Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Đông Nam Á bị phá hủy và họ tôn thờ những kẻ hành hạ mình

 

Đến Đông Nam Á và tận hưởng những bãi biển, quan hệ tình dục giá rẻ và các tiệm mát-xa. Tự do đi lại theo bất cứ cách nào bạn thích, đi dép xỏ ngón, quần short và áo phông. Bạn sẽ nói rằng “mọi thứ đều dễ dàng ở đây, mọi thứ đều rẻ, mọi người thân thiện và hạnh phúc”. Làm những gì bạn muốn, vì hầu hết mọi thứ đều được cho phép, đặc biệt nếu bạn là người phương Tây, có nhiều tiền mặt cùng một số thẻ tín dụng trong túi của mình.

Đó là những nhận thức đơn giản về Đông Nam Á, nó ăn sâu vào nhận thức của người dân Bắc Mỹ, châu Âu, Úc và Nhật Bản. Nhận thức sai lầm này, lặp đi lặp lại hàng ngàn lần, đã thay thế sự thực. Kết quả là, hàng chục triệu người đổ xô đến Đông Nam Á trong các kỳ nghỉ, du lịch tình dục, thám hiểm. Những người đàn ông độc thân phương Tây đến Đông Nam Á hàng năm để được thể hiện quyền lực. Hầu hết họ không nhìn thấy gì, và không nghe thấy gì. Hầu hết họ đi du lịch sau khi bị sa thải trong nước, để béo phì hơn và tự tin hơn khi đến Đông Nam Á. Họ đến với những ý tưởng rõ ràng, và họ trở về sau các chuyến đi mà không học được gì nhiều.

Hầu hết các “du khách” không muốn bị phân tâm bởi thực tế Đông Nam Á, bởi vì thực tế cực kỳ khó tin, thậm chí là kinh hoàng. Sự thật ẩn giấu vô cùng khó chịu là: hầu hết Đông Nam Á thực sự không phù hợp với du lịch. Nó bị tổn thương sâu sắc, khủng khiếp.

Người dân Đông Nam Á hầu như không sống, họ chỉ tồn tại trong quần thể của chủ nghĩa tư bản cực đoan. Tất cả các loại rác của thế giới đều được nhập khẩu về đây, từ nhạc pop không trí tuệ cho đến các bộ phim Hollywood, đồ ăn vặt, phương tiện truyền thông đại chúng và “thời trang”, cũng như thói quen thậm xưng “tôi – tôi” đã thâm nhập để hủy hoại truyền thống văn hóa của họ.

Nói chung, mọi người ở đây không hạnh phúc, họ thường bối rối một cách cùng cực. Các xã hội từ Thái Lan đến Indonesia và Philippines ngày càng trở nên bạo lực. Đồng thời, dân chúng bị “bình định” về mặt chính trị, không dám nổi dậy chống lại những kẻ thống trị phương Tây hay giới tinh hoa chủ nô của chính họ, sự cực đoan chính trị và tôn giáo bảo thủ thường là câu trả lời cho mọi sự bất bình.

Đông Nam Á bị tàn phá, hơn bất cứ đâu khác trên hành tinh này. Trên thực tế, nó đã hoàn toàn bị cướp bóc bởi các nhà khai thác tư bản, khoáng sản, dầu cọ và cao su bị chiếm đoạt tự do. Việc khai thác tài nguyên thiên nhiên được thực hiện một cách quái dị, đầu độc các dòng sông bằng thủy ngân, chặt phá hầu hết các khu rừng nguyên sinh hoặc san phẳng toàn bộ các ngọn núi. Nhìn từ trên máy bay, những nơi như đảo Borneo hay bán đảo Malaysia hiện ra không khác gì địa ngục trần gian.

Phần lớn các quốc gia của vùng đất với tổng dân số khoảng 650 triệu người này, không có bất kỳ nhà tư tưởng hay nhà khoa học nổi tiếng nào, ngoại trừ Việt Nam (là một quốc gia Cộng sản và do đó họ ở một mức độ phát triển cao hơn). Họ không có nổi ngay cả một nhà văn hoặc một đạo diễn phim nổi tiếng toàn cầu.

Tất cả những điều này ở Đông Nam Á cũng không được thảo luận công khai. Các nhà văn và nhà làm phim, cả trong và ngoài nước, không được khuyến khích mô tả những gì ngay trước mắt họ.

Nhưng tại sao sự thật về Đông Nam Á cũng gần như chìm khuất trên các phương tiện truyền thông phương Tây? Đó là bởi vì những gì tôi vừa mô tả ở trên không gì khác hơn là kết quả của những vụ giết người hàng loạt, cướp bóc và hủy diệt khủng khiếp, do chính phương Tây thực hiện. Nó đã xảy ra ở đây, khắp Đông Nam Á. Sự hủy diệt là rất kinh khủng và đáng sợ, hầu như không có người tự do nào ở Paris, London, Amsterdam, Canberra hay Washington sẵn sàng thừa nhận điều đó, thay vào đó, họ đưa ra những lời sáo rỗng ca ngợi đất nước của các nạn nhân, trong đó người dân bị buộc chỉ được tồn tại.

So-534--Dong-Nam-A-bi-pha-huy-va-ho-ton-tho-nhung-ke-ha-minh---Anh-1

Giáo điều của phương Tây mô tả Indonesia là “một quốc gia bình thường”. Nhưng sự thật thì nó là một quốc gia bị tấn công, chính quyền cánh tả bị lật đổ, những kẻ tham nhũng được đưa lên ngai vàng, sau đó tài nguyên thiên nhiên bị cướp bóc, và các “tinh hoa” cực hữu hoàn toàn lệ thuộc vào phương Tây sẽ nhanh chóng đánh cắp mọi thứ từ đất nước và người dân của họ, chia sẻ chiến lợi phẩm với các tập đoàn phương Tây. Dân chúng bị truyền giáo, tẩy não hoàn toàn và những người phản kháng sẽ bị sát hại hoặc vì sợ hãi mà buộc phải phục tùng. Và sau đó, phương Tây sẽ “thể hiện sự tôn trọng lớn” đối với văn hóa và người dân bản địa bằng cách tạo ra những Frankenstein (ma cà rồng) cho riêng họ. Con quái vật hung dữ này do phương Tây sáng tác ra và sau đó ra lệnh cho mọi người phải tôn trọng nó, không liên quan gì đến văn hóa và con người phương Đông.

Cuối cùng, chính các nạn nhân, được dẫn dắt một cách có phương pháp với các công cụ như phương tiện thông tin đại chúng, hệ thống “giáo dục” và tuyên truyền liên tục của các chế độ chính trị thân phương Tây – họ sẽ tự ngừng quá trình nhận thức, trở nên cam chịu, quỳ gối, phục tùng. Họ đổ lỗi cho nhau và đánh nhau, nhưng không bao giờ dám chống lại những kẻ áp bức thực sự.

Các nạn nhân thường tự cảm thấy yếu đuối, nhưng họ không biết lý do tại sao lại như thế..

*
Trong nhiều thế kỷ, Đông Nam Á đã phải chịu đựng sự khủng khiếp dưới bàn tay của thực dân Pháp, Hà Lan, Mỹ và Anh. Chẳng hạn, vào đầu thế kỷ XX, lực lượng Hoa Kỳ đã tàn sát dã man khoảng 1 triệu người Philippines, tại thuộc địa châu Á này của họ.

Sự “trao trả” độc lập sau đó từ các bậc thầy thực dân châu Âu và Bắc Mỹ đã không kết thúc được sự đau khổ của người dân. Sau Thế chiến II, không có nơi nào khác trên thế giới phải chịu đựng nhiều vụ thảm sát và khủng bố bởi phương Tây hơn Đông Nam Á. Ngay cả châu Phi, Trung Đông hay Mỹ Latinh cũng không đến mức như vậy.

Những “điểm đến của kỳ nghỉ” đáng yêu của người phương Tây hiện nay, với sự kính nể của “người dân địa phương thân thiện”, đều đã từng bị phương Tây ném bom và đầu độc bằng vũ khí hóa học. Hàng triệu người đã bị tàn sát bởi các chế độ quân phiệt, bởi giới thượng lưu và quân đội. Không giống như xung đột ở Mỹ Latinh, mà với số lượng cao hơn, bởi phương Tây không bao giờ coi người châu Á là con người bình đẳng (ví dụ: khoảng 2 triệu người Indonesia đã bị tàn sát trong cuộc đảo chính của quân đội Suharto năm 1965. So với cuộc đảo chính ở Chile tiến hành bởi tướng Pinochet vào năm 1973, đã cướp đi sinh mạng của 2-3 nghìn người. Điều chỉnh tỉ lệ theo số người sống ở hai quốc gia này, thì Indonesia vẫn mất số người gấp 10 lần so với Chile).

Mọi người đều biết về sự đau khổ của Việt Nam, dưới sự cai trị tàn bạo của thực dân Pháp, và sau đó, trong cuộc chiến khủng bố do Mỹ và các đồng minh chống lại đất nước của họ. Không ai thực sự biết chính xác, có bao nhiêu người Việt Nam đã chết. Số nạn nhân lên đến hàng triệu. Ít nhất 4 triệu công dân Việt Nam đã biến mất.

Lào thậm chí còn tồi tệ hơn, tính trên tỷ lệ bình quân đầu người. Hàng trăm ngàn người đã biến mất ở đất nước dân cư thưa thớt này, nơi sinh sống của những con người khiêm tốn và hiền lành. Máy bay ném bom B-52 chiến lược đã được triển khai để chống lại nông dân và những con trâu của họ, sử dụng bom chùm ác quỷ, cho đến ngày nay vẫn tiếp tục giết chết hàng ngàn người, trên khắp vùng nông thôn Lào. Không có lý do gì cho cuộc diệt chủng tàn bạo, quái dị này, ngoại trừ một số “mối quan tâm” trừu tượng ở Washington rằng quốc gia nghèo này có thể theo gương của người Việt và “đi theo Cộng sản” sau khi nếm thử dân chủ phương Tây, theo đúng nghĩa đen của nó.

Campuchia – một đất nước mà phương Tây nuôi dưỡng giới tinh hoa tham nhũng và tàn bạo ở Phnom Penh, sau đó bắt đầu chiến dịch ném bom thảm khốc tương tự như ở Lào, chống lại những người nông dân nghèo khổ, tuyệt vọng, sử dụng B-52 giết chết hàng trăm ngàn người, buộc hàng triệu người phải chạy nạn. Mọi người ở đây đã bị mất trí trước sự khủng khiếp của các vụ đánh bom. Họ bị đuổi khỏi vùng đất của mình, và bắt đầu chết vì nạn đói. Tình hình bất ổn đã mở ra cánh cửa cho Khmer Đỏ, mà Hoa Kỳ kiên quyết ủng hộ (trên chiến trường và tại Liên Hợp Quốc), ngay cả sau khi nhóm giết người loạn trí này bị đánh bại bởi Quân đội Cộng sản anh hùng của Việt Nam.

Thái Lan – đất nước bị nghẹt thở bởi ngành công nghiệp xe hơi và các hình thức bóc lột khủng khiếp của chủ nghĩa tư bản cực đoan, trong khi vẫn duy trì hệ thống phong kiến lạc hậu. Thái Lan đã duy trì một quân đội chống Cộng, cho phép họ tàn sát các phong trào cánh tả của chính đất nước họ. Nhà nước Thái Lan đã tàn sát và hãm hiếp học sinh của chính mình, tàn sát hàng ngàn người tị nạn Campuchia. Thái Lan còn tấn công cả Việt Nam và Lào, bằng cách cung cấp các căn cứ quân sự và phục vụ không quân Mỹ chống lại các nước đó, đồng thời bán phụ nữ của họ cho các phi công và lính bộ binh phương Tây.

Indonesia, nơi cuộc đảo chính quân sự do Mỹ và Anh tài trợ năm 1965 chống lại Tổng thống cánh tả Sukarno và sau đó tàn sát các đảng viên Đảng Cộng sản (PKI, lớn thứ ba trên thế giới), đã cướp đi sinh mạng của khoảng 1 đến 3 triệu người, có lẽ đây là nơi kỳ cục nhất của chế độ tư bản cực đoan phát xít trên trái đất này. Indonesia, nơi tất cả các nghệ sĩ và nhà tư tưởng vĩ đại đã bị giết, hoặc bị giam cầm trong trại tập trung Buru, và là nơi phương Tây đã giúp cài đặt một hệ thống ngu dân buộc nó trở lại thời Trung cổ. Indonesia, nơi chủ nghĩa thế tục đang sụp đổ, và trong cuộc bầu cử tháng 4/2019 sắp tới, cử tri sẽ quyết định giữa một nhà lãnh đạo tư bản chủ nghĩa hèn hạ, và một kẻ giết người hàng loạt thực sự phát xít.

Đông Timor – một quốc gia nhỏ bé bị Indonesia tràn ngập vào năm 1975, ngay sau khi nước này giành được độc lập từ Bồ Đào Nha, dưới sự lãnh đạo của phong trào FRETILIN cánh tả. Nhà độc tài cánh hữu của Indonesia – Suharto – tuyên bố rằng ông ta “sẽ không tha thứ cho một Cuba thứ hai gần bờ”, và nhận được sự khuyến khích, hỗ trợ đầy đủ từ Hoa Kỳ, Anh và Úc. Kết quả: khoảng 30% dân số Đông Timor đã biến mất trong thời gian chiếm đóng. Vô số nhà lãnh đạo Indonesia hiện nay đã từng giết chóc ở đó. Nếu Indonesia là một “quốc gia bình thường” thì những cá nhân này bây giờ sẽ phải đối mặt với án tù dài vì tội diệt chủng.

Ở Tây Papua – hàng trăm ngàn người đã chết, cũng dưới sự chiếm đóng của chế độ diệt chủng Indonesia, được phương Tây ủng hộ hoàn toàn, bởi vì Papua, giống như Borneo (ở Indonesia gọi là Kalimantan) đang bị các công ty đa quốc gia cướp bóc, tất nhiên dưới sự giám sát cẩn thận của lực lượng quân đội Indonesia. Những điều khủng khiếp, như chính sách “di cư” do nhà nước tài trợ, được thiết kế để biến người dân Papua trở thành thiểu số trên hòn đảo của chính họ, đang diễn ra không ngừng. Người dân, những người đã mất tất cả mọi thứ dưới sự chiếm đóng, buộc phải cải sang đạo Hồi, họ cũng buộc phải từ bỏ lối sống và đất đai của mình.

Những gì Indonesia làm ở Tây Papua không gì khác hơn là sự diệt chủng. Đó không chỉ là giết chóc và hãm hiếp, điều mà quân đội của nó lẽ ra phải bị buộc tội. Sự cướp bóc tài nguyên ở Papua gây chết nhiều người vì nhiều lý do khác nhau, giống như nếu lực lượng này được sử dụng để xâm chiếm các lưu vực sông Amazonia hoặc Orinoco ở Nam Mỹ – những khu vực có các bộ lạc bản địa chưa từng tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Ngay cả những tổng thống cánh hữu điên rồ nhất của Brazil hay Venezuela (trong quá khứ) cũng sẽ không bao giờ mơ về những chủ trương diệt chủng tàn bạo như vậy (mặc dù điều này có thể thay đổi dưới thời tổng thống phát xít Bolsonaro ở Brazil).

Ở Tây Papua, hàng chục nền văn hóa bản địa đang biến mất. Những người chưa bao giờ tiếp xúc với thế giới bên ngoài đang bị buộc rời khỏi rừng nhiệt đới, vì cây cối bị chặt hạ và các công ty khai thác, được hỗ trợ bởi lực lượng vũ trang Indonesia, cướp bóc đất đai. Người dân các bộ lạc không thể tự bảo vệ, đang chết vì bệnh tật và đói khát, trong khi các quan chức và doanh nhân Indonesia đang đốt tiền ở Jakarta, Singapore, Macau và Hồng Kông. Và bây giờ, hàng ngàn khách du lịch phương Tây bay vào Tây Papua, đến Raja Ampat, để tổ chức lặn biển!

Malaysia có những đặc điểm riêng về xung đột giữa các tôn giáo, mặc dù chưa đến mức như nước láng giềng Indonesia. Thiên nhiên ở Malaysia, gần giống như ở Indonesia, bị tàn phá hoàn toàn, do các đồn điền dầu cọ khổng lồ và các tập đoàn khai thác khoáng sản.

Philippines đã sống qua nhiều thập kỷ khủng khiếp dưới ách chủ nghĩa thực dân mới của Hoa Kỳ, trải qua chủ nghĩa tư bản cực đoan tương tự như đã được cài đặt ở Indonesia. Chỉ trong những năm gần đây, các chính sách xã hội lành mạnh hơn một chút mới được đưa ra, và một lệnh cấm khai thác, ít nhất là ở một số khu vực của đảo Mindanao, đã được thi hành.

Brunei, một trong những nước xuất khẩu dầu mỏ giàu nhất trên trái đất, hiện chịu sự điều chỉnh của Luật Hồi giáo Sharia hà khắc, cho phép cắt cụt chân tay, thả trôi sông, ném đá đến chết và các hoạt động tôn giáo cực đoan khác. Có một nơi khác ở Đông Nam Á mà sự tàn bạo như Trung cổ đó được chính thức cho phép, là ở một tỉnh tự trị của Indonesia – Aceh.

*
Tôi đã làm việc ở Đông Nam Á trong nhiều thập kỷ. Tôi đã phải chứng kiến vô số nỗi kinh hoàng và xung đột ở Indonesia. Tôi đã từng sống ở Hà Nội và tôi đã tìm hiểu sâu về tình hình ở Lào, Campuchia, Malaysia và Papua. Tôi đi khắp Đông Timor, trong thời gian chiếm đóng, và bị lực lượng Indonesia tra tấn ở đó. Chuyện xảy ra sau khi tôi vạch trần vụ hiếp dâm tập thể ở thị trấn Ermera. Ngay hiện nay, tôi đang thực hiện một bộ phim tài liệu chi tiết và gây sốc về sự hủy hoại hoàn toàn môi trường ở Borneo.

Là một người địa phương (tôi thực sự cảm thấy mình là một “người địa phương” ở mọi nơi trên thế giới), tôi thường nhìn vào những du khách phương Tây đến thăm Đông Nam Á, và tôi tự hỏi, thật lòng: họ thực sự không biết gì về quá khứ và hiện tại của Đông Nam Á? Họ chắc chắn không biết?

Có phải họ đang “tận hưởng”, trong một thiên nhiên bị tàn phá, những bãi biển bị tư nhân hóa ô nhiễm, đổ nát, và một nền văn hóa loạn trí? Họ có cảm thấy mạnh mẽ, độc đáo, vượt trội, bởi vì các quốc gia đất nước họ đã tìm cách tiêu diệt toàn bộ Đông Nam Á, buộc nó vào một sự khuất phục đáng xấu hổ? Tại sao họ ở đây?

Họ không thấy sao? Các hòn đảo và Lombok của Indonesia đã trở nên hết sức kỳ cục: mọi thứ dọc theo bờ biển đã bị đánh cắp, mọi người bị buộc rời khỏi nhà của họ, và văn hóa đã bị hủy hoại hoàn toàn. Thành phố Bali bị ùn tắc giao thông và ô nhiễm, do dân số tập trung quá mức, nghèo đói và bẩn thỉu. Hầu như không còn gì nguyên sơ ở đó, bây giờ “văn hóa” chỉ để bán!

Đường bờ biển của Thái Lan đã hoàn thành. Các hòn đảo từng là nguyên sơ nay mọc lên những thị trấn sản xuất hàng loạt, chất lượng thấp, với những ngôi nhà gỗ tạm bợ và những công trình bê tông xấu xí. Có những “dịch vụ” được “tiêu chuẩn hóa”, lặp đi lặp lại, hầu hết đều có chất lượng cực kỳ thấp kém. Có thức ăn bãi biển của Thái Lan và phương Tây, nhạc pop tồi tệ đời cũ, vô số tiệm mát-xa và quán bar. Hầu như không có gì thực sự là văn hóa Thái còn lại trên bờ biển Thái Lan. Phụ nữ Thái Lan, những người nghèo nhất trong số những người nghèo, nhiều người đến từ phía bắc của đất nước, đi dép xỏ ngón và áo phông hở nách tay trong tay với các ông nội phương Tây mà có người ở độ tuổi 80. Thật là một cảnh tượng ấn tượng!

Mọi thứ ở đây đều cảm thấy gượng ép, không tự nhiên và có hương vị khủng khiếp, ở “khu nghỉ dưỡng” của Indonesia, trên bờ biển Thái Lan và trong các quán bar của Philippines, cũng như ở Campuchia.

Trong và xung quanh Phnom Penh, “du lịch diệt chủng” đã đạt đến đỉnh cao. Nó được thúc đẩy và bảo trợ bởi vô số tổ chức phi chính phủ phương Tây, vốn thực sự đang vận hành hết công suất để sử dụng quá khứ khủng khiếp của Campuchia như là “bằng chứng” rằng “Cộng sản là xấu xa”. Họ không nhắc một từ nào về thực tế rằng hầu hết những người đã chết ở đây, thực sự là nạn nhân của các vụ đánh bom thảm khốc ở phương Tây và nạn đói, Khmer Đỏ thực tế chỉ là một ban nhạc kỳ dị do Mỹ tài trợ, họ là những kẻ biết rất ít về hệ tư tưởng Cộng sản (tôi đã dành nhiều thời gian để nói chuyện với họ, ở sâu trong rừng rậm và hầu hết trong số họ thừa nhận rằng không có nhận thức nào về học thuyết Mác hay chủ nghĩa Cộng sản, khi họ nắm quyền lực). Nhưng với người phương Tây, du lịch diệt chủng là một thứ gì đó ly kỳ, nó đại diện cho “một cái gì đó mới”, điều mà trước đây họ chưa từng trải qua. Đó là điều kiện tốt cho họ để thực hiện các bức ảnh tự sướng và cho những câu chuyện đầy màu sắc ở quán rượu. Và Campuchia hiện đang kiếm được số tiền lớn từ tất cả những điều này, sẵn sàng vặn vẹo thay đổi quá khứ khủng khiếp của chính mình, chỉ để kiếm được một số tiền mặt. Nếu tới các làng và nói chuyện với mọi người dân, họ sẽ cho biết sự thật. Nhưng hầu như không ai đến gặp họ cả, ngay cả phương tiện truyền thông phương Tây.

Phương Tây đã hoàn toàn đánh cắp lịch sử, trên khắp Đông Nam Á. Học viện ở Malaysia, Indonesia, Philippines và Thái Lan bị ảnh hưởng sâu sắc và bị thao túng từ nước ngoài. “Sức mạnh mềm” đang được sử dụng: học bổng, tài trợ và các lời mời “trao đổi học thuật”.

Cả tường thuật hàn lâm và các phương tiện thông tin đại chúng ở Đông Nam Á, giờ đây đã bị phương Tây hóa hơn nhiều so với ở chính phương Tây.

*
Những lời sáo rỗng về Đông Nam Á hầu hết là không chính xác, trên thực tế, nó là xa rời hiện thực.

Hiện thực Đông Nam Á đang phải chịu đựng sự không khoan dung tôn giáo, phân biệt chủng tộc, xung đột và căng thẳng quốc gia vĩnh viễn. Indonesia được miêu tả ở phương Tây là “đất nước khoan dung”, nhưng họ không có một đảng chính trị nào đại diện cho đa số (người nghèo), nó vẫn được gắn nhãn là “dân chủ”. Một nơi mà người Trung Quốc, da đen, hoặc người Papua khó có thể bước đi vài bước mà không bị xúc phạm trên đường phố, hoặc bị chế giễu vì ngoại hình của mình, nhưng Indonesia vẫn được các phương tiện thông tin đại chúng phương Tây mô tả là “thân thiện”.

Thái Lan cũng vậy. Một đồng minh trung thành của phương Tây trong cái gọi là Chiến tranh Việt Nam và “cuộc chiến chống lại chủ nghĩa Cộng sản”. Vương quốc được miêu tả là “vùng đất của những nụ cười” này trên thực tế có tỷ lệ giết người trên đầu người cao hơn so với Hoa Kỳ và số phụ nữ bị hãm hiếp hàng năm cao hơn so với ở Nam Phi. Nụ cười chỉ dành riêng cho những người sẵn sàng trả bất kỳ giá nào, mà không đòi hỏi nhiều lợi nhuận. Bất kỳ cuộc đối đầu nào ở đây cũng có thể dễ dàng leo thang với bạo lực.

Phương Tây hầu như không bao giờ chỉ trích các mô hình tư bản thái quá của Thái Lan hay Indonesia, cũng như cơ sở hạ tầng sụp đổ và việc quy hoạch thành phố vô nhân đạo khi ưu tiên xe cơ giới và các nhà phát triển bất động sản nhưng lại tàn nhẫn với người dân nghèo. Bangkok và Jakarta bị ô nhiễm nhiều hơn so với các thành phố Trung Quốc, hơn nữa chính phủ Thái Lan và Indonesia gần như không làm gì để thay đổi tình hình. Nhưng, truyền thông phương Tây luôn sáo rỗng nói rằng Bắc Kinh thật nguy hiểm về chất lượng không khí, trong khi ô nhiễm của Bangkok hoặc Jakarta hầu như không được nhắc đến.

*
Ở Đông Nam Á, truyền thông thường được khống chế, để giấu diếm nỗi sợ hãi. Việc tư duy bị coi là điều xa lạ, nó là nhạy cảm và sẽ bị coi là bất lịch sự nếu đem ra thảo luận, để đối mặt với sự thật khủng khiếp của quá khứ và hiện tại. Thói quen nghe nhìn với điện thoại được khuyến khích, mạng xã hội được sử dụng ở đây nhiều hơn bất cứ nơi
nào trên thế giới. Trong khi một số quốc gia như Indonesia có lượng người đọc sách thấp nhất trên trái đất, tính theo đầu người.

Đông Nam Á đã trải qua các cuộc diệt chủng, đảo chính và hoàn toàn phục tùng các bậc thầy phương Tây và chủ nghĩa tư bản man rợ. Nó đã bị cướp đi bản chất của mình, và tài nguyên thiên nhiên. Dân chúng của nó đã bị “bình định”, buộc phải vâng lời và phục tùng. Các khái niệm tôn giáo cực đoan đã được tiêm nhiễm và duy trì từ nước ngoài. Chỉ có ở Philippines, tình hình bây giờ có vẻ đang dần được thay đổi. Tại Việt Nam, nhà nước vẫn mạnh mẽ chống lại sự lật đổ từ phương Tây, mặc dù đất nước này cũng đã bị hư hỏng với mức độ lớn, bởi các tổ chức phi chính phủ và phương tiện truyền thông xã hội phương Tây. Ở các quốc gia khác, tình hình đang trở nên tồi tệ hơn nhiều.

Lào hiện đang tiến đến gần hơn với Trung Quốc, theo nghĩa đen là đưa quốc gia xinh đẹp và dân cư thưa thớt này ra khỏi giấc ngủ, xây dựng hệ thống đường sắt cao tốc, cơ sở hạ tầng, nhà máy, đập thủy điện, trường học và bệnh viện. Nhưng Trung Quốc càng hỗ trợ cho Lào, thì phương Tây càng muốn biến họ thành quỷ dữ, thông qua báo chí, giới hàn lâm và các tổ chức phi chính phủ. Bây giờ đang là một trận chiến lớn, trên đất Lào. Tuy nhiên, rõ ràng là người Lào đang được hưởng lợi rất nhiều từ sự gần gũi với Trung Quốc, sau khi bị chủ nghĩa thực dân Pháp và cuộc chiến bí mật của người Mỹ hủy diệt theo nghĩa đen.

Ở đây, tôi không đề cập đến Miến Điện, vì ở đó tình hình vô cùng phức tạp và có những đặc thù rất riêng. Nhưng cuối năm nay, tôi dự kiến sẽ xuất bản một báo cáo chi tiết về chủ đề này.

*
Đông Nam Á rõ ràng là một nạn nhân. Nó cũng là một “câu chuyện chưa được kể”, một câu chuyện sâu sắc, đen tối.

Ngoại trừ Singapore và với một mức độ nào đó ở Malaysia, cả Đông Nam Á là một nạn nhân bị tàn phá, nghèo nàn. Nó cũng là một “quả bom hẹn giờ”. Người dân ở đây bất mãn, thường rơi vào trạng thái tuyệt vọng. Thông thường, họ cũng không biết tại sao, không giống như ở Mỹ Latinh và châu Phi, nơi nhận thức chính trị của các nạn nhân là vô cùng cao. Ở đây, các nạn nhân vẫn thường tin rằng họ đã được đối xử công bằng và “đây là cách duy nhất để xã hội có thể được sắp xếp và cai trị”.

Nếu ai đó muốn đi du lịch ở đây, tìm kiếm “văn hóa” và “những cách mới để hiểu cuộc sống”, họ nên suy nghĩ kỹ. Ở hầu hết các nước Đông Nam Á, văn hóa địa phương đã bị triệt tiêu. Những gì họ sẽ thấy là một số chương trình dân gian dành cho người nước ngoài, hầu như không bao giờ người dân địa phương tham dự. Hầu hết các địa điểm âm nhạc bản địa, cũng như sân khấu và các loại hình nghệ thuật khác, đã được thay thế bằng các loại hình giải trí phương Tây thô tục nhất, bằng các trò chơi video và bằng phương tiện truyền thông xã hội.

Đàn ông phương Tây thường cảm thấy tốt đẹp ở đây. Đó là bởi vì ở Đông Nam Á, họ đã thắng, họ thường được tôn trọng như bề trên ở đây, chỉ vì họ là đàn ông và da trắng. Họ được tôn trọng, giống như cách thực dân Pháp, Hà Lan và Anh từng được tôn trọng ở đây, một thế kỷ trước. Không được yêu, không được ngưỡng mộ, nhưng được nể sợ vì họ thuộc về chủng tộc và văn hóa đã tìm cách chinh phục, tiêu diệt và sau đó ra mệnh lệnh cho dân chúng Đông Nam Á.

Trên thực tế, đối với những người muốn sống lại những ngày “thời hoàng kim” của chủ nghĩa đế quốc, thì Đông Nam Á là nơi hoàn hảo để ghé thăm.

Đương nhiên, Đông Nam Á được phương Tây tô vẽ ngợi ca, ngoại trừ Philippines, Việt Nam và Lào (và Miến Điện, vì những lý do khác nhau) – họ là những quốc gia đang cố gắng thoát khỏi sự sai khiến của phương Tây.

Vùng đất này của thế giới là “hoàn hảo” trong mắt những kẻ đế quốc thống trị. Ở đây, cuộc sống của con người bị tự do hy sinh vì lợi nhuận của các tập đoàn tư bản, cả phương Tây và địa phương. Giống như những người đi bộ ở đây phải đợi cho đến khi những chiếc xe hơi đi qua mới được đi, toàn bộ các ngôi làng phải nhường chỗ cho các địa điểm khai thác khoáng sản và các đồn điền dầu cọ. Các dịch vụ xã hội phục vụ cho công dân không chỉ là thứ gì đó thứ cấp, mà thực tế phổ biến là nó không được quan tâm. Lợi nhuận là tất cả những gì được cho là quan trọng. Hạnh phúc của người dân hầu như không được xem xét.

Phương Tây gần như không bao giờ bị chỉ trích ở đây. Giống như trong bất kỳ xã hội phong kiến truyền thống nào, phương Tây được coi là một “người cha”. Điều này là nghiêm trọng, nhưng nó vẫn luôn luôn được cho là đúng. Tư tưởng đó đầu độc, đánh bại giới trẻ Đông Nam Á. Các tôn giáo giúp củng cố loại vâng lời này, trong khi ở nhiều nơi khác trên thế giới điều đó sẽ đồng nghĩa với thời Trung cổ.

Trong khi đó, “giới tinh hoa” địa phương cai trị dù không được ủng hộ. Họ chỉ chịu trách nhiệm với quyền lực lớn hơn của phương Tây. Họ có thể làm bất cứ điều gì muốn với đối tượng của họ, lái những chiếc xe hơi siêu đắt tiền của họ, mua bằng tiền bị đánh cắp từ người nghèo. Và người nghèo thì cúi gập, phủ phục trong sự tôn trọng, sợ hãi, phục vụ và ngưỡng mộ những người giàu nhờ ăn cắp của họ.

Và họ cũng làm như vậy với người phương Tây. Tóm lại, đây là một xã hội hoàn hảo, theo đánh giá từ New York, Canberra, London hoặc Paris.

Ở Bali hay Phuket, phụ nữ mặc trang phục truyền thống nhảy múa trong khách sạn 5 sao, trợn tròn mắt và vặn vẹo cánh tay thon thả. Để du khách nước ngoài nói: Thật là một nền văn hóa tuyệt vời! Tất nhiên, trong khi đó, tất nhiên, nền văn hóa vĩ đại thực sự đã bị giết bởi chế độ thân phương Tây, dân chúng nghẹn ngào và bị giết trong các trại tập trung và bên trong các doanh trại quân đội.

Nạn nhân duy nhất của tình trạng “hoàn hảo” này là người nghèo, trên thực tế chiếm đại đa số ở Đông Nam Á (bất kể số liệu thống kê chính thức nói gì). Nhưng ai thực sự quan tâm đến họ?

*
Có phải hầu hết các nước Đông Nam Á đã thực sự giành được độc lập, một vài thập kỷ trước? Có phải tiếng thét tự do nổi tiếng chỉ là một trò hề lớn? Có đúng là Thái Lan “không bao giờ là thuộc địa”? Có phải toàn bộ khu vực rộng lớn này vẫn là thuộc địa trên thực tế? Và nếu có, tình trạng này có thể thay đổi hay không?

Đây không chỉ là những câu hỏi tu từ, nó là điều có thật. Và câu trả lời không bao giờ là đơn giản. Nhân dân Đông Nam Á đã bị xâm phạm, bị cướp bóc và sau đó bị bao vây bởi thực tế giả mạo, bởi những lời nói dối về quá khứ và hiện tại của họ. Họ được bảo rằng họ đang khỏe mạnh, hạnh phúc và những gì họ đang trải qua là sự tiến bộ, tự do và dân chủ. Họ cũng được lệnh tin rằng những kẻ chiếm đoạt của họ, phương Tây, chính là người đại diện cho họ, là những người “quản trị tốt” và trung thực. Nhiều người dân Đông Nam Á chưa bao giờ có bất kỳ một quan điểm thay thế nào khác.

Sau khi chôn cất hàng chục triệu xác chết và sau khi các cánh rừng, sông núi bị phương Tây hủy hoại hoàn toàn, hầu hết người dân Đông Nam Á vẫn tin rằng những kẻ hành hạ họ được sinh ra là để kiểm soát thế giới!

Andre Vltchek
Ngô Mạnh Hùng (biên dịch và trích lược)
(Đọc toàn bài tại đây: https://m.journal-neo.org/2019/01/25/southeast-asia-terribly-damaged-but-lauded-by-west/)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 534

Ý Kiến bạn đọc