Truyện ngắn

Đổi thay

Tình Cờ Sắp Xếp Mớ Tài Liệu Cũ Tôi Gặp Được Truyện Ngắn Này Từ Lâu Đã Bị Bỏ Quên. Truyện Viết Vào Năm 1966, Tính Đến Nay (2019) Đã 53 Năm. Truyện Kể Cô Tám Rời Quê Từ Miền Trung Với Người Bạn Gái Tên Dậu Để Vào Sài Gòn Sống Nghề Ở Mướn Từ Năm 1965. Ban Đầu Hai Người Tá Túc Tại Nhà Của Anh Tư Lum, Làm Nghề Xích Lô, Để Kiếm Việc Làm. Sau Khi Đã Có Việc Làm, Chị Em Sống Xa Cách Nhau. Trên Một Năm Sau, Cô Tám Quay Lại Cảnh Cũ, Thăm Những Người Quen.

Truyện Chỉ Nói Về Đôi Sự Đổi Thay Ở Trong Cuộc Sống Người Dân Dưới Thời Ngụy Quyền.

 

Tôi vào cái ngõ xưa ấy thấy khác lạ hẳn vì nhiều nhà cửa đã đợc xây cất, sửa sang, nhưng vào đến nhà anh chị Tư Lum tôi thấy mấy người lạ hoắc đang ngồi đánh bài. Anh Tư đâu có thích chuyện bài bạc. Tôi nhớ ngày ở nhà anh, thỉnh thoảng nói đến cờ bạc là anh chửi bới, coi đó là bọn ăn không ngồi rồi, chủ trương móc túi lẫn nhau. Vậy sao bây giờ lại có sòng bài ở chính giữa nhà? Hay là anh Tư đã đổi đời rồi? Thói thường vẫn vậy, mình ghét của nào trời lại hay trao của ấy.

Tôi ỷ là chỗ quen biết, bước thẳng vô nhà, nhưng không nhìn thấy anh chị Tư đâu. Mấy đứa con nít, cũng không gặp nữa. Tôi đang ngơ ngác thì một người đàn ông hỏi:

- Cô muốn hỏi ai?

- Dạ hỏi anh chị Tư Lum.

- Coi kìa. Tư Lum nào ta?

Ông có vẻ tìm kiếm trong trí nhớ, nhưng hình như anh chị Tư không có trong đầu óc ông. Một người ngồi ở chỗ cửa bảo tôi:

- Chắc là cô lầm nhà rồi.

- Dạ không, hồi trước tôi có ở đây.

- Hồi trước là hồi nào?

- Dạ trên một năm nay rồi.

- Chèn ơi! Một năm nay rồi? Cái anh Tư Lum nhà cô bây giờ chạy xích lô máy đến tận bên Tây, bên Tàu kia lận. Nói cho cô biết: giả dời chỗ khác lâu rồi. Nhà này giả bán cho bọn tôi đây từ khuya.

- Dạ ảnh đi đâu, bác có biết không?

- Làm sao mà biết? Ở Sài Gòn này đi mà không nói địa chỉ là kể như lúa. Tìm đâu có ra. Mà cô bà con thế nào với anh Tư?

Thiệt ra tôi đâu có bà con với anh Tư Lum. Tôi chỉ quen biết qua con Dậu thôi.

- Dạ cũng là chỗ quen biết với ảnh.

- Quen biết ra sao?

Hỏi nghe kỳ quá. Quen biết thế nào thì kệ người ta, mắc mớ chi hỏi như là tra gạn để mà bắt tội không bằng. Đáng lẽ tôi không thèm trả lời họ, nhưng nghĩ mình còn nhờ họ, biết đâu, nên đành nén giận:

- Dạ, cũng người trong một làng.

Một gã coi bộ lí lắc, lặp lại:

- Một làng… một làng…

Rồi cười một cách khả ố để hướng người ta chú ý vào cái dụng tâm của gã muốn hiểu tiếng đó theo lối nói lái. Tôi giận quá, đi một mạch. Ra đến đầu ngõ tôi sực nhớ lại con Dậu, không biết bây giờ nó còn ở chỗ cũ không. Từ đó đến giờ cũng quá lâu rồi, chắc gì nó còn ở mãi chỗ này, nhưng tôi cũng cứ đánh liều vào hỏi thử coi. Bà chủ nhìn tôi, ngắm nghía rồi nói:

- Ở đây làm gì có Dậu, có Dần!

À, thì nó được đổi tên rồi, tên Hoa hay là tên Tuyết gì đó, mà tôi quên mất. Tôi trở ra, buồn lòng quá. Bây giờ tôi gần như sống một mình tại Sài Gòn này. Mấy lâu tuy không gặp lại vợ chồng anh Tư hay con Dậu nhưng cứ nghĩ họ còn ở đâu đó và thấy yên lòng. Bây giờ tìm không gặp họ, tôi thiệt lo lắng, tưởng như họ đã bỏ mình mà đi mất rồi. Tôi cứ thơ thẩn dọc theo hè đường, trong lòng mong mỏi biết đâu lại không gặp gỡ con Dậu cũng đang lang thang tìm mình. Nhưng ở Sài Gòn có khi đi suốt cả năm cũng chưa dễ tìm gặp được người thân. Tôi đang ngơ ngẩn bỗng nghe tiếng xích lô máy nổ giòn, rồi một cái xe đậu ở trước mặt. Tôi ngước nhìn lên bỗng thấy anh Tư cũng đang trợn mắt nhìn tôi. Tôi bỗng hú lên, chưa kịp nói gì anh đã la lớn:

- Trời đất! Cô Tám! Đi biệt đó nghe. Chớ ở đâu đây mà thả bộ vậy?

- May quá, anh Tư! Tôi vừa lại tìm anh đây.

- Đâu còn ở chỗ đó nữa. Dời qua bên Khánh Hội rồi. Ở đó chật quá, cho xe ra vô cứ đụng nhằm bà con hoài. Bây giờ cô Tám đang ở đâu vậy?

- Cũng ở khu Bàn Cờ này. Ở tạm nhà một người quen.

- Chớ không đi làm đâu sao?

- Có chớ. Nhưng mới nghỉ đây, tính kiếm chỗ nào khá khá mà mần.

- Bây giờ Mỹ kéo qua đông, đi ở mà có thớ nghe.

- Thôi đi, anh ơi! Đi ở mà thớ thớt gì. Tôi muốn tìm gặp anh chị hay con Dậu hỏi thăm tin tức ngoài nhà.

- Tại cô đi biệt luôn chớ. Đâu có thèm đến hỏi thăm bà con.

- Anh tính, đi ở mà có rảnh đâu. Anh còn có ngày chủ nhật hay anh muốn nghỉ lúc nào tùy ý. Còn mình đi ở, không ai muốn cho mình được nghỉ hết. Đâu cũng lê lết mà làm. Cực thấy mồ tổ.

- Cực gì. Coi cái con Dậu, bây giờ nó sướng thấy bà.

- Làm gì mà sướng?

- Bán ba, lấy Mỹ.

- Thôi đi. Ngon lành gì đó.

- Đời bây giờ mà. Có tiền là giải quyết hết.

- Chà, lâu ngày mới gặp lại anh, nghe anh đổi giọng, ngộ quá.

- Đổi giọng gì cà?

- Trước kia anh chửi ba đứa chạy theo đồng tiền, không kể gì đến danh dự, bây giờ anh mở miệng ra là khen đĩ điếm rùm beng.

- Cứ ngó tôi đây thì biết. Chạy theo đồng tiền bất chính đâu có lam lũ như vầy.

- Chớ tại sao đứng đó mà khen đĩ?

- Thì nói mà chơi. Coi thử cô Tám có ham hay không.

- Còn lâu. Nếu tôi có ham thì tôi không còn đi ở như vầy.

- Tôi chịu vậy đó. Cô tính, bây giờ thiếu gì việc chạy ra tiền mà tôi đâu có thèm ham. Bộ mình nuốt vô rồi không mắc nghẹn sao chớ? Nó xấu hổ đến đời con, đời cháu kia lận. Mình cũng không thể muối mặt mà sống trên đời.

- Mà con Dậu ở đâu rồi?

- Nó ở đường Phan Thanh Giản, gần dưới Đa Kao. Tôi biết chỗ nó nhưng tôi không đến.

- Sao anh không đến?

- Thì không thèm đến. Bởi tôi không ưa.

- Sao lại không ưa?

- Cái đó, cô biết quá rồi. Giả bộ hỏi hoài. Không riêng gì Mỹ mà lấy ngoại quốc là tôi không chịu.

- Nói nghe hẹp hòi quá cỡ. Nếu họ mà tốt thì sao lại không lấy được?

- Coi chừng lý lẽ của cô đó nghe. Biết đâu mà nói tốt xấu? Kẻ nào muốn đi lấy Mỹ thì nói nó tốt, chớ có bảo nó xấu đâu. Tôi thì cho lấy ngoại quốc là bậy tuốt hết. Người mình thiếu cha chi đây mà không chịu lấy, lại đi lấy bọn nước ngoài? Rồi đi theo nó về làm tôi mọi cho nó, chớ được cái gì.

- Thôi, chịu phiền chỉ dùm nhà nó cho tôi tới coi. Tôi cần gặp nó để hỏi chuyện nhà một chút.

- Ngồi lên xe đây, tôi chở đi cho.

Tôi leo lên xe anh Tư, anh rồ máy rồi cho chạy như bay làm tôi ngộp quá. Tôi chưa bao giờ ngồi xích lô máy, thấy nó như cứ đưa mình vô các đầu xe qua lại, thiệt sợ hết hồn. Kể mát thì không có thứ xe nào mát bằng, nhưng coi nó chơi vơi quá, cứ ngồi cách này rồi không biết chầu ông bà lúc nào.

Quanh quẩn một lát anh Tư dừng xe trước một ngôi nhà thật cao bên đường, có lưới rào kín như lồng nuôi khỉ trong vườn bách thú. Anh nói:

- Nhà con Dậu đó.

Tôi leo xuống xe, bảo anh:

- Đi vô chơi đi.

Anh Tư lắc đầu:

- Cô Tám vô đi. Tôi không vô đâu.

- Thì vô một chút rồi ra.

- Thì vô rồi ra chớ mình ở luôn trong đó sao được. Nhưng tôi không muốn. Xưa nay tôi có hồi nào vô đâu. Tôi biết nhà nó vì gặp nó đi với cái thằng chồng có mắt ve chai với tóc râu bắp ở đây hoài hoài. Nó cũng có gởi địa chỉ đến nhà bảo vợ chồng tôi đem lũ con đến thăm chơi cho biết. Biết cái quỷ gì! Tôi đâu có thèm.

- Nhưng anh với nó cũng chỗ anh em.

- Anh em thì anh em chớ. Bây giờ nó đã làm đĩ mà cũng bắt tôi nhận là bà con với nó hay sao? Cô cứ vô gặp nó đi. Hỏi chi thì hỏi rồi ra, tôi chờ.

- Phiền anh Tư quá.

- Không phiền khỉ khô gì hết. Bắt tôi vô nhà con đó tôi còn phiền hơn.

- Được rồi, tôi vô là tôi ra liền.

- Nhớ đó. Ở lâu trong đó thằng chồng con Dậu nó về nó dám đớp luôn.

Tôi vừa quay đi, ảnh đã kêu lại:

- Cô Tám!

- Dạ?

- Nhớ đừng nói tôi ở ngoài này nghe? Nó biết nó chạy ra nói xí lô xí là, tôi chịu hết nổi. Tôi lại đằng ngã tư kia tôi chờ cô nghen. Ngồi ở trong tiệm nước đó. Đứng đây nó lại nói mình chực đặt “lát-tít” cho nổ nhà nó thì nguy.

So-550--Xuan---Pham-Hoang-Thuan-Nhan---Anh-1
Xuân – sơn mài – Phạm Hoàng Thuận Nhân.

Tôi cười, quay đi, ảnh lại gọi nữa:

- Này, cô Tám…

- Dạ?

- Nhớ đừng hỏi tên con Dậu, chẳng ai biết đâu, mà nó cũng không chịu tiếp. Con Dậu chết đã lâu rồi. Bây giờ nó là Ngọc Nhung, Ma-ri Ngọc Nhung, nó có đề tên trong cái danh thiếp gởi tôi bữa trước.

Tôi quay vô, lẩm nhẩm cái trên Ma-ri Ngọc Nhung. Tên gì mà dài quá cỡ. Cứ gọi là Dậu có phải dễ nghe hơn không. Tôi tới chỗ cửa, bấm chuông. Tôi bấm nhẹ nhẹ, sợ hư cái chuông người ta. Chỉ nghe có một tiếng reng yếu ớt bên trong rồi im. Tôi lại bấm nữa, chờ đợi một lát có một cô từ bên trong chạy ra, nhìn tôi qua khe cửa hở với một vẻ mặt xoi mói rồi hỏi:

- Muốn gì?

- Tôi hỏi con Dậu…

Tôi bỗng sực nhớ là mình lỡ miệng, vội vàng khỏa lấp:

- À, tôi muốn hỏi thăm bà chủ… bà Nhung.

Cô ta lé mắt lại để nhìn tôi với vẻ dò xét. Rồi hỏi:

- Xin vô làm hả?

Tôi lắc đầu:

- Không.

- Vậy hỏi bà chủ làm gì?

- Hỏi thăm chút chuyện.

Cô ta lại liếc nhìn tôi, có vẻ soi mói. Tôi bảo:

- Nhờ cô cứ vào nói với bà chủ có tôi là Tám đến thăm.

- Chờ đó một chút.

Nói xong, cô ta quay vào, không chịu mở cửa. Tôi đứng đợt lát lâu, bực tức muốn đi chỗ khác, nhưng cố dằn lòng đợi xem thế nào. Rồi cô ban nãy chạy ra, mở cửa. Tôi hỏi:

- Sao đó?

- Mời vô. Bà chủ đang đợi ở trên lầu.

Tôi đi theo cô ta vào trong một căn phòng rộng, trải thảm với những cửa sổ sơn phết đủ màu. Có một cầu thang láng bóng dẫn lên tầng trên.

Tôi đi rón rén, cứ sợ chân mình làm dơ nhà cửa của họ. Tới lầu trên rồi, cô ta gõ cửa, bên trong có một tiếng nói uốn éo:

- Mời vào.

Cô ở đẩy cửa để tôi vào trong, rồi khép lại ngay. Tôi đứng trước một căn buồng bày biện sang trọng, con Dậu đang ngồi dựa ngửa trên ghế, hút thuốc phì phèo. Tôi đang lưỡng lự không dám bước tới vì thấy bỡ ngỡ trước khung cảnh đó thì con Dậu đã cười toét đưa tay vẫy tôi, nói lớn:

- Cơm he!

Tôi nói:

- Cơm với nước làm chi. Tôi ăn no rồi.

Nó bèn la lên:

- Mình nói tiếng Mỹ đó mà, Cơm he (1) nghĩa là lại đây.

Tôi biết mình lầm, mắc cỡ hết sức. Nó hỏi:

- Sao mà Tám ngơ ngác vậy? Lâu nay làm ăn ở đâu mà không nghe tin tức gì ráo trọi? Kìa, ngồi xuống đi. Ngồi dựa vào đó cho khỏe.

Tôi ngồi xuống, ngắm nhìn con Dậu, thấy không còn chút gì là cái con Dậu ngày xưa. Nó thấy tôi chăm chú nhìn, có vẻ đắc ý, hỏi liền:

- Sao đó, mình lạ quá hén?

- Ừ, lạ hoắc.

- Sao đi đâu một lèo vậy?

- Đi ở.

- Quỷ thần ơi! Vẫn còn đi ở sao ta?

- Thì biết việc gì mà làm nữa đâu?

- Ối giời! Bây giờ thì có một ngàn công việc. Sở Mỹ cần người mà lại lương cao.

- Mình đâu có biết tiếng Mỹ mà vô đó làm.

- Tiếng Mỹ dễ ợt. Học đôi tuần lễ là nói như chơi. Tám muốn học không, mình chỉ chỗ cho. Bây giờ ở Sài Gòn này người ta mở dạy tiếng Mỹ thực hành, tiếng Mỹ cấp tốc có thiếu cha gì.

- Thôi đi.

- Dại quá.

- Biết đâu mà nói dại khôn. Này, tôi đến hỏi bà một ít tin tức ngoài nhà.

- Thì hãy nói chuyện chơi đã. Lâu ngày mới gặp. Này, dẹp cha cái nghề đi ở thôi nghen. Khốn khổ thấy tổ mà còn bị coi rẻ nữa. Lấy một thằng Mỹ thì có khối tiền.

- Sợ lắm.

- Sợ cái quỷ gì. Ờ thì ban đầu coi nó cũng gớm, nhưng riết rồi thành quen đi. Mà nó tướng bộ ngó hì hợm vậy chớ sợ đàn bà lắm nghen.

- Thôi đi.

- Mình nói thiệt đó. Nếu Tám không chịu bọn Mỹ thì mình kiếm cho một thằng Đại Hàn.

- Chịu thôi.

- Đại Hàn nó kiết thấy mẹ. Ưng phắt một thằng Phi đi. Bọn đó coi lù khù vậy chớ biết xài lắm.

- Thôi mà. Ai có tìm chồng tìm con chi mà rủ rê hoài vậy? Cho biết chuyện ngoài nhà với.

- Ngoài nhà đều mạnh khỏe hết.

- Mẹ tôi ra sao?

- Thì cũng vậy đó. Làm ăn ngủ nghê, ăn ngày ba bữa, tắm rửa một lần.

- Còn chị Sáu tôi?

- Chị Sáu còn ở với bả. Nghe nói người chồng bị thương được giải ngũ rồi.

- Bị thương ra sao? Có nặng lắm không?

- Nhè nhẹ vậy đó.

Tôi nghe thấy cũng khỏe dạ. Gia đình tôi vậy là yên. Con Dậu nói tiếp:

- Bây giờ ngoài Trung mình bết bát lắm. Miền quê thì đánh đá dữ, ở đâu có yên. Nghe nói bả với chị Sáu kéo ra Đà Nẵng, không biết đi chưa.

Ủa, vậy mà cứ tưởng là không có việc gì cả, đâu đó bình an hết rồi. Tôi nói:

- Trời đất! Ra ngoài Đà Nẵng rồi ở nơi đâu?

- Hứ, khéo lo. Như tụi mình đây kéo vô Sài Gòn rồi cũng có nhà, có xe, chớ bộ.

Tôi định trả lời là tôi đâu có thứ gì, chỉ trơ một cái mạng mộc. Còn biết bao nhiêu người nữa vào đất Sài Gòn mà có giàu được chút nào đâu, lại còn đeo thêm biết bao tật bệnh. Mẹ tôi mà ra Đà Nẵng thì có khác gì tôi vô Sài Gòn? Nhưng có vợ chồng chị Sáu tôi cũng đỡ lo. Tôi hỏi:

- Làm sao mà liên lạc về ngoài đó? Mình muốn biết rõ mẹ mình ở đâu để gởi lời thăm.

- Được rồi. Để mình bảo thằng Tôm-xông nó hỏi thăm cho. Nó dễ sai lắm. Bảo chi nghe nấy.

So-550--Anh-minh-hoa---Doi-thay---Anh-1

Con Dậu có vẻ hiu hiu tự đắc về thằng chồng nó.

- Thôi, có ai về nói dùm với mẹ tôi với lại chị Sáu là tôi được mạnh khỏe nghe. Hỏi giúp địa chỉ, tôi sẽ gởi thơ.

Rồi tôi đứng lên. Con Dậu trợn mắt:

- Ủa, đi đâu bây giờ? Ngồi lại chơi đã.

Tôi định trả lời là sợ anh Tư Lum chờ. Nhưng nhớ lời anh đã dặn đừng cho con Dậu biết anh ở ngoài nên tôi làm thinh.

- Mình về. Kẻo chiều quá rồi.

- Ở lại chơi đi.

- Thôi để khi khác.

- Bây giờ Tám ở nhà nào?

- Không có nhất định đâu hết. Mới nghỉ việc mà.

- Nhưng cũng phải ở một nơi nào chớ?

- Thì ở lông bông vậy đó.

- Cứ ở lại đây một vài hôm đi. Mình dành cho một căn buồng, đầy đủ tiện nghi. Coi nhà của mình như nhà của Tám. Miễn là đừng có dùng lộn thằng chồng của mình là được.

Tôi nghe đỏ mặt. Không ngờ nó lại ăn nói kỳ cục như rứa. Giận quá, tôi nói:

- Tôi về.

Rồi tôi lui ra.

Nó cười:

- Ê! Nói giỡn đó mà.

- Giỡn cái gì mà lạ vậy?

- Thì giỡn một chút cho vui chớ lạ quen gì.

- Vui với quỷ nà!

- Coi! Vậy mà đã giận sao ta? Kiểu đó thì ở Sài Gòn đâu có chịu nổi.

Nó làm như ở Sài Gòn chỉ có những người như nó mà thôi. Sài Gòn cũng có nhiều hạng, nhiều lớp, cũng có ba bốn kiểu cách Sài Gòn.

- Tôi về.

- Thôi mà. Mời mọc cũng không thèm ở hả bồ?

Tôi định lặng lẽ bước ra, nhưng nhớ nó còn có thể giúp tôi biết thêm tin tức ngoài nhà nên đành làm vẻ cầu hòa.

- Vài hôm nữa tôi sẽ ghé lại thăm.

- Nhớ đến nghe không? Đừng có giữ hoài cái bộ nhà quê, coi không có được.

Rồi nó đứng lên, bấm vào cái chuông nơi cửa. Cô gái ban nãy hiện ra:

- Bà chủ gọi gì?

- Mày đưa cô ấy cổng.

- Dạ.

Cô ở theo tôi với một vẻ mặt lạnh lẽo, có ý không được vừa lòng vì phải tiếp đón một người chẳng sang trọng gì.

Tôi ra khỏi ngõ, cảm thấy nhẹ nhàng. Kể như là tôi đã mất con Dậu. Cái thành phố này đã cướp của tôi một người bạn quen, một người cùng xóm, cùng làng. Nhớ ngày mới vô Sài Gòn, tôi ngủ với nó, nó lấn tôi ra ngoài mùng để choán cái giường, tôi đã bảo nó sớm học cái thói ích kỷ, vậy mà nay đã rõ ràng. Nó đã chạy theo đồng tiền để lo cung cấp cho sự đua đòi xa xỉ mà quên nhân cách. Thiệt là xấu hổ.

Tôi vội đi đến cái quán ở ngã tư đường. Anh Tư đang lùa hủ tiếu, dừng lại hỏi tôi:

- Có gặp nó không?

- Có.

- Nói chi mà lâu quá vậy?

- Có nói chi mô. Hỏi qua tin tức ngoài nhà vậy thôi.

- Cô tính, mình ngồi trong quán người ta lâu quá mà uống có mỗi cái cà phê nhỏ, coi đâu có được. Phải gọi một tô hủ tiếu để có chỗ ngồi.

Rồi không hỏi tôi, anh gọi người chủ:

- Cho một tô nữa, mau nghen.

Và quay sang tôi:

- Ngồi xuống, xực một tô đã rồi tôi đưa về.

- Cám ơn, tôi còn no lắm.

- Thôi mà, no với đói gì. Ở Sài Gòn này lúc nào cũng ăn, cũng uống được hết. Không có no đói gì ráo. Tôi gọi rồi mà.

- Thiệt làm phiền anh Tư quá. Bắt anh chờ chực mất hết rước khách lại còn ăn uống đãi đằng.

Anh Tư bật cười hô hố:

- Bá láp! Đãi cái con quỷ gì đây mà đãi. Ăn bậy một tô hủ tiếu chứ đãi đằng gì. Nay mai có dịp tôi đưa cô lên Đồng Khánh rồi đãi. Còn nghề của tôi thì cô đừng lo. Thỉnh thoảng cũng phải vô quán kéo ghế chớ chạy riết ở ngoài đường chịu đâu có nổi. Đừng nói hai tiếng “làm phiền” nghe nó kiểu cách quá sá. Thôi, ăn đi cho nó nóng sốt. Rồi kể cái chuyện con Dậu nghe chơi. Con đó bây giờ nó thành tinh rồi chớ chẳng vừa chi.

Tôi kể lại cuộc gặp gỡ vừa qua cho anh Tư nghe.

Đang ăn, anh la:

- Vậy là kể như chấm dứt cuộc đời con nhỏ đó rồi. Bết quá, can đâu có nổi.

- Nhưng anh có can đâu mà nổi với không.

- Sao lại không can? Tôi nói ban đầu nó không chịu nghe, tôi phải chửi toáng cả lên. Thiếu điều tôi phải đánh nó nữa đó. Nhưng con người ta là vậy, khi đã mê muội chạy theo cái gì thì lời nói phải đâu có ăn thua cái con mẹ gì.

Tôi nghĩ dầu sao con Dậu cũng thật đáng thương. Nó trẻ, nó nghèo, lại không có cha mẹ dẫn dắt nên nó ham ăn, ham diện, đâu có nghĩ xa nghĩ gần. Anh Tư thì ảnh nóng quá, cựa là chửi ào như tạt nước sôi. Chẳng có chữa trị được ai.

Bây giờ ảnh có vẻ buồn, không muốn nói năng gì nữa. Ăn xong, anh bảo tôi ngồi lên xe xích lô rồi đưa tôi về. Nhà anh bây giờ nằm trong cái hẻm rộng hơn và ở một chỗ thoáng, mát. Chị Tư coi bộ cũng khá hơn xưa, mập mạp, hồng hào. Trong nhà có cái tủ lạnh, cái ra-đi-ô, một bàn máy may và một tủ chè nằm giữa lóng lánh ly tách. Anh chị Tư Lum coi bộ thỏa mãn về nhà của mình nhiều lắm. Chị nói:

- Nghe nói rồi đây sắp có tàng hình. Mình phải lo mua một cái cho con nó coi.

Anh Tư nheo mắt, hỏi vợ:

- Cái gì?

- Tàng hình. Thì hôm trước mình nói đó.

- Truyền hình chớ tàng hình gì, bà ơi! Còn lâu mới tàng hình nổi.

- À triền hình, vậy mà tôi nói cứ lộn lịu hoài.

Tôi hỏi:

- Nó ra làm sao hả chị?

- Không biết. Đã có thấy đâu mà biết. Nghe nói ai làm giống gì thì nó hiện hình lên liền. Mình cứ ngồi nhà coi họ đá banh, đánh giặc, khỏi đi đâu hết, mỏi chân

- Vậy coi cái gì cũng được cả à?

Chị Tư có vẻ thành thạo:

- Chớ sao! Cái gì coi cũng được hết.

- Vậy thì nó phải to lắm.

- Bây nhỏ thôi mà…

Chị đưa tay chỉ khay trà trên bàn có úp mấy cái ly Nhật vẽ bông lấm tấm.

- Trời! Coi nhỏ quá há!

Anh Tư đang ngồi hút thuốc, quay sang:

- Này, tôi xin can. Chưa thấy thì đừng nói ẩu. Ở đây coi vậy chớ linh lắm nghen. Nói ẩu ông bà vật chết.

Chị Tư nổi giận:

- Nói gì mà ẩu?

- Nói chuyện cái… tàng hình đó. Có phải cái gì vặn cũng thấy đâu. Người ta chụp cái cảnh nào thâu vô thì mới có hình, chớ phải muốn coi cái gì cũng được cả đâu. Đây là cái máy huyên triền vậy mà. Cái ra-đi-ô là máy huyên triền bằng lời, còn nó là máy huyên triền bằng lời với bằng hình ảnh. Sợ nghe huyên triền lâu quá thấm mệt, người ta thỉnh thoảng cũng chớp đá banh, đá bóng cho mình coi chơi. Mà phải có ngày, có giờ, chớ dễ gì mà lúc nào cũng coi được đâu. Đó là chưa kể muốn khoe đầy đủ mặt mũi trên cái “tàng hình” mà bà vừa nói thì phải là bọn có thế, có lực hoặc có tiền túi bộn bộn chi dô mới mong lọt được trong cái ổ đó.

Anh Tư nói bằng cái giọng thành thạo kiểu khác. Anh làm như không để ý gì đến cái thứ máy đó, và anh là người hiểu hết mọi sự. Vợ chồng của họ bây giờ chỉ thấy bàn soạn toàn những chuyện gì đâu đâu, tôi nghe xa lạ quá chùng.

Tôi hỏi:

- Con Dậu nói bà con mình kéo ra Đà Nẵng, vậy anh chị có hay tin gì chưa?

Anh Tư gật đầu:

- Có. Nhưng đâu phải ai cũng kéo ra thành phố. Kéo hết ra ngoài đô thị, lấy gì mà ăn, chỗ đâu mà ở. Chỉ có mấy vùng đánh đá dữ dội, người ta mới phải bắt buộc chạy đi.. Nhất là mấy vùng ven biển, bọn lính Đại Hàn gặp ai cũng giết. Có nơi bọn chúng chặt đầu cả xóm. Cái bọn sao mà độc ác quá cỡ.

Chị Tư cải chính:

- Thì đâu cũng có kẻ ác, người thiện, chớ bộ ác hết hay sao?

Anh Tư trợn mắt:

- Nói huề cả làng như vậy là nghe không được rồi đó.

- Sao nghe không được?

- Ác thì nói ác, chớ mắc mớ gì mà bênh?

- Ai hơi đâu mà đi bênh! Nói nghe thiệt là kỳ cục.

- Ừ, thì kỳ cục. Cứ cái điệu đó rồi thì sẽ đi một lèo với bọn con Dậu cho coi.

- Đừng có nói ẩu đó nghen!

- Ẩu gì mà ẩu?

Tôi can:

- Thôi mà, có gì mà anh chị cãi nhau.

Anh Tư hậm hực:

- Phải rồi, chẳng có cái khỉ chi hết mà cũng cứ cãi nhau hoài. Bộ hồi mua cái nhà này tôi không coi hướng hay sao mà cứ lục đục không lúc nào yên.

Chị Tư hì một tiếng lớn:

- Hướng với hiếc gì! Làm ăn mới có đồng vô đồng ra là sanh sứa rồi.

Anh Tư sừng sộ:

- Sanh sứa điều chi?

- Điều chi thì biết. Lựa còn phải hỏi!

- Tự dưng đặt chuyện này nọ, nghe thiệt lãng nhách.

- Đúng rồi, tôi đây lãng nhách, người ta mới là đằm thắm mặn mòi.

- Đừng có nói bậy đó nghe. Người ta nào, hở? Người ta nào?

- Nói đúng chớ không có nói bậy đâu.

- Đúng cái gì? Chỉ có ghen bậy, ghen bạ rồi nói mờ ớ, lộn xộn!

- Không biết ai lộn xộn đó.

- Ừ, phải rồi. Có ai say rượu mà nhận mình là say đâu.

- Nhằm quá.

- Nhằm cái mốc xì.

- Đừng có nói hỗn đó nghe. Ra đường ăn nói ngọt ngào với người thiên hạ, bộ hết lời rồi nên về nói hỗn với vợ con sao?

- Nói hỗn cái gì?

- Mở miệng là mốc xì, khỉ khô, là bậy bạ, lộn xộn. Làm như mình tốt đẹp lắm. Úi chao!

- À, nói gì thì nói chớ đừng giở giọng xóc hông mà chọc tui nghe.

- Ai mà thèm chọc.

Tôi nghe vợ chồng họ hục hặc nhau mà phiền, nói qua nói lại, lãng nhách. Vợ nói không ra điệu vợ, chồng nói không đúng cách chồng. Xa nhau một dạo, tưởng họ ăn nên làm ra mình cũng mừng dùm cho họ, ai ngờ nghe họ cãi nhau thiệt là chán quá. Vợ thì chỉ muốn khoe của, tưởng đâu sắm được cái tủ lạnh, quạt máy là ngon lành rồi, ngồi đó mơ ước kiếm tiền mua thêm… tàng hình, may thêm áo mới. Chồng thì phè phỡn, tự cho no đủ, có thể tiêu xài dọc ngang, đâu có thua ai, cái gì cũng muốn nếm thử mùi đời cho biết, tưởng hễ có tiền mua tiên cũng được. Không ai còn nghĩ đến ai, nghe nó lục cục, lục cạc, thiệt là bê bối. Tôi nghĩ vợ chồng mà cứ lắng cắng như chó với mèo thì sống với nhau còn vui nỗi gì. Nhưng mèo với chó gừ nhau rồi con nào đi theo hướng con nấy, chớ còn vợ chồng thì phải sống chung một nhà, ngồi chung một mâm, chịu sao cho nổi? Cách này rồi tôi cũng lạy làng luôn, đâu dám lấy chồng.

Vợ chồng anh Tư còn hấm háy nhau, không kể gì tôi đang ngồi ở trước mặt họ. Chắc họ cãi nhau riết thành ghiền, nên chẳng nhìn thấy ai khác. Tôi bèn đứng lên:

- Thôi, chào anh chị.

Bây giờ anh Tư mới chịu kêu lên:

- Thì ngồi lại chơi đã mà, đã nói gì đâu? Lâu ngày không lẽ nghe vợ chồng tôi lục đục rồi đi về sao?

Cái màn lục đục này còn dài mà!

Chị Tư cũng bắt buộc phải lên tiếng:

- Ở chơi, cô Tám. Đi đâu mà gấp quá vậy?

- Dạ, em phải về. Nhà chủ người ta quở trách. Biết nhà anh chị, nay mai em sẽ ghé thăm.

Anh Tư nói liền:

- Nay mai là bao lâu đó? Cô đi một lèo là mấy năm liền.

Rồi anh chặc lưỡi:

- Ở Sài Gòn này ghê thiệt. Chúi mũi, chúi lái làm ăn đâu biết ngày giờ. Quanh đi quẩn lại là coi như mấy năm vèo trôi qua.

Tôi chào, đi ra. Vợ chồng anh Tư chắc cũng thấy được rảnh nợ. Tại thành phố này, khách khứa đến nhà, coi bộ thiên hạ không ưa thích mấy. Ai cũng bận rộn đủ thứ lặt vặt suốt ngày nên sợ kẻ khác đến quấy rầy mình. Bận ăn, bận mặc, bận nhà, bận cửa, bận nghỉ ngơi, bận lo lắng, cái gì cũng làm cho họ rối trí được hết. Cách này thì họ đau tim, đau óc kể đâu cho xiết.

Thơ thẩn ngoài đường, tôi càng thấy buồn bã hơn. Bây giờ trời đã sắp tối. Người ta nhôn nhao, đi lại, ai cũng có nhà để vội tìm về với sự lục đục quen thân, riêng tôi vẫn đi lang thang như kẻ xiêu lạc. Tôi tính đi bộ rồi hỏi lần đường về nhà chị Bê, nhưng có vui chi mà đi như kẻ thất tình? Tôi kêu một chiếc xích lô về xóm Bàn Cờ. Bây giờ thì đã tối mịt. Đèn đường đã sáng.

1966

Vũ Hạnh
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 550

—————————-
(1) Com here: Lại đây.

Ý Kiến bạn đọc