Tản văn

Đồng chí Đỗ Mười và lá thư của Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước

Vô Cùng Thương Tiếc Nguyên Tổng Bí Thư – Nguyên Chủ Tịch Hội Đồng Bộ Trưởng Đỗ Mười (1917 – 2018)

 

Tôi gặp nhạc sĩ Lưu Hữu Phước lần đầu vào năm 1950 tại chiến khu Việt Bắc. Khi đó tôi là một chú thiếu sinh quân (TSQ) nhỏ tuổi, đang học tại trường Thiếu sinh quân Việt Nam. Trường chúng tôi lúc đó đang đóng quân tại La Bằng nằm trong địa phận huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Anh Lưu Hữu Phước tới thăm trường chúng tôi trong thành phần đoàn đại biểu Trung ương Đoàn Thanh niên Cứu quốc Việt Nam.

Sau này, trong những năm về Hà Nội, tôi có gặp lại anh, nhưng chỉ chuyện trò sơ sơ, nhắc lại cái lần anh tới thăm trường. Rồi sau đó anh lên đường, trở lại miền Nam, quê hương anh, để chiến đấu. Mãi tới năm 1988, tôi mới có dịp gặp lại anh. Lúc này, anh đã 60 tuổi, đã thôi không làm Bộ trưởng Văn hóa của Chính phủ Cách mạng Lâm thời của Mặt trận Giải phóng miền Nam Việt Nam nữa, mà trở thành Viện trưởng Viện nghiên cứu âm nhạc. Còn tôi lúc đó đang là thư ký của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười, tới gặp anh để chuẩn bị cho cuộc gặp mặt giữa anh với Thủ tướng. Sở dĩ có cuộc họp mặt này, vì đồng chí Thủ tướng vừa nhận được một lá thư riêng của anh với rất nhiều vấn đề bức xúc và xin gặp mặt đồng chí gấp để diễn giải các vấn đề. Đồng chí Thủ tướng đồng ý và giao cho tôi chuẩn bị cho cuộc gặp mặt đó. Tôi tới Nhà khách 38 Hùng Vương gặp anh với lá thư anh gửi cho Thủ tướng. Anh Phước rất cảm động vì sự quan tâm và sự đáp ứng rất nhanh nhạy của đồng chí Đỗ Mười. Anh nói: “Thực ra tôi tưởng lần này ra Hà Nội không thể gặp được anh Mười, vì anh ấy bận quá. Thế mà thư vừa gửi đi đã được anh đồng ý cho gặp ngay, chứng tỏ việc tôi nêu ra là đúng lúc và được Đảng và Nhà nước quan tâm. Anh Mười quả là con người nhiệt tình và chu đáo…”. Khi tôi hỏi anh kỹ hơn về nội dung những vấn đề anh muốn trình bày với đồng chí Thủ tướng, những kiến nghị cụ thể của anh, thái độ của anh trầm hẳn xuống. Anh nêu lên những yếu kém về công tác quản lý ngành văn hóa, từ công tác xuất bản, giáo dục tư tưởng, biểu diễn, giao lưu với thế giới, tới sự xuống cấp về cơ sở vật chất… Rất nhiều vấn đề. Đặc biệt là tư tưởng sùng ngoại, chạy theo nền văn hóa thực dân của phương Tây. Nền văn hóa nghệ thuật của các nước xã hội chủ nghĩa gần như bị bỏ rơi, cho là lạc hậu, thủ cựu. Nền âm nhạc Xô viết với biết bao thành tựu, những đỉnh cao cũng bị quên lãng. Qua cách trình bày, trao đổi của anh, tôi còn nhận ra một điều là một bộ phận lãnh đạo mới của Bộ Văn hóa không tôn trọng anh, cư xử với anh không phải đạo. Việc cử anh làm Viện trưởng Viện nghiên cứu âm nhạc, Chủ tịch Hội đồng Khoa âm nhạc cũng chỉ là hình thức, không có phương tiện, không có cán bộ để làm việc… Tôi đề nghị anh khi gặp đồng chí Đỗ Mười trình bày hết sự thực để đồng chí Thủ tướng nắm được thực chất vấn đề. Về phần mình, tôi cũng hứa với anh sẽ phản ánh sớm để đồng chí Đỗ Mười suy nghĩ trước.

Nhưng khi cuộc gặp diễn ra tại Văn phòng Chính phủ thì bỗng phát sinh “sự cố”. Cuộc họp mới bắt đầu thì ông Bộ trưởng Bộ Văn hóa xuất hiện. Ông nói: “Nghe tin anh Mười gặp anh Phước để nghe về tình hình âm nhạc và các vấn đề có liên quan tới quản lý, nên tôi phải vội thu xếp công việc để được nghe cùng…”. Đồng chí Đỗ Mười đành phải mời ông ta: “Anh ngồi xuống đi, chúng tôi mới bắt đầu câu chuyện”. Từ lúc ông có mặt, anh Phước cứ lúng ta lúng túng, trình bày không thoải mái. Dù sao anh cũng nói hết được nội dung về những vấn đề âm nhạc, sự buông lỏng quản lý, tư tưởng sùng ngoại, khinh thường âm nhạc truyền thống dân tộc… Buồn cười là ông Bộ trưởng ngồi bên cạnh, cứ luôn trả lời thay anh những câu hỏi của Thủ tướng, thanh minh hết chuyện này chuyện khác. Lát sau, đồng chí Đỗ Mười ghé vào tai tôi: Ta kết thúc sớm ở đây, để hai người ra về. Chú tiễn anh Phước ra cổng rồi lại đưa vào gặp riêng tôi để anh ấy trình bày hết sự thật, giãi bày hết bầu tâm sự của riêng anh ấy với tôi, chứ có mặt ông Bộ trưởng thì anh ấy nói sao được!

Tôi làm đúng như lời đồng chí Đỗ Mười dặn. Tiễn anh Phước ra cổng Phủ Thủ tướng, tôi rỉ tai với anh Phước: “Anh ngồi chơi ở phòng đợi mấy phút, rồi ta lại trở lại văn phòng anh Mười để nói chuyện tiếp”. Anh Phước ngạc nhiên hỏi tôi: “Ủa, thiệt thế sao?”. Tôi nói: “Có những vấn đề tế nhị, sợ anh không muốn trình bày khi có mặt Bộ trưởng Bộ Văn hóa, nên anh Mười mới sắp xếp lại cuộc gặp mặt một tí chút”. Chúng tôi mỉm cười nhìn nhau.

Khi trở lại phòng đồng chí Thủ tướng, anh Phước nói nhỏ nhẹ: “Rất cảm ơn anh Mười đã cho tôi gặp anh lần nữa”. Đồng chí Đỗ Mười cười: “Có gì vướng mắc, anh cứ nói thẳng, nói hết cho tôi nghe, để xem việc gì có thể giúp anh thì tôi sẽ làm ngay”. Câu chuyện giữa anh Lưu Hữu Phước và đồng chí Đỗ Mười tiếp tục gần một tiếng đồng hồ nữa. Khi chia tay, tôi thấy nét mặt anh Phước có vẻ rất thỏa mãn. Anh bắt tay rất chặt. Anh Mười nói thêm: “Lần sau ra họp ở Hà Nội, nếu Bộ Văn hóa “quên” không đưa xe ra đón anh ở sân bay, thì anh cứ gọi điện thoại cho chú Ngọc, thư ký của tôi, chú ấy sẽ bố trí xe của Văn phòng Chính phủ ra đón anh. Anh từng là Bộ trưởng Bộ Văn hóa của Chính phủ Lâm thời, Mặt trận Giải phóng cơ mà! Chính phủ của Mặt trận Giải phóng với Chính phủ này cũng là một thôi!”. Cả hai đều cười vui vẻ.

Sau khi chia tay với anh Phước, đồng chí Đỗ Mười dặn tôi: “Chú xuống trao đổi lại với đồng chí Bộ trưởng, nhắc các đồng chí đó cần quan tâm đặc biệt tới anh Phước. Anh là một trí thức nổi tiếng của Nhà nước ta, có cống hiến lớn cho nền văn hóa của cách mạng của dân tộc. Phải biết trân trọng những kiến thức, những kinh nghiệm mà anh đã tích lũy được để phát triển, xây dựng nền văn hóa của đất nước. Thời gian qua cư xử với anh Phước như vậy là còn thiếu sót, là sai lầm, phải xin lỗi, phải sửa chữa…”.

Sau cuộc họp đó, tôi đã lưu giữ bức thư đó như một kỷ niệm, một tư liệu. Đây là toàn bộ nội dung lá thư:

“Lưu Hữu Phước

Chuyên viên Bộ Văn hóa

183 Lý Chính Thắng, TP. Hồ Chí Minh

GS II. âm nhạc 

Viện sĩ Viện Hàn lâm Cộng hòa Dân chủ Đức

Hà Nội, 5-11-1988

Kính gửi đồng chí Đỗ Mười,

Thưa anh,

Tôi là đại biểu trong Đại hội 3 Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Hôm qua được nghe anh phát biểu trên Hội trường và sáng nay được biết anh đã hẹn gặp Giáo sư Ngô Gia Hy sau khi bác sĩ Hy đề ra mấy kiến nghị về nghiên cứu y học, tôi rất tiếc không được dịp trình bày về các vấn đề cấp bách của nghệ thuật truyền thống dân tộc. Cấp bách nhất là truyền thống ấy đang mai một mà những cơ quan có trách nhiệm chưa có biện pháp cơ bản nào đó để giữ gìn, cứu vãn khỏi sự mai một, và cố gắng phục hưng để giải quyết nhu cầu giải trí văn hóa, động viên giáo dục nhân dân trong đời sống cơ sở. Hiện nay, tôi nghĩ rằng ta đang bị chủ nghĩa thực dân mới tấn công ác liệt mà hiểm độc. Thanh niên ta bị tấn công về văn hóa mà nghiện như nghiện ma túy; cán bộ lãnh đạo thì không biết, hoặc không chú ý, hoặc có quan tâm mà không chỉ đạo đồng bộ. Tình hình sinh hoạt nghệ thuật ở cơ sở hầu như thả nổi, vô chính phủ, mặc ai nấy làm. Những cố gắng lẻ tẻ có khi chỉ là hình thức, từng đợt, hoặc đánh trống bỏ dùi, có khi chính ta gây khó khăn cho ta… Nguy hiểm là khiếu thẩm mỹ của con cháu ta bị thói quen nhồi nắn, tích lũy, những giá trị phản nghệ thuật, phản dân tộc, thậm chí phản nhân đạo.

Người đói thì kêu, người bệnh cũng kêu, song người nghiện ma túy thì kêu đòi thêm ma túy, còn người làm giàu nhờ đầu tư vào buôn bán nghệ thuật thì cười vui sướng. Người có trách nhiệm thì để thả nổi có khi vì nhẹ việc, có khi vì hiểu nhầm “lấy dân làm gốc”. 

Tôi thiết tha đề nghị anh Mười khi có điều kiện cho tôi trình bày vấn đề với anh trực tiếp, ở Hà Nội hoặc ở Thành phố Hồ Chí Minh cũng được.

Kính chúc anh khỏe mạnh.

Lưu Hữu Phước”

Ở góc bên trái phía trên của trang nhất, đồng chí Đỗ Mười ghi: Tôi đồng ý làm việc với anh Lưu Hữu Phước, chú Ngọc tổ chức.

12/11

Đỗ Mười

*
Lưu Hữu Phước sinh ngày 12-9-1921 tại Cần Thơ, Hậu Giang. Sau này, khi đi B tham gia chiến đấu, anh còn lấy những bút danh khác, như Huỳnh Minh Siêng, Long Hưng, Anh Lưu, Hồng Chí…

Lưu Hữu Phước là một trong những nhạc sĩ cách mạng tiên phong của đất nước ta. Anh đã bộc lộ lòng yêu nước từ khi còn rất trẻ: từ năm 1936, trong thời kỳ Mặt trận Dân chủ, anh đã cho ra đời tác phẩm đầu tay “Giang sơn gấm vóc”, viết cho đàn nguyệt. Ca khúc nổi tiếng đầu tiên của anh là Bạch Đằng Giang (lời của Mai Văn Bộ và Nguyễn Thành Nguyên) đã được thanh niên yêu nước thời đó yêu thích. Thời kỳ học ở trường Đại học Y khoa Hà Nội, anh đã sáng tác hàng loạt bài hát yêu nước khác theo thể hành khúc, thúc giục cả một thế hệ trai gái đi theo cách mạng, tham gia các phong trào yêu nước, tiến bộ. Nổi bật nhất phải kể đến Tiếng gọi thanh niên, Lên đàng, Xếp bút nghiên… Trong kháng chiến chống Pháp, anh hoạt động ở chiến khu Việt Bắc, cho ra đời rất nhiều ca khúc cách mạng như: Ca ngợi Hồ Chủ tịch (1947), Tuổi 20, Đông Nam Á châu, Hồn tử sĩ. Những bài hát nổi tiếng nhất khi anh sáng tác tại chiến trường B phải kể đến Giải phóng miền Nam (1961 – sáng tác khi còn ở Hà Nội), Bài ca giải phóng quân (cùng với Hoàng Hiệp), Tiến về Sài Gòn (1966), Tình Bác sáng đời ta (năm 1969, sau khi Bác mất). Nhiều ca khúc của Lưu Hữu Phước đã trở thành những “bài ca chính thức” của một số đoàn thể hoặc của cả nước, như: Tiếng gọi thanh niên – ca khúc mà nhiều năm liền chế độ phản động tay sai của Pháp và Mỹ dùng làm quốc ca để dễ bề mị dân; Lãnh tụ ca (lời Nguyễn Đình Thi), Hồn tử sĩ, Giải phóng miền Nam…

Ngoài các ca khúc, Lưu Hữu Phước còn sáng tác cả ca cảnh như: Hội nghị Diên Hồng, Tục lụy (nhạc cho kịch bản Thế Lữ); viết lý luận âm nhạc như cuốn Âm nhạc là vũ khí đấu tranh, Lịch sử âm nhạc Việt Nam.

Trần Quân Ngọc
(Nguyên thư ký của Đồng chí Đỗ Mười)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 519

Ý Kiến bạn đọc