Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Đôi lời trao đổi với ông Lê Thọ Xuân

 

Trong những năm cuối của thế kỉ trước tôi thường xuyên cộng tác với tuần báo Văn Nghệ TP. Hồ Chí Minh, bằng việc gửi in những truyện ngắn dịch từ tiếng Ba Lan. Tuy nhiên, suốt nhiều năm vừa qua việc hợp tác này bị gián đoạn, có lẽ vì tôi đã “kiệt vốn” những truyện dịch thích hợp với Văn Nghệ TP. Hồ Chí Minh. Tôi hy vọng, sắp tới đây việc hợp tác với quý báo sẽ được nối lại. Mới rồi, một anh bạn văn của tôi gọi điện mách rằng, tuần báo Văn Nghệ TP. Hồ Chí Minh vừa in một bài viết về hồi ức “Tôi và làng tôi”. Không có báo giấy, tôi bèn tìm trên mạng và tìm được bài “Lý luận – phê bình tuy thế… cũng hay” của ông Lê Thọ Xuân. Tôi không biết Lê Thọ Xuân là ai, già hay trẻ, nhưng để giữ phép lịch sự và tôn trọng lẫn nhau tôi xin phép được gọi là “Ông Lê Thọ Xuân”. Và dưới đây tôi xin có đôi lời trao đổi với ông về bài báo nói trên, in trên Văn Nghệ TP.HCM, số 554.

Về tác phẩm “Tôi và làng tôi”, tôi xin khẳng định: Trung thực là bút pháp của tôi. Không tô son, không trát phấn. Lẽ dĩ nhiên trung thực nhưng phải sinh động và hấp dẫn. Tất cả những gì tôi viết trong cuốn sách này đều là những sự thật mà tôi là người trong cuộc, tôi là người trải nghiệm, tôi là người chứng kiến. Tôi viết và tôi kể lại những gì tôi tận mục sở thị hồi tôi còn sống ở làng.

So-558--Doi-loi-trao-doi-voi-ong-Le-Tho-Xuan---Anh-1

Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn ông Lê Thọ Xuân đã có bài báo khá dài in trên tuần báo Văn Nghệ TP. Hồ Chí Minh, góp ý cho tác phẩm của tôi. Điều này chứng tỏ ông đã đọc kỹ tác phẩm và tôi lấy làm mừng khi có được một bạn đọc như ông. Những gì ông nói đúng tôi xin tiếp thu. Tuy nhiên, có nhiều điều ông viết không đúng, không trúng, không chính xác, chủ quan, áp đặt, chụp mũ, bới móc, thậm chí vùi dập, nói xấu, không tôn trọng nhau. Dưới đây tôi xin có đôi lời trao đổi:

- Lời giải bài toán quy tắc tam xuất thuận trong cuốn “Tôi và làng tôi” in lần thứ nhất như sau:

4 xã viên . . . . . . . . 36 cây

50 xã viên . . . . . . . X cây?

Giải:

X = 450 cây

Đáp số:

50 xã viên trồng được 450 cây xoan.

Lời giải này hoàn toàn đúng.

Tuy nhiên, trong cuốn tái bản, có lẽ người biên tập muốn thể hiện lời giải chỉ trên một dòng:

X = 50 x 36 : 4 = 450 cây. Nhưng có lẽ do sai sót trong khi đánh máy đã thiếu mất dấu chia (:) sau số 36 nên đã viết là: X = 50 x 364 = 450 cây (Bạn đọc chắc dễ nhận ra sai sót kĩ thuật này).

Như vậy chỉ lần tái bản mới xảy ra sai sót đáng tiếc này, bản in lần đầu không sai. Xin cảm ơn ông Lê Thọ Xuân đã phát hiện và mong bạn đọc lượng thứ.

- Cây bàng tôi kể trong sách có cành là là mặt đất là hoàn toàn đúng với sự thật. Vì chính tôi đã leo lên cây bàng này không phải bằng đường gốc mà bằng đường cành. Tôi đã làm như vậy và tôi kể lại đúng như vậy. Kể cả chuyện tôi đã nằm ngủ trên cây bàng.

- Chuyện tôi đi làm cỏ lúa kể truyện Bỉ Vỏ và các truyện khác là một sự thật. Làm sao tôi lại có thể bịa ra điều này. Xin hãy tin và tôn trọng tác giả. Nhà tôi cách thị xã Thanh Hóa chỉ trên chục cây số, cho nên tôi có nguồn sách như tôi đã kể. Đọc sách, rồi kể lại cho người khác nghe, theo cảm thụ và thu hoạch của mình, đó là chuyện bình thường. Ông Lê Thọ Xuân ơi, tôi làm cái việc “kể chuyện” này hồi tôi học cấp II, tôi còn ở làng, còn sống ở làng thì tôi mới đi làm cỏ lúa. Chứ không phải hồi tôi học cấp III Lam Sơn, càng không phải hồi tôi làm việc tại trường Mỏ – Địa chất Hà Nội, hay hồi làm bí thư Thứ nhất Đại sứ quán Việt Nam tại Ba Lan. Đó là những năm tôi đã thoát ly, không còn ở làng nữa. Tôi xin nhắc lại, tôi kể lại những gì tôi đã làm, đã trải nghiệm. Lại nữa, tại sao anh Hĩm Trí lại không thể khen nhà văn Nguyên Hồng viết truyện Bỉ Vỏ hay. Anh ta khen hay theo nhận thức và trình độ của một người nông dân bình thường thích nghe truyện. Chẳng hạn anh Trí nói: “Làm sao ông ấy lại biết tường tận những chuyện đời éo le và giật gân như vậy nhỉ…”. Đây là những lời khen chân thành, mộc mạc, có cao siêu gì đâu. Anh ấy có nói gì đến “bút pháp” của nhà văn Nguyên Hồng đâu.

- Chuyện chị Lài ở nhà tôi thuộc nhiều bài hát, chẳng hạn bài Sơn nữ ca, là chuyện chẳng có gì lạ. Tôi đã nghe chị hát, và tôi đã “thuộc lây” những bài chị hát. Tôi là người trong cuộc. Nhiều người Thanh Hóa, trạc tuổi tôi, trên tuổi tôi, hồi kháng chiến chống Pháp đã thuộc bài “Sơn nữ ca” (sau này tôi được biết là của nhạc sĩ Trần Hoàn). Ông Xuân có thể đến Thanh Hóa để khẳng định điều này, thông qua những người cao tuổi như tôi. Ông Lê Thọ Xuân ơi, ông đã quá nặng lời, nếu không muốn nói là xúc phạm, khi ông viết: “Có lẽ chương trình “Ca khúc trữ tình” Thúy Nga – Khắc Huề trước được trình diễn ở 51 Trần Hưng Đạo – sau đổi mới – đã được “đầu thai vào chị Lài” ở làng quê Nông Cống rồi”.

- Nhiều địa phương gọi cây đu là “đu tiên”, còn ở quê ông Xuân có thể gọi là “đu dây”. Chẳng sao cả. Tuy nhiên, theo tôi biết, đu tiên là thuật ngữ phổ biến, nhiều vùng sử dụng, tôi không nghe người ta nói “đu dây”. Để được nhìn hình ảnh đu tiên như tôi kể, xin ông vào Google tra từ khóa “đu tiên” ông sẽ đích mục sở thị cây đu tiên nó như thế nào, có đúng như tôi kể hay không. Còn chơi đu có thưởng thì chẳng phải chỉ ở làng tôi mà ở nhiều địa phương khác ở đồng bằng Bắc bộ cũng chơi có thưởng. Ông lại vào Google đi, ông sẽ được đọc nhiều mẩu chuyện chơi đu có thưởng như vậy. Đây là một thí dụ: “Trên một khoảnh đất rộng, sáu hay tám cây tre dài được chôn sâu đủ vững chắc để chịu được sức nặng của hai người cùng với lực đẩy quán tính. Hai cây tre làm cần đu nhỏ, vừa tay cầm được treo ở chính giữa. Lên đu có thể là một hay hai người. Càng nhún mạnh thì đu càng lên cao từ bên nọ sang bên kia, nhiều khi đu bay ngang ngọn đu một vòng. Ở nhiều nơi, người ta còn treo phần thưởng ở ngang ngọn đu để người đu giật giải”. Một thí dụ khác: “Vào ngày mùng 2 Tết ở xã Điền Hòa, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế đã diễn ra lễ hội đu tiên đầy thú vị và hứng khởi cầu cho mưa thuận gió hòa trong năm mới. Những năm trước, lễ hội đu tiên được tổ chức 2 năm 1 lần. Thời gian gần đây, đu tiên được tổ chức thường xuyên vào hàng năm – là lễ hội đầu tiên của tỉnh Thừa Thiên Huế đầu năm mới. Đu tiên ở xã Điền Hòa có nhiều nội dung là đơn nữ, đơn nam, đôi nam nữ. Phần thi hào hứng nhất là đu tiên cặp đôi nam nữ được sự tán thưởng của nhiều dân làng. Một chiếc khăn hồng treo ở độ cao gần phần trên của giá đu nếu được cặp đôi nào đu cao và giựt được thì thắng cuộc (báo Dân Trí). “Ông Xuân viết: “Chơi đu dây cho vui, không có thi, có phần thưởng gì cả. Cái phần thưởng chết người của Lê Bá Thự là một sự ngộ nhận hết mức…”. Thưa ông Xuân, làng ông chơi đu không có thưởng, nhưng làng tôi và những làng khác họ chơi đu có thưởng thì đã sao. Mỗi làng có phong tục, tập quán của mình. Sao lại phải như nhau. Xin đừng nói chuyện “ngộ nhận” ở đây. Tại sao ông lại bắt làng tôi và các làng khác phải giống làng ông là chơi đu không có thưởng. Tôi chả nói thì có lẽ bạn đọc cũng thừa biết.

- Chuyện con đò lao sang sông khi nước lũ mạnh là “chuyện thường ngày ở huyện” mà hồi học cấp II Thiệu Hóa tôi thường nếm trải khi mùa lũ. Những người lái đò chuyên nghiệp họ rất tài giỏi, khéo tay khi lái những chuyến đò như vậy. Tôi và các bạn đồng môn của tôi hồi đó dù có sợ vẫn phải sang đò để không bị mất buổi học. Đoạn mô tả con đò sang sông giữa dòng nước lũ hoàn toàn đúng với thực tế. Chứng kiến và trải nghiệm thế nào tôi kể lại y chang như vậy. Ông Xuân có thể không tin tôi, nhưng các bạn đọc chắc họ tin tôi.

- Chuyện đánh kẹp hay đập lúa. Ở làng ông Xuân cối có thể kê nghiêng. Nhưng ở làng tôi người ta hầu như không kê nghiêng như vậy (trừ khi chỉ có 1 – 2 người đập lúa), mà kê thẳng đứng ở giữa sân, để cho nhiều người có thể tham dự. Là vì thế này: Đêm đập lúa giống như đêm “hội mùa” của nhà tôi và các nhà khác trong làng. Đây là đêm thể hiện rõ nét tình làng nghĩa xóm ở nông thôn. Chẳng hạn, biết nhà tôi hôm nay gặt lúa và tối nay đánh kẹp, thì tối đến các vị đàn ông trong xóm rủ nhau đến giúp nhà tôi, mỗi người một tay, hoàn toàn tự nguyện. Có khi 3 người, có khi 4, 5 người, thậm chí nhiều hơn, đến “đánh kẹp” giúp gia chủ. Và 4 – 5 con người đó đứng vòng quanh chiếc cối đá thủng đít thay nhau đập lúa xuống cối đá, tạo nên những âm thanh “đánh kẹp” nghe rất vui tai, thậm chí sướng tai, đúng như tôi kể trong sách… Sự thật là như vậy. Sau mỗi buổi đánh kẹp giúp đỡ như vậy, chủ nhà thường mời khách ăn xôi hoặc cơm nếp gạo nếp hoa vàng.

- Chuyện quạt lúa tôi miêu tả không sai đâu. Tôi khỏi cần giải thích.

- Tôi đã đi úp nơm hội đồng dưới ao sâu. Tôi là trẻ con, nước đến ngực, nhưng người lớn thì có thể chỉ đến bụng. Thực ra, thích thì đi thôi, vui là chính, chỉ là a dua, là tâm lý đám đông của một thằng trẻ con thôi, chứ người thấp bé như tôi đi úp nơm kiểu này thường ít hiệu quả.

- Ông Xuân viết “Gánh nặng mà phát ra tiếng kêu kẽo kẹt thì vai của Lê Bá Thự không phải bằng thịt, mà bằng tre, bằng gỗ gì đó”. Trong sách tôi viết thế này (trang 240, cuốn tái bản): “… chiếc đòn gánh bằng tre già oằn cong nhịp nhàng trên vai tôi cùng tiếng kêu kẽo kẹt…”. Tôi viết “chiếc đòn gánh oằn cong nhịp nhàng trên vai tôi cùng tiếng kêu kẽo kẹt”, chứ tôi có viết tiếng “kẽo kẹt” phát ra từ vai tôi đâu. Tôi thiết nghĩ, viết như tôi viết ở trên thì người Việt nào chả hiểu. Đây là tiếng kẽo kẹt phát ra khi gánh nặng. Ông Xuân ơi, khỏi nói dài dòng, xin mời ông nghe đoạn ca từ sau đây trong ca khúc “Gợi nhớ quê hương” mà ca sĩ Hương Lan đã thể hiện rất thành công, có sử dụng thuật ngữ “kẽo kẹt” khi gánh lúa: “Ơi ầu ơi dí dầu thương những con đò bên hàng dừa xanh/ thương nhiều chiếc áo bà ba, kẽo kẹt gánh lúa lúc tan chợ chiều…”. Hoặc trong bài thơ “Hay bỏ hết con về quê với mẹ” có đoạn: “Sớm thức dậy gánh lúa về kẽo kẹt bên những rặng tre/ Như mẹ gánh gồng cả tuổi xuân của mẹ…” (Mai Vàng). Và đây nữa, một thí dụ sinh động: “Có lần con để ý, cái đòn gánh của mẹ, mỗi lần mẹ gánh là phát ra tiếng kêu kẽo kẹt trên đôi vai. Đòn gánh còn cong vít xuống bởi sức nặng của hai đầu. Ở giữa đòn gánh là vai mẹ nâng đỡ tất cả. Con thấy thương mẹ, vậy mà chẳng làm được gì (trích bài Đòn gánh của Lê Văn Bảo, báo Văn hóa – Thể thao). Gánh nặng phát ra tiếng kêu kẽo kẹt là như thế đó, thưa ông Lê Thọ Xuân ơi. Đâu phải chỉ mình tôi gánh nặng phát ra tiếng kêu kẽo kẹt.

Trong phê bình, góp ý, mỗi người có cách nhìn, có cách nghĩ, cách mô tả, có chính kiến và lập luận của riêng mình; cho nên nếu có ý kiến khác nhau nào đó thì đó cũng là chuyện bình thường. Điều quan trọng đó phải là những ý kiến xây dựng, chân thành, tôn trọng sự thật, không chủ quan, không áp đặt, không chụp mũ, không vùi dập nói xấu nhau, và phải tôn trọng lẫn nhau. Tôi tôn trọng ông và mong ông cũng tôn trọng tôi.

Tôi không biết ông Lê Thọ Xuân già hay trẻ. Trẻ hơn tôi, cùng trang lứa với tôi hay già hơn tôi. Nếu trẻ hơn tôi, tôi xin chúc ông ngày càng giàu bút lực để có nhiều bài viết hay, ngõ hầu phục vụ bạn đọc, để bạn đọc được nhờ. Còn nếu ông xấp xỉ tuổi tôi hoặc già hơn tôi thì tôi xin chúc ông sống lâu trên 100 tuổi, để cho con cháu được nhờ.

Tôi vốn không thích đôi co. Tôi đã định không viết bài này, nhưng rồi tôi lại viết, để chiều theo mong muốn của ông Lê Thọ Xuân.

Tôi hy vọng, đọc xong bài này bạn đọc sẽ cảm thông và chia sẻ cùng tôi.

Hà Nội, 29/7/2019

Lê Bá Thự
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 558

Ý Kiến bạn đọc