Một góc làng quê

Đường vào thành phố

Trên chiếc vỏ lãi mỏng tang lé đé nước, mạnh ai nấy nhảy xuống, chiếc vỏ lãi lắc lư chao đảo, nước vô ồ ồ: nhảy bớt lên bờ, xúm nhau tát nước bằng thau, bằng lon, bằng chén, bằng bụm lại hai tay, riết đi, riết đi!
Hết kiên nhẫn nổi, mấy tay trên bờ lại nhảy xuống vỏ, cười ha hả – Vừa đi vừa tát mấy cha nội ơi!
Gió sông lồng lộng, từng dề lục bình trôi băng băng từ hướng chợ, qua mặt đủ loại cánh buồm, từ các ngõ ruộng rẫy đồng quê đổ ra hướng Cờ Đỏ, Ô Môn, hướng Vị Thanh, Chương Thiện… Mạnh ai nấy tóe khói, mạnh ai nấy quát cạy(1) đầy nhóc mặt sông.

Trong rừng đước Năm Căn - Nguyễn Kiên Hùng

Trong rừng đước Năm Căn – Nguyễn Kiên Hùng

Tôi không biết lội, nếu phải chết lúc này thì uổng quá, nhưng tôi làm bộ cứng, khuyến khích bá vơ: Còn bao nhiêu anh em nhảy xuống hết đi, không ai kẹt lại trên bờ, ngày vui mà, chết sống cùng hưởng.
- Bà này xúi bậy không hà, chiến đấu cực khổ làm gì để ngày về chợ chết ráo không còn con đỏ?
Mạnh ai nấy “thả ga”, giờ này còn sợ gì họp kiểm điểm những kẻ mừng quýnh mừng quíu nói tào lao cho đã cái miệng.
Người ở dưới sông vui bao nhiêu thì người trên bờ y như hình vẽ trong cuốn Quốc văn giáo khoa thư: Mẹ bồng con, ông dắt cháu, mọi người đưa tay vẫy, khiến có người ngồi trước mũi xướng lên như trả bài:
“Cơm nước xong trời vừa tối, thầy mẹ tôi tiễn tôi ra tận bờ sông chỗ thuyền đậu… Ôi, cái cảnh biệt ly sao mà buồn vậy?”. Sao hồi đó sách nói về tình cảm gia đình, tình yêu quê hương đơn giản mà ăn sâu, nhớ mãi…
Chúng tôi bứt ra khỏi Bàu Dừa khó khăn lắm, giống như dây choại, dây cóc kèn, dương xỉ, bám lâu ngày chày tháng vào thân cây lim, cây gỏ, cây trắc, cây giá tị… vào các cây gỗ quý sống lâu trong rừng. Bứt ra làm cho thân cây, vỏ cây dính theo từng mảng. Thân cây thì nham nhở, lũ dây leo cũng không còn nguyên vẹn, héo queo.
Tuy rằng chúng tôi đã bứt ra, hai vai mang vác nhẹ tênh mà lòng nặng trĩu. Nhớ cây cột chính giữa nhà, ba gắn mẩu tàn thuốc lá như đàn ong ruồi bám tổ, để ba đếm ngày thằng con ba ra đi. Nhớ từng miếng vải vụn má mót máy, đánh thành chiếc võng để chiều chiều má nằm dưới mái hiên trông trời, trông đất… trông con.
Nhưng! Những cánh sao chiến thắng đã nở đỏ rực trên bản đồ, cho nên lòng ai cũng nóng như lửa đốt. Đúng là chân bước đi mà lòng còn ngoảnh lại – niềm vui lấn át nỗi chia xa. Trên vỏ máy của chúng tôi lắm lúc chẳng ai nói với ai, ai cũng tự đeo đuổi lòng mình với con sông quê, gặp gỡ lại những dòng sông đánh giặc, gặp gỡ lại thời của tuổi mười tám đôi
mươi, thả hồn theo những cánh buồm, những cơn giông nhiệt bằng hai luồng mát và nóng phả vào tâm trạng buồn vui không thể tách rời.

… Đời mình có những lúc tự dưng vì vui buồn may rủi mà hồn vía mình chạy trốn đâu mất, như hôm nay cảm thấy thần lìa khỏi xác, vọt lên tận chín tầng mây, cũng không biết mình là ai, mình sẽ làm gì, sẽ như thế nào?
… Và rồi, những loạt đạn cuối cùng ở đồn Chương Thiện im bặt, người và cờ ven sông như chạy đua với ghe xuồng, vỏ máy đang rẽ nước ào ào. Tới bờ, chúng tôi leo lên xe tải đang chở đá, đá đổ lại ven đường để xe chở chúng tôi về thành phố Cần Thơ: “Thành đô ơi, sấm dây, chân dồn bước chân”!

Giờ thì chúng tôi đã tập kết lại bên nhau, lo tập tiết mục tối tối chiêu đãi đồng bào Tây đô. Đâu chỉ có cô bác ở chợ xem mà đồng bào vùng ven, vùng ruộng rẫy chiều chiều cũng ken xuồng, ghe, vỏ lãi dày kín mặt sông. Ca múa nhạc cách mạng ngày ấy thật huy hoàng, thật hấp dẫn từng nhà nhà, từng đường phố. Đoán chắc trong lòng mỗi người, dù cho có những người mang lòng đố kỵ, tự ái với cuộc chiến thắng này cũng hé mắt trông, xem, nhìn, ngó liếc, dòm.
Sau khi Hai Ớt (2), Trưởng đoàn Ca múa Giải phóng đọc xong lời chào sức khỏe gởi đến bà con cô bác thì đến lượt nhạc sĩ Phan Vân chỉ huy đồng ca “Khi thành phố chúng ta xuống đường” của Lê Trần. Nhạc sĩ Phan Vân chào khán giả bốn phương tám hướng làm cho khán giả “được chào” thích quá, la hét vỗ tay rân trời. Rồi ca sĩ Kim Thanh đơn ca bài “Tiếng đàn Ta lư” của Huy Thục, tới “Hành quân về thành phố ” của Lư Nhất Vũ…, rồi diễn kịch, múa, ca vọng cổ.
Từ cái đêm bỏ lịnh Đàn ông ngồi một bên, đàn bà ngồi một bên (không biết sáng kiến của ai), người người dắt vợ con đi xem đông quá là đông. Các nghệ sĩ theo cách mạng được bà con ở chợ nghe bài hát của mình giữa đồng rộng trời cao chắc là rưng rưng tự hào và hạnh phúc nào bằng. Đêm nào đèn đuốc cũng sáng choang, bầu trời chỉ có gió mát trăng thanh, đâu có từng loạt pháo bầy rớt giữa sân khấu, đâu có cảnh từng nhóm biệt kích, từng đàn xe tăng, từng loạt bom B.52 để “Tiếng hát át tiếng bom”!
Đã gần đến ngày 19-5. Cách đây gần trọn một năm, ngày 19-5-1974, chúng tôi rời miền Đông, rời căn cứ Tây Ninh “hành quân” về miền Tây Nam bộ. Một năm với biết bao thăng trầm, biến động. Một năm đầy ắp những điều mắt thấy, tai nghe trên đường đi. Một năm, khoảng thời gian cuối để đất nước thoát khỏi cảnh chia cắt, gia đình sum họp. Chúng tôi bàn nhau tranh thủ lúc rảnh rỗi về Cà Mau thăm cha mẹ, anh em, rồi từ biệt anh chị em trong đoàn Văn công miền Tây về Sài Gòn. Một chuyến đi thật nhiều ý nghĩa (Trước đây, nhiều người bạn thường ngạo tôi làm việc gì cũng đợi có ý nghĩa…).
Hai chúng tôi hăm hở ngồi xe đò về Cà Mau. Dọc đường, xe hơi ở đâu mà nhiều quá làm tôi không quen, phát ngộp, lúc nào cũng thấy xe đâm sầm ngược lại, tôi cứ né hoài, tôi có cảm giác như nó nhằm ngay tôi. Còn hai bên đường tôi thấy cây cối cứ ngả rạp, ngả rạp, nhứt là khi trời về tối. Xe tải, xe đò đèn màu sáng rực, đẹp và vui mắt lạ thường: đèn bao bọc quanh xe, trên mui, dưới gầm… Trước nay tôi chưa từng thấy bao giờ, gấp ngàn lần ngày xưa dưng cô đèn. Cảm giác, suy nghĩ loạn xà ngầu, tôi không biết nói gì với người bạn đồng hành. Điều tôi lo nhứt là lúc gặp gỡ ruột thịt của mình.
——————————————————————————
(1) Bát cạy: lái thuyền sang phải (bát) hoặc sang trái (cạy) bằng mái chèo hoặc bánh lái.
(2) Võ Hồng Quang.

LÊ GIANG

Ý Kiến bạn đọc