Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

“Đuốc sống” ngọn lửa bất diệt của tinh thần yêu nước Việt Nam

Kỳ II

III/ Tiếp cận sự thật lịch sử

A- Sử liệu:

1/ Cần phân biệt rõ hai trận đánh Kho đạn Pyrotechnicque kế bên Sở thú và Kho xăng Simon Piétri bên chợ Thị Nghè. Về nguyên tắc thì kho xăng và kho đạn không được để chung một chỗ. Hai điểm này cách nhau (con rạch?) chừng vài trăm mét. Kho đạn Sở thú – thường gọi như vậy, nằm trên đường Docteur Angier (nay là đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, ngang với Bảo tàng Lịch sử Thành phố trong Thảo cầm viên) là kho dự trữ cho cả chiến trường Nam Đông Dương, quy mô lớn như một doanh trại, lại gần Tổng hành dinh của tướng Le Clerc – chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương, được bố phòng cẩn mật, toàn lính lê dương canh gác. Vụ đánh kho đạn xảy ra ngày 8/4/1946, đạn nổ dậy đất, tóe lửa sáng trời, kéo dài cả tuần, địch tổn thất nặng, chấn động nhân tâm rất lớn. Là một địa điểm trọng yếu, nên đánh kho đạn phải có sự điều nghiên rất kỹ và hợp đồng chặt chẽ, lâu sau mới được công bố (Hồi ký Những năm tháng không thể nào quên của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Hồi ký của nhà cách mạng Dương Quang Đông, Hồi ký của ký giả Nam Đình tức Nguyễn Kỳ Nam rất phù hợp với nhau). Kho xăng dầu Thị Nghè thực ra là một trạm trung chuyển của hãng dầu Shell, không lớn lắm, cháy khoảng nửa đêm về sáng ngày 17 – 18/10/1945, dư luận sớm đồn người đốt là một thiếu niên tên TÁM, nhà ở khu Đa Kao kế đó, gây xúc động lòng người lớn lắm.

Hai sự kiện xảy ra cách nhau chừng dăm tháng. Vì những ngày đầu chiến tranh quá nhiều sự kiện, nguồn thông tin chính thống thiếu chuẩn xác. Trải thời gian quá lâu, sau này nhiều chứng nhân lầm tưởng hai vụ trùng nhau.

2/ Lịch sử Đảng bộ TP. Hồ Chí Minh xác nhận sự việc thiếu niên Lê Văn Tám đốt cháy kho xăng Simon Piétry vào những ngày đầu Nam bộ kháng chiến và còn ghi rõ “người tổ chức là đồng chí Lê Văn Châu ở Gò Vấp, sau này hy sinh ở Cây Thị năm 1947”. Trong hồi ký của nhiều cán bộ lãnh đạo kháng chiến ở Sài Gòn lúc đó như Nguyễn Văn Linh (Mười Cúc), Mai Chí Thọ (Năm Xuân), Dương Đình Thảo (Chính trị viên tiểu đoàn 924 thuộc trung đoàn 308 Nguyễn An Ninh)… đều nhắc đến vụ đánh cháy kho xăng này với tình cảm yêu thương, trân trọng.

B- Gặp các chứng nhân:

1/ Đại tá Võ Thanh Kiết (Báo Cựu chiến binh TP.HCM, số 269 ngày 20/10/2008) chính là anh Hai của người anh hùng với “nụ cười chiến thắng” nổi danh, kể: Tôi sinh năm 1929, quê ở xã Tân Bửu, Trung Huyện, tỉnh Chợ Lớn (nay thuộc địa bàn huyện Bình Chánh và Bến Lức). Năm 1940, tôi lên học ở Sài Gòn, trường Pétrus Ký. Điểm chính hiện nay là trường THPT Lê Hồng Phong thì quân Nhật đã biến thành trại lính. Trường tôi chuyển về học tại trường Trưng Vương ngày nay, sát ngay Sở thú, kế bên là Thị Nghè. Đám học sinh nội trú chúng tôi thường ra đó chơi, đá banh rồi nhảy xuống tắm ở cái hồ kế đó, nước trong và mát. Bởi thế vùng này tôi rành lắm. Trạm xăng Thị Nghè không lớn lắm, là Đại lý xăng dầu của hãng Shell tư nhân. Nó nằm kề bên bờ con rạch gần chợ, khách hàng mua sỉ thường đến nhận hàng bằng xe tải hay ghe thuyền. Tôi còn nhớ rõ đó là một căn nhà thấp, nền đất, không rộng lắm, mái tôn xập xệ, vách là những tấm gỗ mảnh đóng thưa, trong nhà chứa nhiều thùng phuy, tới nơi sặc hơi dầu. Chung quanh có một lớp rào kẽm gai sơ sài.

Sau ngày Nhật đảo chánh Pháp 9/3/1945, tôi về quê, tham gia Thanh niên Tiền phong. Ngày 24/8/1945, tham gia cướp chính quyền ở tòa Bố tỉnh Chợ Lớn. Sau đó làm liên lạc cho báo “Kèn gọi lính” của ta. Sau ngày 23/9, Ủy ban kháng chiến Sài Gòn rút ra đóng tại xã tôi thì tôi làm liên lạc cho Ủy ban, thường xuyên ra vào thành phố lấy tin tức. Lúc đó vùng Thị Nghè còn là ngoại đô, là nơi tranh giành quyết liệt giữa ta và địch, có cả lính Vệ quốc đoàn Nam tiến cùng chiến đấu với các lực lượng võ trang của địa phương. Khoảng tháng 10 năm đó, khi quân của Le Clerc tăng viện cho mặt trận Sài Gòn thì quân ta rút khỏi Thị Nghè. Năm 1947, tôi vào du kích Hạ Trung Huyện, rồi lên trung đoàn 308 Nguyễn An Ninh do anh Huỳnh Văn Một chỉ huy, liên tục chiến đấu ở vùng Chợ Lớn cho đến năm 1950 thì được đi học Trường Quân chính Khu VII đóng ở Bời Lời, Trảng Bàng, Tây Ninh…

Cần nhớ là những năm đầu kháng chiến, ở Sài Gòn ngoài những kho xăng đạn còn có rất nhiều trạm xăng lẻ, với chủ trương “tiêu thổ kháng chiến” trong khi tinh thần chống Pháp rất cao, các kho lớn nhỏ bị các lực lượng của ta đánh cháy nổ rất nhiều, gần như liên tục. Thời gian quá lâu rồi, không mấy người còn nhớ. Hình ảnh “hộp diêm và chai xăng đốt kho” ghi trong hồi ký của Gs. Trần Văn Giàu gợi lại một thời như thế. Trạm xăng Thị Nghè dù không lớn nhưng chứa cả trăm phuy xăng dầu dung lượng 200 lít cùng cháy, khói lửa rần rần thì toàn thành phố đều biết, gây sự phấn chấn trong lòng người lúc đó đang căm thù quân xâm lược. Vùng này lúc đó phức tạp, cả ta và Tây đều không làm chủ được, tập trung rất nhiều trẻ em lang thang cơ nhỡ và có tinh thần đánh Tây hăng lắm. Mà vũ khí chỉ cần một que diêm hay cái hộp quẹt thôi. Khi lửa phật lên, xăng phụt ra bắt cháy, ai cũng phải có phản xạ vọt chạy thoát ra. Gọi là “ngọn đuốc sống” cũng không có gì là quá. Ngay hôm sau, báo chí đã lên tít lớn và còn mô tả khá là chi tiết. Thời gian đó cơ quan Ủy ban còn đóng sát nách Sài Gòn, tôi ra vào nội đô thường xuyên. Trận nào hôm sau đồn rầm lên những tin truyền khẩu rồi mới là trên báo chí, nó cũng chỉ nói là bị Việt Minh đánh. Do đơn vị nào đánh thì không biết nhưng thiệt hại của nó và tâm lý địch, ta thì biết. Vụ cháy trạm xăng, qua tin tức nội bộ nói là do một em bé ở xóm Đa Kao, tên TÁM, đốt. Em Tám chứ không nêu đủ họ danh LÊ VĂN TÁM như sau này đâu. Còn tiến hành thế nào thì làm sao biết được. Gương anh dũng hy sinh trong khi làm nhiệm vụ của bạn TÁM đã động viên chúng tôi rất nhiều trong chiến đấu lúc bấy giờ.

Đó là chuyện có thật 100%, không phải hư cấu như người ta nói.

2/ Ông Hồ Thanh Điền (Hai Điền – 1926-2014), lão thành Cách mạng, đội viên Thanh niên Tiền phong đoàn Trần Cao Vân, sau thuộc Chi đội 13 (tiền thân của trung đoàn 300). Năm 1952 ra Việt Bắc, qua Trung Quốc học. Từ 1956 làm Tiểu đoàn trưởng bảo vệ bờ bắc cầu Hiền Lương. Sau 1975 chuyển sang ngành công an, làm Bí thư Đảng ủy Công an tỉnh Đồng Nai, nghỉ hưu tại TP. Biên Hòa. Qua báo chí, biết có chuyện xuyên tạc về LÊ VĂN TÁM, ông rất bất bình. Người viết tìm đến ông, được nghe ông kể: “Tôi không phải là chứng nhân trực tiếp nhưng là người biết rất sớm chuyện này. Lúc đó đơn vị tôi đóng quân ở Trung Chánh. Ngay sớm hôm sau khi cháy kho xăng Thị Nghè, Nguyễn Thanh Hùng là chiến sỹ của tiểu đội tôi, nhà ở Đa Kao, chạy về báo tin: Thằng Tám trong xóm nhà tui là người đốt kho xăng hồi hôm đó! Thanh Hùng đã hy sinh thời kháng chiến chống Pháp”.

Liệt danh Thằng Tám, Em Tám, Bạn Tám xuất hiện ngay sau vụ việc xảy ra, được nhân dân địa phương, chiến sỹ mặt trận Sài Gòn – Gia Định và cả lục tỉnh Nam kỳ qua nhiều thế hệ nhắc tới với lòng thương yêu, cảm phục.

3/ Ông Trần Thắng Minh (nguyên UVTƯ Đoàn TNCSVN) viết trong Hồi ký “Đứng lên đáp lời sông núi – tập II” (NXB Thanh niên – 1995): “Lớp đội viên thiếu nhi Sài Gòn chúng tôi lúc đó cũng bước theo cha anh đáp lại tiếng gọi của non sông “Ta đi theo tiếng kêu sơn hà nguy biến”. Đầu năm 1946, tôi nghe tin Lê Văn Tám tẩm dầu đốt kho xăng giặc. Có ngờ đâu người bạn cùng lứa tuổi thiếu nhi của mùa thu năm 1945 lại là người đội viên ở Đa Kao đã ở lại trong lòng địch làm rạng danh thiếu nhi Việt Nam anh hùng…”. Cần lưu ý bạn đọc là cuốn sách được viết ra 10 năm trước khi nhà sử học PHL tung ra điều thất thiệt!

4/ Ông Lý Châu Hoàn sinh 1935, kể: Khoảng cuối năm 1945, quân Pháp trên đường đánh tới Mỹ Tho, mọi người chuẩn bị đối phó như tập quân sự, báo động giả… Được một đêm yên tĩnh, nhà ông ngoại tôi ở một vùng sâu huyện Chợ Gạo đang ăn cơm tối thì cậu Hai là cán bộ Việt Minh đọc cho mọi người nghe một tin quan trọng: Có một thiếu niên tẩm dầu vào mình đốt kho xăng giặc Pháp ở Sài Gòn cháy mấy ngày đêm liền. Cậu bé ấy đã bị thiêu cháy cùng lũ giặc gác kho. Tôi có ấn tượng rất mạnh mẽ. Từ ấy, tôi cùng nhiều bạn nhỏ trong xóm hăng hái tham gia đội Nhi đồng cứu quốc, hoạt động rất sôi nổi như tập võ, múa hát, nhất là những bài hát cách mạng… Một hôm chúng tôi được dạy bài hát “Em bé tẩm dầu” của nhạc sỹ Lê Minh Quốc, tâm hồn chúng tôi như bay bổng theo lời bài hát… Chiến tranh nổ ra, tôi cùng nhiều bạn tham gia hoạt động cách mạng tại chỗ (báo tin địch hoặc giúp đỡ Việt Minh việc này việc nọ), rồi thoát ly kháng chiến khi tuổi ngang tuổi “Em bé tẩm dầu”. “Đuốc sống” đã thành linh hồn và máu thịt của chúng tôi suốt dọc dài hai cuộc chiến tranh. Năm 1954, tập kết ra Bắc, học Khoa Điêu khắc trường Mỹ thuật Hà Nội; năm 1964, về Ban tuyên huấn Khu V; sau 1975, làm Bí thư Đảng ủy khối cơ sở Bộ VHTTDL tại TP.HCM, nghỉ hưu ở Củ Chi.

Ông dẫn thêm mấy nhân chứng sau đây:

5/ Bà Trịnh Ngọc Hạnh, lúc 13 tuổi nhà ở Giồng Ông Tố, có biết chuyện kho xăng cháy. Rồi ra bưng biền kháng chiến. Sau 1975, phụ trách Thư viện Quốc gia Sài Gòn, cho biết trong kho tư liệu còn giữ nhiều báo chí nói về vụ đốt cháy kho xăng Simon Piétry. Ai cần tra cứu có thể đến đó tìm đọc.

6/ Ông Mai Bá Hui, sinh 1929, địa chỉ 37/3, Huỳnh Tấn Phát, KP6, thị trấn Nhà Bè, kể: Trước khi vào nghề tài xế lúc đầu tôi làm lơ xe khi mới 15-16 tuổi ở kho dầu Thị Nghè. Kho nhỏ gần cầu Dầu – Phú An. Khu vực bồn xăng cách đó chừng trăm mét thì có 5 bồn xăng cao to. Đến năm 25 tuổi, có giấy phép ba dấu mới chính thức lái xe bồn cho hãng Shell ở kho lớn Nhà Bè. Chủ kho Thị Nghè là thầy Ba Có. Người Pháp thường chạy xe jeep đến đây kiểm tra và lấy xăng. Kho có lính Chà gác, công nhân ra vào được kiểm tra chặt chẽ. Kho xăng bị đốt cháy khoảng 10 giờ đêm, còn ngày tháng thì không nhớ. Lúc ấy tôi cùng các bạn làm chung đi chơi ở Sở thú vừa về. Hơi lửa nóng quá, bọn tôi vội ôm đồ để ở phòng trọ rồi bỏ chạy ra xa. Tới sáng hết cháy mới trở lại và về nhà luôn. Sau một tháng mới tới nhận lương rồi nghỉ luôn vì kho không khôi phục lại. Còn ai đốt thì tôi không biết.

7/ Ông Nguyễn Văn Lượng, sinh năm 1928, địa chỉ 48/10, Huỳnh Tấn Phát, KP6, thị trấn Nhà Bè, cho biết ông là thuyền viên tàu chở dầu hãng Shell ở Nhà Bè, bạn anh Mai Bá Hui; tôi có biết kho dầu Thị Nghè, vì có người anh rể tên Trần Văn Sáng (đã mất, nếu còn sống cũng trên 100 tuổi), là kỹ sư phụ trách kỹ thuật sửa chữa bảo dưỡng xe bồn kho Thị Nghè, tôi từng đến kho này thăm anh. Lúc kho bị cháy, tôi theo tàu lên Nông Pênh, vài ngày sau mới về, thấy kho bị cháy rồi. Thời gian sau, tôi có theo tàu kéo bồn dầu không ở Thị Nghè về Nhà Bè.

Vậy, kho xăng dầu Thị Nghè là có thật và bị ta đốt cháy cũng là có thật! (Văn nghệ TP.HCM, số 383).

C- “Ngọn đuốc sống” rực sáng lên dưới ngòi bút tâm huyết của người nghệ sỹ:

Khi toàn quốc kháng chiến, chiến trường chia cắt, rất nhiều tấm gương oanh liệt ở khắp mọi nơi. Nhà thơ, họa sỹ Phan Vũ kể: “Tôi sinh 1926, người Hải Phòng, Vệ quốc quân Nam tiến. Những năm ở chiến trường Tây Nam bộ, tôi có nghe chuyện một thiếu niên Sài Gòn dũng cảm xông vào đốt cháy một kho xăng. Chuyện chỉ có thế nhưng cái chết của em cứ lởn vởn trong tâm não tôi. Năm 1955, tập kết ra Bắc, niềm thương nỗi nhớ miền Nam làm cho hình ảnh em bé đốt kho xăng sống dậy, tôi dồn tâm sức viết vở kịch “Lửa cháy lên rồi”. Không nhớ được vì sao tôi đặt cho nhân vật cái tên Lê Văn Tám hay chỉ là sự ngẫu nhiên. Thật ra cái tên không quan trọng mà sự kiện mới là nguồn cảm hứng cho người viết. Không ngờ vở kịch thành công lớn quá, sôi động một thời, trước hết là từ các trường học sinh miền Nam ở Hải Phòng sau lên Hà Nội rồi lan xa. Nhiều buổi diễn, từ trên cánh gà nhìn xuống, tôi thấy những bàn tay nâng khăn lên chấm mắt ở những tiểu cảnh cảm động. Tôi sung sướng quá cũng trào ra nước mắt. Ông Thế Lữ khen và nhận tôi làm con nuôi để dạy thêm nghề. Vở kịch được đưa vào Phủ Chủ tịch diễn Bác Hồ xem. Tôi cùng đi trong đoàn. Bác hỏi tôi chuyện này có thật không? Tôi thưa thật rằng chỉ được nghe kể rồi sáng tác ra. Bác khen và động viên tôi. Trong vở kịch này, tôi không dựng chi tiết em Tám châm lửa chạy vào đốt kho xăng mà tạo tình huống cho em làm quen tới mức kết thân với một tên lính coi kho để được ra vào tự nhiên trước sự mất cảnh giác của giặc. Cuối cùng thì… ngọn lửa LÊ VĂN TÁM đã thành bất tử”! Năm 1982, xưởng phim Nguyễn Đình Chiểu TP.HCM dựng bộ phim “Ngọn lửa thành đồng” dựa trên kịch bản của tôi do anh Lê Mộng Hoàng đạo diễn. Tổ chức Đoàn Thanh niên có bàn với tôi lập hồ sơ truy phong anh hùng cho Lê Văn Tám nhưng tôi không biết gì hơn những điều tôi đã viết về con người ấy”. Người viết hỏi ông về việc có tin đồn sử gia Trần Huy Liệu viết chuyện chú bé Lê Văn Tám tẩm dầu? Ông ngạc nhiên đáp: Chuyện ấy nghe anh nói ra tôi mới biết!

D- Miếu thờ Lê Văn Tám còn đây:

Tuần báo Văn nghệ TP.HCM số 508 ngày 26/7/2018 đưa tin, kèm hình: Dịp kỷ niệm 71 năm ngày Thương binh – Liệt sỹ 27 tháng 7 (1947-2018), đoàn đại diện Tuần báo cùng một số cán bộ địa phương đến thắp hương kính cẩn viếng anh linh người thiếu niên dũng cảm đốt kho xăng Thị Nghè, tại miếu thờ Liệt sỹ LÊ VĂN TÁM ở Đa Kao.

Theo ông Phan Tư, Bí thư chi bộ đầu tiên phường Đa Kao sau 1975 (trước là phường Tự Đức), lúc đó chỉ là cái am nhỏ, đơn sơ, khoảng 40x40x40cm đặt dưới gốc cây bồ đề, bà con thường đến thắp hương và nói là am thờ ông Lê Văn Tám đốt kho xăng Thị Nghè, nhưng cũng không biết am lập từ lúc nào. Am cách bờ kênh Thị Nghè chừng 200 mét, đối diện Sở thú qua con lộ chính dẫn qua cầu. Bên kia kênh là chợ Thị Nghè. Vùng này chính là quê hương của liệt sỹ, anh hy sinh lúc 13 tuổi, gây xúc động lòng người lớn lắm. Trước 1975, khu này là trụ sở của Đài phát thanh quân đội Sài Gòn, Đài Gươm thiêng ái quốc, Đài Châu Á tự do… Sau 1975 thuộc khu vực quân đội quản lý. Hiện am nằm trong khuôn viên của công ty Minh Thành, địa chỉ cụ thể: 2Bis Nguyễn Thị Minh Khai. Năm 2000, sát bên am, Tướng Tư lệnh Quân khu VII Phan Trung Kiên cho xây một miếu thờ chừng 3x4x3,5 mét ghi danh LÊ VĂN TÁM, nằm lọt giữa hai cây bồ đề và cây me tây cổ thụ. Trên bệ thờ có tượng cao khoảng 40cm, chất liệu polyme, mô tả người nam, thân bốc lửa chạy hướng về phía trước, cao nữa có hình Chủ tịch Hồ Chí Minh.

IV/ Ông Trần Huy Liệu nói gì?

Trong bài Mấy tư liệu về Lê Văn Tám (Tạp chí Xưa & Nay, số 490 tháng 12/2017), ông Nguyễn Huy giới thiệu bức thư của cố Gs.THL gửi ông Trần Quang Huy – Trưởng Ban Khoa giáo Trung ương lúc đó. Thư viết trước khi ông qua đời hai năm, 4 trang, nội dung góp ý về bản “Dự thảo 35 năm đấu tranh của Đảng” nên vị sử gia cách mạng lão thành còn thận trọng ghi “Để anh (TQH) chuyển đến anh Trường Chinh tham khảo”. Tác giả trích phần có liên quan đến nhân vật Lê Văn Tám như sau:

“Hà Nội, ngày 14/4/1967

Kính gửi anh Huy

… Chuyện em Lê Văn Tám, tôi cho đến nay vẫn không tin có việc này, vì nó vô lý quá. Ai cũng biết kho thuốc đạn của giặc bố trí cẩn mật và khoa học thế nào, vậy thì làm sao một em bé có thể xông thẳng vào đốt cháy một cách dễ dàng và đã xông thẳng vào được thì việc gì phải tự tẩm xăng vào mình thì mới đốt cháy được. Câu chuyện này đồn lên chính xác vào hồi tôi làm Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền, nhưng hồi ấy là đốt kho dầu xăng ở Khánh Hội, chớ không nói là đốt kho thuốc đạn ở giữa thành phố Sài Gòn. Tôi còn nhớ một bài báo của địch lúc đó đã chế giễu chuyện này và liên hệ với đôi chân khập khiễng của tôi và cái chân thọt của anh Hạ Bá Cang (Hoàng Quốc Việt). Thế rồi chuyện đó êm đi, trên báo chí của ta cũng không hề chính thức một lần nào nói về chuyện đó và trong câu chuyện đồn thổi cũng chỉ nói có một thiếu nhi tẩm dầu xăng, chớ không hề nói tên là Lê Văn Tám. Mãi đến năm gần đây thì kịch Lê Văn Tám mới xuất hiện như một sự thật đã xảy ra. Tôi nghĩ nếu nó chỉ thuộc loại truyền thuyết hay giai thoại thì ta cũng không cần thiết phải cải chính nhưng nếu dùng làm sử liệu, viết vào lịch sử của Đảng thì rất không nên”.

Dù bản chụp bức thư nói là của Gs. THL, lưu tại Viện Sử học, hộp 29, tếp 1032, nhưng không phải là di bút, mà chỉ là bản sao viết tay của người thư ký tên Lê Vũ Hiển. Thời đó chưa có máy photocopy nhưng máy đánh chữ “gõ” một lần cũng cho ra năm ba bản. Bản sao có đóng dấu mộc “Viện Sử học” nhưng lại thiếu cái cốt yếu là chữ ký xác thực của người thủ bút (là ông THL)! Tài liệu chưa thể có giá trị pháp lý nhưng vì ta đi lên từ không đến có, làm việc lại thiếu tính chuyên nghiệp, có thể châm chước được. Một đoạn trích chưa tới 250 từ cũng đủ làm rõ ra mấy điều chính yếu mà người viết trình bày ra đây để quý bạn đọc suy xét:

1/ Gs. THL viết: “Chuyện em Lê Văn Tám, tôi cho đến nay vẫn không tin có việc này, vì nó vô lý quá… Câu chuyện này đồn lên chính xác vào hồi tôi làm Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền… Tôi còn nhớ một bài báo của địch lúc đó đã chế giễu chuyện này và liên hệ với đôi chân khập khiễng của tôi và cái chân thọt của anh Hạ Bá Cang (Hoàng Quốc Việt)”. Rõ ràng là chuyện về em Lê Văn Tám ông THL chỉ biết qua các phương tiện thông tin báo, đài và dư luận chớ không do ông tự viết ra!

Trao đổi một vấn đề rất nghiêm túc liên quan tới lịch sử của Đảng với những vị lãnh đạo quan trọng cấp trên, lại là đồng chí thân tình kể cho nhau câu chuyện xảy ra quá lâu rồi mà sao nhà sử học không nói thẳng ra “chuyện đuốc sống Lê Văn Tám do tôi (THL) sáng tác ra để phục vụ yêu cầu cách mạng lúc đó”, trong khi ông lại dễ dãi trải lòng ra nhiều lần với những học trò vào hàng con cháu câu chuyện mà ông thấy rằng “không cần thiết phải cải chính”?!

2/ Gs. THL nói: “Ai cũng biết kho thuốc đạn của giặc bố trí cẩn mật và khoa học thế nào, vậy thì làm sao một em bé có thể xông thẳng vào đốt cháy một cách dễ dàng và đã xông thẳng vào được thì việc gì phải tự tẩm xăng vào mình thì mới đốt cháy được”… Chẳng lẽ nhà nho, nhà văn, nhà báo lão làng quá dễ dãi dựng lên một câu chuyện với những tình tiết mà chính ông cũng biết là “nó vô lý quá” để rồi cứ ân hận suốt đời?

3/ Gs. THL viết: “Trong câu chuyện đồn thổi cũng chỉ nói có một thiếu nhi tẩm dầu xăng, chớ không hề nói tên là Lê Văn Tám. Mãi đến năm gần đây thì kịch Lê Văn Tám mới xuất hiện”. Ông Trần nói rõ là “mãi đến năm gần đây” mới xuất hiện kịch Lê Văn Tám, chớ ông có nói cái tên Lê Văn Tám là do ông đặt ra đâu? Nếu đúng do ông đặt ra thì nó đã xuất hiện từ năm 1945, làm sao ông quên được?! Ông Trần vào Sài Gòn từ năm 1924, làm báo và làm cách mạng. Năm 1935, ở tù Côn Đảo ra, bị chính quyền thực dân trục xuất về Bắc kỳ, cho tới lúc chết ông chưa có dịp trở lại miền Nam. Khi có chuyện đốt kho xăng, báo, đài cũng chỉ ca ngợi chiến công với những tình tiết khó tin, chứ đâu có nêu tên người dũng sỹ. Mãi năm 1955, vở kịch “Lửa cháy lên rồi” được trình diễn rộng rãi ở miền Bắc thì ngọn lửa Lê Văn Tám mới gây tiếng vang trong dư luận, như một chất xúc tác với lòng yêu nước.

4/ Ông PHL nói: “Trên cơ sở sự kiện có thật và cả dư luận về hình ảnh người chiến sỹ tẩm xăng thời đó, Gs. THL tạo dựng nên biểu tượng “Ngọn đuốc sống”gắn với tên tuổi thiếu niên Lê Văn Tám” cũng là cách vòng vo chối lỗi. Mời nhà sử học bậc thầy hãy “tiếp cận” thời quá khứ chưa xa: cặp từ “Đuốc sống” đã là tiêu đề một bài báo tôn vinh tinh thần hiến dâng của người anh hùng trên báo La République ở Hà Nội số 5 ngày 4/11/1945, hẳn lúc đó cậu bé PHL không thể biết!

5/ Cuộc kháng chiến trường kỳ chống xâm lược phương Tây của dân tộc ta được cả nhân loại coi như một cuộc “chiến tranh thần thánh”. Truyền thống yêu nước quật cường là gốc rễ nuôi dưỡng sức mạnh tinh thần ấy. Đảng Cộng sản Việt Nam phát động, bền bỉ đứng mũi chịu sào suốt cuộc đấu tranh, tổ chức đoàn kết toàn dân, nhân lên và phát huy tinh thần xả thân vì nghĩa lớn. Lịch sử Đảng ghi nhận những sự kiện và những con người liên quan đến sự khai sinh và phát triển của Đảng. Còn biết bao con người trong giây phút làm nên lịch sử và cái chết của họ hóa thành bất tử như: Lý Tự Trọng, Kym Đồng, Lê Văn Tám, Võ Thị Sáu, Nguyễn Văn Trỗi, Nguyễn Viết Xuân, Nguyễn Thái Bình… bất kỳ là danh thật hay không thật, kể cả những người nằm xuống âm thầm lặng lẽ chỉ để lại truyền thuyết đẹp thì tên tuổi, chiến tích anh hùng của họ đều đáng được tôn vinh tại nơi họ ghi dấu ấn. Là nhà cách mạng từng trải, trong bối cảnh xã hội lúc bấy giờ, ông THL đặt vấn đề với tổ chức: “không cần thiết phải cải chính nhưng nếu dùng làm sử liệu, viết vào lịch sử của Đảng thì rất không nên”, là chí lý, chí tình và rất có trách nhiệm trên cương vị một sử gia chân chính.

V/ Vĩ Thanh

Hà Văn Tấn – một trong bộ tứ sử gia đương đại “Lâm-Lê-Tấn-Vượng” viết: “Người viết sử trước hết phải là người trung thực chứ không phải là tên cơ hội”. Sự kiện về ngọn “Đuốc sống” Lê Văn Tám tạo nên mối nghi ngờ không đáng có trong dư luận cả nước, nó kéo dài cả chục năm mà không được giải tỏa bởi chính giới sử học đầu têu chuyện này mà các phương tiện truyền thông chính thống để mặc cho những luồng tin rác rưởi lộng hành và các cơ quan có trách nhiệm thì đều im lặng! Dù các chiến sỹ lứa U30-40 thuở ấy ngày một hiếm hoi, nhưng quyết “làm cho ra lẽ”. Sự thật dần sáng ra:

1/ Vụ đốt kho xăng Thị Nghè đêm 17 rạng ngày 18/10/1945 là một chiến công vang dội của tinh thần “Thà chết tự do còn hơn sống nô lệ!” của người dân Nam bộ đi đầu “tay không giết giặc” trong cuộc chiến tranh vệ quốc thần thánh của dân tộc ta.

2/ Chiến sỹ cảm tử là thiếu niên tên TÁM, nhà ở khu vực Đa Kao, Sài Gòn, được sự chỉ đạo của tổ chức tại địa phương, tiến hành đơn phương bí mật bất ngờ, và chiến sỹ đã hy sinh anh dũng, để lại niềm cảm phục yêu thương vô hạn trong lòng đồng đội, đồng bào. Trong điều kiện ấy làm sao có thể đòi hỏi sự chính xác của các nguồn thông tin đa dạng?

3/ Nói rằng Gs. Trần Huy Liệu tự viết ra câu chuyện Lê Văn Tám hoàn toàn là sự đặt điều. Cũng không có căn cứ nào để nói Gs. THL là người đặt ra cái tên Lê Văn Tám và cặp từ “Đuốc sống”. Những tư liệu nêu trên đã chứng minh điều đó.

4/ LÊ VĂN TÁM không có tên trong danh sách những anh hùng thời kháng chiến chống Pháp. Chuyện đơn giản vậy mà sao các nhà sử học chính danh không tra cứu? Hành động cảm tử đó rất đáng được truy phong Anh hùng nhưng vì hồ sơ Lê Văn Tám còn để trống bởi lý do khách quan, tuy nhiên vẫn là nỗi niềm canh cánh bên lòng đồng bào, đồng đội cùng thời. Bà con ta quen gọi “Anh hùng Lê Văn Tám” là sự tôn vinh người thiếu niên nêu tấm gương anh hùng bất tử. Am và miếu thờ là di tích thiêng liêng để các thế hệ đến đây tưởng niệm.

5/ Người thiếu niên “vị quốc vong thân” trọn tấm lòng son trung trinh với dân, với nước cùng thế hệ “thành đồng Tổ quốc” tồn tại mãi với nước non này. Mọi bằng chứng đưa ra đều chống lại những lời nói “khẩu thiệt vô bằng” vô trách nhiệm hoặc với ý đồ bất minh, hoàn toàn không có giá trị và không tin được.

Daniel Granin – nhà văn Nga nổi tiếng, nói: “Bất cứ xã hội nào cũng có những người anh hùng của mình lừng danh hay thầm lặng, được vinh danh, tôn sùng về lòng nhân từ, bác ái, vị tha, quên mình vì lợi ích của tổ quốc, nhân dân, như một tấm gương khơi gợi sự noi theo, tạo cho xã hội một chỗ dựa đạo đức, tinh thần”. “Đuốc sống” LÊ VĂN TÁM như ngọn lửa thiêng bất tử, biểu tượng cho tinh thần yêu nước Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh, còn sáng mãi. Nó thiêu cháy mọi mưu toan tính toán hòng làm hoen ố lịch sử kiên cường chống ngoại xâm rất đáng tự hào của nhân dân ta.

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 10/2018

Nguyễn Văn Thịnh
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 520

Ý Kiến bạn đọc