất cả bọn họ đều thống nhất nói rằng phải tuyên chiến với Esarhaddon chứ không chờ hắn ta tấn công trước. Nhà vua đồng ý và dẫn đầu quân đội khởi động chiến dịch. Chiến dịch kéo dài 7 ngày. Ngày nào nhà vua cũng đánh xe quanh toàn quân để khuấy động lòng dũng cảm ở các chiến binh. Vào ngày thứ tám, đội quân của ông gặp quân của Esarhaddon trong một thung lũng rộng lớn có một con sông chảy qua. Quân đội của Lailie chiến đấu rất anh dũng, nhưng Lailie nhìn thấy kẻ thù từ trên núi ùa xuống đông như kiến cỏ, tràn vào thung lũng và áp đảo quân của mình. Ông đánh cỗ xe lao vào giữa trận đánh đốn ngã quân thù. Nhưng nếu coi các chiến binh của Lailie có hàng trăm thì quân của Esarhaddon lại là hàng ngàn; thế là Lailie bị thương và bị bắt làm tù binh. Ông trải qua cuộc hành trình 9 ngày với các tù binh khác, bị trói và bị canh giữ bởi lính của Esarhaddon. Tới ngày thứ mười, ông tới được Nineveh và bị nhốt vào một cái cũi. Lailie không đau khổ vì đói và vết thương của mình nhiều bằng vì nhục nhã và cơn thịnh nộ bất lực. Ông cảm thấy mình thật hoàn toàn không có khả năng tự báo thù cho tất cả những gì ông đang chịu đựng. Điều duy nhất ông có thể làm là lấy đi niềm vui được nhìn thấy mình đau khổ của kẻ thù; và ông kiên quyết sống tiếp một cách dũng cảm mà không hề rên rỉ. Ông ngồi trong cũi suốt 20 ngày chờ đến lúc hành quyết. Ông nhìn thấy hoàng thân quốc thích và bạn bè mình bị đưa đi giết; ông nghe thấy tiếng rên rỉ của những người bị hành hình: vài người bị chặt tay chân, số khác bị lột da, nhưng ông không hề tỏ ra lo lắng, thương xót hay sợ hãi gì hết. Ông nhìn thấy người vợ yêu dấu bị trói và dẫn đi bởi hai tên thái giám da đen. Ông biết nàng sẽ bị đem đi làm nô lệ của Esarhaddon. Ông cũng chịu đựng điều đó không một lời kêu ca. Nhưng một tên lính canh ông nói: “Tôi thương ông quá Lailie. Ông từng là vua, nhưng giờ ông là gì đây?”. Nghe những lời này, Lailie nhớ tới tất cả những gì mình đã mất. Ông nắm chặt song cũi, và vì muốn tự sát nên ông đập đầu vào chúng. Nhưng ông không có đủ sức làm vậy, và thế là ông rên lên tuyệt vọng và ngã xuống nền cũi.

Cuối cùng hai tên đao phủ mở cửa cũi và sau khi đã trói tay ông ra sau thật chặt, chúng dẫn ông tới chỗ hành hình thấm đẫm máu. Lailie nhìn thấy một cái cọc nhọn máu nhỏ giọt tong tong từ thân thể một người bạn của ông vừa mới bị xé xác, và ông hiểu rằng điều đó có nghĩa là cái cọc có thể sẽ dành cho cuộc hành quyết mình. Chúng lột đồ Lailie ra. Chúng giật mình trước vẻ gầy guộc của cái cơ thể từng khỏe mạnh, đẹp đẽ của ông. Hai tên đao phủ chụp lấy phần đùi gầy gò, nhấc ông lên và định thả ông rơi xuống cái cọc.

“Đây là cái chết, là tiêu tan!”, Lailie nghĩ, và quên đi quyết tâm giữ nguyên sự bình tĩnh đến gan góc tới tận cuối cùng, ông khóc nức nở và cầu xin được khoan dung. Nhưng không ai nghe ông hết.

“Không thể như thế được”, ông nghĩ. “Chắc chắn là mình đang ngủ rồi. Đây là một giấc mơ”. Ông cố sức đánh thức mình dậy và quả thực đã thức dậy để thấy mình không phải Esarhaddon cũng không phải Lailie mà là một loài động vật. Ông ngạc nhiên khi thấy mình là một con vật và cũng ngạc nhiên vì trước đó không biết gì hết.

Ông đang đi ăn cỏ trong thung lũng, dùng răng giật mạnh mớ cỏ mềm và quất đuôi xua lũ ruồi. Gần ông có một con lừa nhỏ chân dài, lông xám đen chạy dọc sống lưng. Con vật đá chân sau phi nước đại về phía Esarhaddon và thọc cái mõm nhỏ trơn nhẵn của mình xuống dưới bụng ông tìm vú, rồi khi đã tìm được, nó dịu lại và nuốt đều đều.

Esarhaddon hiểu ra rằng ông là một con lừa cái mẹ của con lừa con, và điều này chẳng làm ông ngạc nhiên hay đau buồn mà lại khiến ông vui vui. Ông nhận thấy một cảm giác hân hoan vui sống cùng lúc vừa là của ông vừa là của đứa con của mình.

Nhưng đột nhiên có gì đó bay lại gần với một tiếng rít và đập vào mạn sườn ông, mũi nhọn của nó thọc vào da thịt ông. Cảm thấy một cơn đau bỏng rát, Esarhaddon – cùng lúc đó cũng là con lừa – giằng vú ra khỏi răng con lừa con và phóng nước đại về đàn nơi ông đã đi lạc. Con lừa nhỏ bắt kịp ông chạy song song bên cạnh. Lúc họ đã gần tới được đàn lúc này cũng bắt đầu chạy rồi, một mũi tên khác vun vún lao tới cắm phập vào cổ con lừa nhỏ. Nó xuyên thủng da cắm vào thịt. Con lừa con rên la thảm thiết và đầu gối khụyu xuống. Esarhaddon không thể bỏ nó lại và cứ thế đứng chắn trước nó. Con lừa nhỏ đứng lên, cặp chân dài mảnh khảnh đi lảo đảo rồi lại ngã xuống. Một sinh vật hai chân đáng sợ chạy tới cắt cổ nó.

“Không thể như thế được, đó vẫn là một giấc mơ!”, Esarhaddon nghĩ và lần cuối cố gắng tỉnh dậy. “Chắc chắn mình không phải Lailie cũng không phải con lừa mà là Esarhaddon!”.

Ông gào lên, và cùng lúc đó nhấc đầu ra khỏi con suối… Ông lão đang đứng bên cạnh đổ những giọt nước lên đầu ông.

“Ôi, điều ta vừa chịu đựng thật khủng khiếp! Mà lâu quá!”, Esarhaddon nói.

“Lâu ư?”, ông lão đáp, “ngài chỉ vừa nhúng đầu xuống nước và ngẩng lên thôi; nhìn này, nước trong cái bình vẫn chưa hết mà. Giờ ngài đã hiểu chưa?”.

Esarhaddon không đáp mà chỉ nhìn ông lão với vẻ kinh hoàng.

“Giờ ngài đã hiểu là”, ông lão nói tiếp, “Lailie chính là ngài, và các chiến binh ngài đã cho xử chết cũng là ngài chưa? Mà không chỉ các chiến binh không thôi đâu, còn có những con vật ngài giết khi đi săn và ăn thịt trong các bữa tiệc cũng là ngài. Ngài nghĩ chỉ mình ngài có sinh mệnh mà thôi nhưng ta đã vén tấm mạng ảo tưởng lên và cho ngài thấy rằng, bằng cách làm điều ác với người khác thì ngài cũng làm vậy với chính mình rồi. Sinh mệnh có ở muôn loài, và sinh mệnh của ngài chỉ là một phần trong sự sống chung này. Chỉ một phần trong sự sống đó là của ngài thôi, ngài có toàn quyền với nó. Ngài chỉ có thể cải thiện cuộc sống của mình bằng cách phá hủy rào chắn chia cách cuộc sống của ngài với của người khác, bằng việc coi họ là chính mình và yêu thương họ. Bằng việc làm vậy ngài tăng phần sống của mình lên. Ngài làm hại sự sống của mình khi nghĩ nó là sự sống duy nhất và cố lấy phần của người khác bỏ vào làm bản thân hùng mạnh hơn. Làm thế chỉ khiến ngài yếu đi mà thôi. Hủy hoại sinh mệnh của người khác nằm ngoài quyền năng của ngài. Sinh mệnh của những người ngài giết đã tan biến nhưng không bị phá hủy. Ngài nghĩ thế là kéo dài sinh mệnh của mình và rút ngắn sinh mệnh của họ, nhưng ngài không làm thế được đâu. Sinh mệnh không phải thời gian lẫn không gian. Sinh mệnh thoáng qua hay sinh mệnh tồn tại cả ngàn năm: sự sống của ngài và của tất cả những sinh vật vô hình lẫn hữu hình trên thế giới đều bình đẳng. Hủy hoại sự sống hay thay đổi nó là không thể bởi sự sống là thứ luôn tồn tại”.

Nói xong ông lão biến mất.

Sáng hôm sau vua Esarhaddon ra lệnh thả tự do cho Lailie và tất cả tù nhân.

Ngày thứ ba ông gọi con trai Assur-babi-pal tới và trao lại vương quốc cho chàng, còn mình đi vào sa mạc để suy nghĩ về tất cả những điều mình đã học được. Sau đó ông đi lang thang khắp các thành phố và làng mạc, thuyết giảng cho người dân rằng mọi sinh mệnh đều là một, và rằng khi người ta muốn làm hại người khác thì chính là họ làm hại chính mình.

(Trong câu chuyện này Tolstoy đã dùng những tên người thật.)

Lev Nikolayevich Tolstoy (Nga)
Trương Thị Mai Hương (dịch)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 434

Ý Kiến bạn đọc