Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Đừng ngộ nhận về Trương Vĩnh Ký?

LTS: Bài “Đừng Ngộ Nhận Về Trương Vĩnh Ký?” Của Nhà Văn – Bác Sĩ Nguyễn Văn Thịnh Khá Dài Mà Khuôn Khổ Báo Có Hạn, Nên Chúng Tôi Chỉ Trích Đăng Một Phần. Bạn Đọc Quan Tâm Đến Sự Kiện Bà Hiệu Trưởng Thpt Chuyên Lê Hồng Phong “Xin Đặt Tượng Trương Vĩnh Ký Trong Khuôn Viên Trường”, Xin Mời Vào Web Của “Tuanbaovannghetphcm.vn” Xem Nguyên Văn Bài Viết. 

 

Được biết ngày 6/6/2019, bà Hiệu trưởng trường Trung học phổ thông chuyên Lê Hồng Phong có công văn số 93/KH-ChLHP trình Sở Văn hóa và Thể thao thành phố Hồ Chí Minh về vấn đề “Xin đặt lại tượng Trương Vĩnh Ký tại khuôn viên trường, bên cạnh tượng của nhà cách mạng yêu nước Lê Hồng Phong”.

Lập luận của bà Hiệu trưởng như sau:

“Về nhân thân của Trương Vĩnh Ký, hiện nay cũng còn nhiều ý kiến, nhưng chúng tôi nhận thấy nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài báo gần đây đã có những nhận định đúng đắn về sự đóng góp to lớn của Trương Vĩnh Ký đối với văn hóa dân tộc”… “Việc đặt tượng nhà văn hóa và nhà cách mạng yêu nước mà trường được vinh dự mang tên hơn 90 năm qua sẽ góp phần hoàn thiện truyền thống nhà trường, lưu giữ lịch sử vẻ vang của trường Trung học phổ thông chuyên Lê Hồng Phong qua nhiều thế hệ”.

Thật ra, ý tưởng đó không phải đến lúc này mới nảy nòi ra. Tất nhiên, nó không khỏi tác động tới số người chấp nhất hoặc ít có điều kiện tìm hiểu đến ngọn ngành. Cần sự tỉnh táo và nghiêm cẩn khi tìm hiểu những giá trị của tiền nhân, đặc biệt trong một thời kỳ hàng trăm năm biến động lịch sử thăng trầm của dân tộc ta.

Sau đây là lược sử về hai con người ấy:

Lê Hồng Phong (1902-1942) thuộc lớp tiền bối cách mạng khai sơn phá thạch, tìm con đường cứu dân cứu nước trong đêm dài nô lệ.

Năm 1925, Lê Hồng Phong gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên do Nguyễn Ái Quốc tổ chức và trở thành một trong những cán bộ lãnh đạo lớp đầu tiên của cách mạng nước ta. Ông được học tập về quân sự và chính trị một cách hệ thống tại các Trường Quân sự Hoàng Phố ở Quảng Châu, Trường Lý luận quân sự và đào tạo phi công của lực lượng không quân Xô viết, Trường Đại học Phương Đông của Quốc tế Cộng sản ở Mátxcơva. Trước sự khủng bố ác liệt của thực dân Pháp, tháng 3/1934, Lê Hồng Phong cùng Hà Huy Tập và một số đồng chí thành lập Ban lãnh đạo của Đảng ở ngoài nước (có chức năng như một Ban Chấp hành Trung ương lâm thời). Ban Chỉ huy ở nước ngoài triệu tập Đại hội lần thứ nhất của Đảng họp tại Ma Cao – Trung Quốc (từ 27 – 31/3/1935). Đại hội đã thông qua Nghị quyết chính trị, Điều lệ Đảng, một số văn kiện quan trọng khác và bầu ra Ban Chấp hành Trung ương do Lê Hồng Phong đứng đầu. Ông là Tổng Bí thư thứ hai của Đảng Cộng sản Đông Dương (1935-1939) sau Trần Phú (1930-1931). Năm 1935, Lê Hồng Phong dẫn đầu đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Đông Dương đi dự Đại hội VII Quốc tế Cộng sản họp tại Mátxcơva – Liên Xô (từ 25/7 đến 25/8). Tại đây, Đại hội đã thông qua quyết nghị công nhận Đảng Cộng sản Đông Dương là một phân bộ độc lập của Quốc tế Cộng sản và bầu Lê Hồng Phong làm Ủy viên Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản.

Tháng 7/1936, tại Thượng Hải, ông triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương bổ sung Nghị quyết Đại hội lần thứ nhất, chỉ đạo chuyển hướng tổ chức và sách lược của Đảng, chủ trương thành lập Mặt trận Thống nhất nhân dân phản đế rộng rãi, bao gồm các hình thức đấu tranh, hình thức hoạt động phong phú từ bí mật, bất hợp pháp đến công khai, bán công khai, hợp pháp, nửa hợp pháp, nhằm mục đích “dự bị điều kiện cho cuộc vận động dân tộc giải phóng được phát triển”, chuẩn bị về mọi mặt để đưa phong trào cách mạng chuyển sang cao trào.

Năm 1937, ông bí mật về Sài Gòn, cùng Trung ương tích cực chỉ đạo việc thực hiện chủ trương chiến lược mới của Đảng. Ngày 22/6/1939, ông bị thực dân Pháp bắt lần thứ nhất tại Chợ Lớn và kết án 6 tháng tù giam. Ngày 23/12/1939, chúng đưa ông về quản thúc tại quê nhà ở Nghệ An. Ngày 20/1/1940, ông bị thực dân Pháp bắt lần thứ hai, giam tại khám Lớn, Sài Gòn; năm 1940, bị đày ra Côn Đảo.

Biết Lê Hồng Phong là nhân vật quan trọng của Đảng, thực dân Pháp tìm mọi cách tra tấn, hành hạ rất dã man, nhưng ông luôn nêu cao chí khí cách mạng, không khai báo một lời, đồng thời tích cực vận động và chỉ đạo anh em tù đấu tranh chống địch đánh đập và những luật lệ hà khắc của nhà tù. Sức khỏe suy kiệt dần vì đòn thù và bệnh tật, ngày 6/9/1942 ông đã trút hơi thở cuối cùng, để lời nhắn lại: “Nhờ các đồng chí báo cáo với Đảng rằng, tới giờ phút cuối cùng, Lê Hồng Phong vẫn một lòng tin tưởng vào thắng lợi vẻ vang của cách mạng”.

Bốn mươi tuổi đời, 20 năm liên tục hoạt động cách mạng, oanh liệt và đầy nhiệt huyết, Lê Hồng Phong đã hiến dâng trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và dân tộc, để lại tấm gương sáng về đạo đức cách mạng: suốt đời hy sinh cho độc lập của Tổ quốc, tự do hạnh phúc của nhân dân, thủy chung son sắt với sự nghiệp, luôn lạc quan tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng.

Trương Vĩnh Ký

Những bài viết về ông thì nhiều. Tất nhiên thời lệ thuộc ngoại bang, phương tiện truyền thông chính thống mặc sức tôn vinh như “bậc vĩ nhân” không chỉ của một vùng lãnh thổ Nam kỳ, mà còn là của toàn nhân loại. Trong khi dư luận của người dân bản xứ thì dè bỉu khinh khi: “Hay tám vạn tư mặc kệ / Không Quân-Thần-Phụ-Tử đếch ra người”! Khi nước nhà giành lại được độc lập chủ quyền, thì sự thật về con người này được phanh phui. Bà Hiệu trưởng có ngộ nhận không khi đưa ra ý kiến trên?

So-563--Chan-dung-Truong-Vinh-Ky---Anh-1
Chân dung Trương Vĩnh Ký (Nguồn: /vi.wikipedia.org).

Tư liệu về họ Trương còn lưu nhiều, đặc biệt trong thư khố Pháp quốc. Công luận dù có trái chiều nhau, tựu trung không thể xóa được án phê là con người vong bản. Xin nêu ra vài dẫn chứng:

a/ Trương Vĩnh Ký là “bậc vĩ nhân”?

- Thầy dòng trẻ Pétrus Ky 22 tuổi vừa từ trường Dòng Penang chân ướt chân ráo về quê chịu tang mẹ viết ngay bức thư gửi viên trung tá J.B. Jaureguiberry đang giữ thành Gia Định: “Tôi nhân danh là người đại diện cho tín hữu Kitô kính dâng lên Ngài lời cầu xin của chúng tôi… Tất cả chúng tôi chắc sẽ chịu chết nếu Ngài không kịp đánh đuổi kẻ thù của chúng ta”. Tất nhiên “kẻ thù của chúng ta” đây là quân của triều đình An Nam và “chúng tôi” là số giáo dân mê muội biến thành tay sai của số giáo sỹ phương Tây, đến nỗi viên tướng Genouille – Tư lệnh quân viễn chinh, cũng phải thốt lên: “Không một nền cai trị nào dù là phục vụ đạo Kitô lại có thể dung thứ cho sự xâm phạm thường xuyên, ngu xuẩn vào các vấn đề chính trị, dân sự và quân sự vốn không được và không phải thuộc quyền hạn của họ”.

- “Ngay từ đầu Trương đã dấn thân, nhận cộng tác với Pháp một cách hình như không đắn đo, không day dứt, không hối tiếc, vẫn luôn luôn đi tới, là điều hết sức quý giá đối với người Pháp bởi vì họ từ xa tới, lạ đất, lạ người. Nếu không có người cộng tác từ bên trong thì khó mà xâm lược được Việt Nam” (Linh mục Trương Bá Cần). Đúng như Tổng Giám mục bề trên Pugignier nói toạc ra: “Không có các giáo sỹ và giáo dân thì quân đội Pháp như con cua bị bẻ hết cả chân, càng”!

- Là bề dưới, Trương chẳng cần che đậy: “Không một người Việt Nam nào theo Kitô giáo lại ngần ngại xin gia nhập làm lính dưới cờ Pháp. Ông vua Việt Nam không theo đạo (Kitô), không phải là vua của họ”! Bà con ở phía Nam ta còn nhớ, sau khi lật đổ Bảo Đại, Ngô Đình Diệm lên làm Tổng thống Đệ nhất Cộng hòa Việt Nam. Một số nhân sỹ hân hoan yết kiến, thỉnh nguyện xin được dựng đền thờ tưởng nhớ Quốc Tổ Hùng Vương, thì ngài Tân Tổng thống tỉnh bơ đáp: “Tổ của các ông chớ đâu phải là Tổ của tui!”. Dòng dõi vua Đavít ở mãi đâu mà dám mang nước Nam đã “rành rành định phận tại sách Trời” này dâng cho kẻ khác, thì sao tồn tại được?

- Nhiều lần Trương bộc lộ gan ruột mình ra với ông chủ thực dân: “Tôi là người Pháp từ trái tim và sẵn sàng để trở thành người Pháp thực sự”… “Tôi càng phải tỏ ra biết ơn nước Cộng hòa (Pháp) không những đã công nhận tôi là đứa con nuôi mà thôi, lại còn cho tôi nhiều vinh dự, và nhất là đã tin cẩn tôi lắm lắm!”… “Nước Pháp mà tôi phụng sự và hoàn toàn thuộc về nó”… “Tôi sẽ không bao giờ còn lợi ích cho nước Pháp mà tôi phục vụ và gắn bó. Bởi vì nếu nhập tịch tôi sẽ mất hết uy tín, mất hết ảnh hưởng, từ đó không còn sự tin tưởng của nhà vua, của triều đình và của dân chúng An Nam”… “Khi trở lại đời sống tư, lòng tôi luôn luôn thuộc về nước Pháp, và những công việc phục vụ nhỏ mọn của tôi cũng thuộc về nước Pháp”…

Dù rất thông cảm với những người tài phải sống trong hoàn cảnh éo le của lịch sử: “… Khi đã không có một minh chủ, một lãnh tụ có khả năng tập hợp và tổ chức, thì người dân bình thường, kể cả kẻ sỹ, vẫn phải chấp nhận thực tế để tiếp tục sống và làm cái gì đó có ích cho đời” (Linh mục Trương Bá Cần). Nhưng đọc những lời trao qua đổi lại trong thư Trương Vĩnh Ký, người ta không khó nhận ra đó là “khẩu khí của kẻ tay sai” hay là “nguyên khí của bậc hiền tài”:

- “Tôi xin nhắc lại ngài cái dự án bình định với những phương tiện hành động đã được mật ước, để tiến tới thành quả mà chúng ta có thể phô trương. Về phần tôi, ngài có thể luôn luôn cậy vào sự giúp sức nhỏ yếu của tôi, vì dù sao những cảm tình của giờ phút đầu tiên đã trở thành một mối nhiệt tâm chân thành đối với ngài”.

- “Về phần tôi, xâm nhập vào Cơ mật viện của nhà vua, vai trò của tôi là làm cho nhà vua và triều thần hiểu được ý tốt của chính phủ Pháp cũng như điều động chính sách của chính phủ An Nam đi gần với chính sách của nước Pháp”.

- “Tôi sẽ trấn áp những hãnh thần (là người có tư tưởng chống Pháp), sẽ bao vây lấy nhà vua. Tôi cũng sẽ gom những người thật sự có khả năng cho Viện cơ mật”.

- “Bọn phiến loạn (nghĩa quân Cần vương) không đáng sợ; họ chỉ có những khí giới cổ lỗ của chính quyền An Nam và vài võ khí mới mua lại được của bọn buôn lậu Trung Hoa”.

- “Tất cả quý vị (sỹ phu Bắc kỳ) đều phải thấy rằng nếu nhà cầm quyền Pháp có ý muốn xâm chiếm xứ này, họ có thể làm việc đó từ lâu một cách dễ dàng, không cần bàn cãi gì cả. Quý vị phải hiểu rằng quý vị là những kẻ yếu, thật sự quá yếu, cần sự giúp đỡ của ai đó để gượng dậy” và “Tin chắc rằng nếu nước Pháp muốn lấy xứ này, có thể làm mà không phải mất nhiều khó khăn, tốn kém” (Thư Trương gửi từ Bắc kỳ về Sài Gòn).

- “Xứ Viễn đông xa xôi và cô tịch thành ra già cỗi đủ thứ nên đã đến cái lúc phải cải cách làm cho chúng tái sinh. Thượng đế đã tin cẩn giao cho nước Pháp cái quyền ủy nhiệm ấy và tôi lấy thế làm hoan hỷ lắm… Tôi chỉ còn đợi sự bình định để bước vào vai trò đặc biệt thích hợp với tôi và sẽ được việc cho cả hai nước”.

b/ Trương đóng góp gì vào sự nghiệp văn hóa của dân tộc?

Nhiều công trình nghiên cứu về giá trị học thuật trong các tác phẩm của Trương Vĩnh Ký của nhiều học giả, không ít vị từng sống ở miền Nam trước đây, hiện đang định cư ở nước ngoài. Sơ lược nêu ra vài ý để bạn đọc tham khảo:

- “Bảo rằng Petrus Ky là “nhà bác học kỳ tài đa năng, đa diện trên nhiều lãnh vực” nhưng không đưa ra bất cứ tác phẩm khoa học, văn chương tiêu biểu nào của Petrus Ky? Không tìm được tổ chức nào đã liệt Petrus Ky vào hàng “thế giới thập bát văn hào”, thậm chí đứng hàng đầu các danh nhân thế giới?” và: “Pétrus Ký thậm chí được tôn vinh vào hàng vĩ nhân là ý đồ của giới chức cầm quyền thực dân và giáo hội Công giáo. Chỉ những người thiếu hiểu biết mới dễ tin thôi!” (TS Trần Chung Ngọc).

- “Trong suốt 28 năm sáng tác, Trương Vĩnh Ký cho ra đời 121 tác phẩm Việt có, Pháp có. Hầu hết các tác phẩm của ông đều phục vụ cho quyền lợi của nhà nước thuộc địa và chính ông cũng đã công khai nhìn nhận chủ đích này” (Phạm Long Điền).

Khi cầm bút hay khi đứng trên bục giảng, Petrus Ký luôn tâm niệm một điều là: “Về phương diện chính trị và kinh tế, người Pháp là kẻ đi đồng hóa, còn người An Nam là kẻ chịu đồng hóa. Người yếu cần dựa vào người mạnh để đưa mình lên bằng người khỏe. Đó chính là mục đích cần phải theo đuổi và đạt tới. Bằng cách nào? Bằng cách đồng hóa. Và đồng hóa chỉ có thể thực hiện được bằng giáo dục và học vấn”. Thật sự là suốt đời ông ta tận tâm tận tụy “chưa bao giờ đi lệch mục tiêu đã định sẵn. Mục tiêu đó là sự biến đổi và đồng hóa dân tộc An Nam” (Thư ngày 12/1/1882 gửi Hội đồng thuộc địa để xin tiền in sách).

Đúng là Trương hăng hái đi đầu trong việc dùng Quốc ngữ nhưng không nhằm mục đích thức tỉnh đám dân bản xứ “mọi rợ”, nâng cao dân trí, mà chỉ nhằm mau chóng “đồng hóa” đồng bào mình, phục vụ mưu đồ sâu xa của kẻ “đi đồng hóa” là quan thầy thực dân và bậc chủ chăn bề trên của nhà thờ Công giáo. Trên các văn tự còn lưu, rõ ra điều ấy:

- “Tất cả những gì ông (Trương Vĩnh Ký) đã dịch từ Hán ra chữ Quốc ngữ đều không có mục đích nào khác là làm cho người Nam chấp nhận mẫu tự La tinh và giảm bớt dùng chữ Hán… Việc đó ông Trương Vĩnh Ký đáp ứng đúng với yêu cầu của các vị Đô đốc – Thống đốc đã từng bày tỏ ngay từ lúc Pháp mới chinh phục Nam kỳ” (Sử gia Jean Bouchot).

- “Ngày nào còn sỹ phu, ngày đó ta còn lo sợ vì họ là những người yêu nước, làm sao chấp nhận được sự đô hộ của ta?” (Quan cai trị Lanessan).

- “Thay thế chữ Nho bằng chữ Quốc ngữ, Hội Thừa sai nhằm cô lập các giáo hữu. Những người này cũng không thể thư từ gì được với bất cứ sỹ phu Tàu hay Ta nào, các thầy giảng người bản xứ sẽ chỉ có thể đọc một số hiếm những sách do các thừa sai viết bằng Quốc ngữ cho họ dùng và trong đó chỉ bàn đến những vấn đề thuần túy tôn giáo” (Giám mục Puginier).

Mặc dù Trương biết “trong con mắt của đồng bào tôi, tôi đã bị lên án nặng nề” và hơn thế là “có nhiều người ganh ghét tôi, ngu ngốc thậm chí là hung ác, họ có thể và biết cách hãm hại tôi”. Nhưng bởi “người bề tôi tận tâm và vâng lời” ấy luôn trung thành với chủ tới mức: “Tôi xả thân làm bốn mảnh vì ngài và vì sự thành công của nhiệm vụ cao cả của ngài” (Thư gửi Paul Bert)…

Mời bạn đọc xem vài dòng các quan thuộc địa trao đổi với nhau về kẻ bầy tôi của họ:

- “Tôi nhận thấy ở Huế, ông Trương Vĩnh Ký đã tận lực làm tròn sứ mạng công việc trong triều đình và ít nhiều ảnh hưởng trên nhà vua. Trong những điều kiện đó, tôi tin rằng sẽ có lợi cho người Pháp hiện thời nếu giữ ông ta ở lại Huế trong một thời gian tôi không dám xác định, nhưng chắc chắc cũng khá lâu” (Thư Toàn quyền Paul Bert gởi Thống đốc Nam kỳ ngày 20/5/1886).

- “Petrus Ký có nhiệm vụ thuyết phục nhà vua và triều đình hợp tác một cách thẳng thắn và trung thành với Pháp. Petrus Ký hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ cực kỳ tinh tế này và hòa bình yên ổn được thiết lập ở An Nam trong vòng 60 năm”… “Trương Vĩnh Ký, người đồng hành với Phan Thanh Giản trong suốt cuộc hành trình trên, người đã chia sẻ những điều sâu kín với quan đại thần này, có cùng suy nghĩ như ông” (Pierre Vieillard).

….

Vĩ Thanh

Kẻ sỹ xưa luôn “coi trọng điều liêm sỉ”. Sống chính trực và biết hổ ngươi với người và với chính mình, sẽ giữ được mình, được nhà, được nước. Đó là truyền thống của sỹ phu Đại Việt.

Trương Vĩnh Ký “xét về Chữ, ông là tấm gương sáng; xét về Nghĩa, ông là tấm gương mờ”. Gương càng sáng, người soi càng thấy rõ mình. Gương mờ, người soi nhìn mãi chẳng thấy chi. Con người ấy chỉ để lại dấu vết chứ không thể là dấu son cho hậu thế. Một người tài ba như thế, mưu mô như thế, hãnh tiến như thế mà sao trước lúc lâm chung dự cảm ngỏ lời yếm thế: Sống là con mọt sách. Chết là cái quan tài! Chỉ xin một chút tình thương: “Miseremini Mei Saltem vos Amici Mei”!

Bậc chính nhân “Xả thân dĩ thủ nghĩa”, “Hữu xạ tự nhiên hương” – Cứ việc nghĩa mà làm, hay dở thiên hạ biết. Cần chi phải đến cửa phán quan? Sự nghiệp mình làm là trả nghĩa cho đời, xác thân lại về nguồn cội.

Nhìn gần xa xưa nay đều vậy. Giới học giả, văn nhân đều biết: Trần Ích Tắc vừa là hoàng thân, vừa là kẻ sỹ lớn rất có ảnh hưởng trong xã hội đương thời nhưng vì khiếp nhược trước sức mạnh bạo cường của giặc Nguyên – Mông, đã phản bội quê hương nòi giống, lê tấm thân tàn, gửi xương nơi xứ người xa lạ, để lại tấm gương sỉ nhục muôn đời.

Giới tân học Việt Nam thời thuộc Pháp sao quên nhà văn Bonnard, Tổng trưởng Giáo dục trong chính phủ Vichy, bị treo cổ trước đám đông dân chúng hò reo sỉ vả khi quân đội của Tướng De Gaulle theo chân quân đội Đồng minh về giải phóng Paris. Thế giới không xa lạ tên tuổi Paul de Man – nhà văn, triết gia, nhà tư tưởng nổi tiếng người Đức giữa thế kỷ XX, nhưng khi bị phát hiện từng cộng tác với chính quyền Quốc xã bài Do Thái, ông và toàn bộ sự nghiệp bị đắm đò! Một nhà hoạt động xã hội nổi tiếng những năm 1950-1960 là Kurd Vanheim, từng là Tổng thư ký LHQ, mãn nhiệm kỳ hai khóa, về nước, ông ra ứng cử chức Tổng thống Áo, bị lật tẩy từng theo đuôi quân phát-xít, liền thân bại danh liệt ngay từ đấy, đời sau không còn nhắc tới!

Lời dạy của thánh nhân còn đó: “Người hiểu biết chưa hẳn là người học rộng. Kẻ học rộng chưa hẳn là người hiểu biết”, “Những khởi đầu tốt đẹp thường đưa tới đoạn kết bi thảm”.

Viết đến phần cuối bài, tình cờ đọc báo Tuổi Trẻ số 231/2019 đưa tin: Chiều 27/8/2019, Đại sứ Mỹ Daniel Kritenbrink lần đầu tiên viếng nghĩa trang liệt sỹ Trường Sơn. Sau khi cùng vị đại diện địa phương thỉnh 9 tiếng chuông, để một phút mặc niệm và thắp nhang lên những nấm mồ, ông nói: “Chuyến thăm này là để bày tỏ sự kính trọng đối với những người đã hy sinh vì lòng yêu nước”. Hai câu chuyện xưa, nay cách nhau hàng thế kỷ tưởng chẳng thể nhập với nhau, nhưng với người có tư duy lịch sử thì coi đó như một thông điệp nhân văn: Nước chỉ có một và lòng yêu nước cũng chỉ có một thôi! Coi như đây là kết thúc tất yếu một giai đoạn lịch sử oanh liệt vẻ vang bi tráng nhất của nước Việt Nam ta.

TP. Hồ Chí Minh, tháng 8/2019

Nguyễn Văn Thịnh
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 563

Ý Kiến bạn đọc