Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Đôi điều trao đổi cùng bác Chu Giang – Nhân đọc loạt bài “Chiến sĩ – Tiến sĩ và Kẻ sĩ”.

Tôi được đọc khá nhiều bài viết của Chu Giang trên Tuần báo Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh, thật tình tôi khá nể nang Chu Giang về học thuật và quan điểm về văn hóa, lịch sử, văn học – nghệ thuật. Nhưng đọc loạt bài “Chiến sĩ – Tiến sĩ và Kẻ sĩ” vừa rồi của bác, tôi hơi ngạc nhiên nên có đôi điều xin được trao đổi.

Tôi chưa được đọc các bài viết của nhà văn Chu Văn Sơn và nhà thơ Đỗ Trung Lai mà Chu Giang đã dẫn, nhưng qua loạt bài này, có thể hiểu rằng nhà văn và nhà thơ này “xem kẻ sĩ là sự tốt đẹp, cao quí, hay hơn tiến sĩ” mà Chu Giang cũng đồng tình như thế nên đã phân tích khá nhiều. Chu Giang đã dẫn từ Khổng Tử, Tư Mã Thiên đến Hồ Chí Minh nói về kẻ sĩ và gán cho “Kẻ sĩ là người trọn đời trọn vẹn lo cho dân, cho nước, vì dân, vì nước”. Tôi e rằng không biết có phải quá đáng không, bởi theo tôi hiểu:

“Sĩ” trong từ “Kẻ sĩ” chỉ là người đàn ông con trai, là học trò, là người có học (chữ) như: Sĩ tử (học trò), bác sĩ (người học rộng), binh sĩ, chiến sĩ (người lính), dũng sĩ (người mạnh mẽ), ca sĩ, nhạc sĩ, họa sĩ, văn sĩ… và “kẻ sĩ” là để chỉ những người có học, khác với học vị tiến sĩ, thạc sĩ… Dĩ nhiên “sĩ” còn dùng với nghĩa rộng hơn như: Danh sĩ, nữ sĩ, nhân sĩ, có khi dùng như một tính từ chỉ phẩm chất con người như “sĩ khí” chứ không phải chỉ là tính từ mang nghĩa ấy. Trước đây (và cả bây giờ) ta thường nghe “Kẻ sĩ Bắc Hà”, “Sĩ phu Bắc Hà” với ý nghĩa tốt đẹp.

Còn “Kẻ” là một từ thuần Việt có nghĩa là người, là đứa tương đối trung tính, chúng ta có thể nói: Kẻ làm quan, kẻ có học, kẻ trên người dưới… Nhưng cũng có: Kẻ cắp, kẻ cướp, kẻ chăn trâu, kẻ ăn mày…

Do đó, “kẻ sĩ” chỉ là “người có học”, người đang học, còn học tới đâu, học để làm gì, phẩm chất như thế nào lại là chuyện khác.

Anh-minh-hoa---Doi-dieu-trao-doi-cung-bac-Chu-Giang-nhan-doc-lai-bai-Chien-si-tien-si-va-Ke-si

Tất nhiên, “người có học”, mà cái học ngày xưa là học theo sách của thánh hiền, ngoài chữ nghĩa còn phải học đạo làm người quân tử “Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” (Tứ thư – Đại học), cho nên kẻ sĩ ngày xưa, mà cả ngày nay cũng vậy đều có khí chất riêng gọi là “sĩ khí”, còn cái chất “sĩ” ấy như thế nào, cao hay thấp, mạnh mẽ hay yếu đuối là tùy từng người, chúng ta không thể so sánh “tiến sĩ” với “kẻ sĩ” được vì hai khái niệm đó khác nhau.

Không biết bác Chu Giang có quá khắt khe không khi cho rằng nhiều “Tiến sĩ” không có thực học bởi cho rằng một viện khoa học mà đào tạo 700 tiến sĩ trong vòng 2 năm. Cá nhân tôi thì thấy điều đó không có gì là lạ, là không thực chất, bởi tôi cũng có quen với một số người đã và đang làm luận án tiến sĩ trên lĩnh vực khoa học xã hội, nhân văn, đồng thời cũng có quen với một số người “ngồi hội đồng” để chấm tiến sĩ. Tôi biết những người được gọi là nghiên cứu sinh khi nghiên cứu để làm luận án thì hết sức khổ sở và đặt hết tâm huyết vào đề tài của mình nghiên cứu, họ tra cứu tài liệu, đọc không biết bao nhiêu sách rồi phải học thêm từ những nhà nghiên cứu, từ người dân bình thường để có cái mới trong luận án của họ. Thời gian một người làm luận án tiến sĩ phải mất vài ba năm chứ đâu phải chỉ 1 ngày. Còn các thành viên hội đồng chấm luận án thì phải đọc, thẩm định ít ra là một tuần lễ cho một luận án. Các vị có trách nhiệm phản biện thì chắc phải tốn nhiều thời gian hơn. Dĩ nhiên, với trình độ của những chuyên gia, các vị này không đọc chậm như chúng ta. Tôi biết một số vị giáo sư hay ngồi hội đồng, tiếp xúc các vị trong cuộc họp hay nói chuyện bên ngoài thì thấy trình độ của họ vô cùng “uyên bác” (ít ra là đối với tôi), về chuyên môn, lĩnh vực mà họ phụ trách thì phải nói là “uyên thâm”, họ có thể chỉ ra cái sai, cái đúng rất chính xác và nhanh chóng. Tuy giỏi, sức làm việc nhiều nhưng mỗi vị cũng chỉ thẩm định chừng mươi, mười lăm công trình, luận án mỗi năm là cùng. Mà một viện thì có không ít chuyên gia, hội đồng chấm tiến sĩ cũng không phải chỉ là người ở trong viện. Thêm nữa, các viện thuộc lĩnh vực khoa học xã hội nhân văn không phải chỉ có một ngành, mỗi ngành không phải chỉ có một bộ môn và mỗi bộ môn không phải chỉ có một người có đủ trình độ thẩm định. Vậy thì theo tôi, “Viện nào đó” mà đào tạo 700 tiến sĩ trong vòng 2 năm cũng không phải là điều bất bình thường.

Nói cho cùng, học vị tiến sĩ cũng chỉ xác định trình độ nghiên cứu khoa học, khả năng nghiên cứu, còn thiên tư nghiên cứu, sáng tạo lại là chuyện khác. Thí dụ ta có thể có tiến sĩ văn chương, nhưng tiến sĩ văn chương ấy có là nhà văn, nhà thơ không thì rất là khó nói. Tôi có một người bạn dạy học, sau khi lấy được bằng tiến sĩ, tôi hỏi anh có học vị tiến sĩ thì được gì? Anh nói: “Khi học xong tiến sĩ, kiến thức tôi sâu hơn, tôi dạy tốt hơn”. Thế đấy, học vị tiến sĩ cũng không phải là cái gì ghê gớm lắm đâu, đừng đòi hỏi họ phải làm cái gì vượt quá sức của họ.

Dĩ nhiên cũng không loại trừ có không ít người hám danh, bằng mọi cách lấy cái học vị tiến sĩ để lòe thiên hạ mà thực học thì không được bao nhiêu. Nói chi hạng người ấy.

Còn cái việc chấm luận văn “Vị trí kẻ bên lề” có chuyện nầy nọ không phải là trình độ, kiến thức của các vị giáo sư, mà là tư tưởng. Họ nhân danh khoa học để “làm cái gì đó” thì có lẽ không ít người đã nhận ra.

Trở lại vấn đề “Kẻ sĩ” và “Tiến sĩ”. Các vị tiến sĩ của thời kỳ Nho học ở nước ta đâu phải ai cũng có chất “kẻ sĩ” theo quan niệm của Chu Giang, có những người đem tài sức của mình ra phò vua giúp nước, nhưng cũng có những kẻ phản dân hại nước, họ cũng tự xưng mình là “kẻ sĩ” đấy thôi. Theo tôi, quan niệm của cụ Nguyễn Công Trứ trong bài hát nói “Kẻ sĩ” là có chừng mực và dễ chấp nhận, giữ gìn, sống như thế cũng là hay lắm rồi, mà chưa chắc ai có học cũng thực hiện được: “Khi vị ngộ hối tàng nơi bồng tất/Hiêu hiêu nhiên điếu Vị canh Sằn/Xe bồ luân dầu chưa gặp Thang Văn/Phù thế giáo một vài câu thanh nghị…”. Các vị tiến sĩ hiện nay có lẽ chưa có điều kiện nên chưa thể “Đem quách cả sở tồn làm sở dụng” đấy thôi, đừng trách họ mà tội nghiệp.

Còn một việc nữa mà tôi muốn trao đổi với bác Chu Giang vì bác cho rằng: “Nếu được học từ sớm những tinh hoa của Nho giáo, Phật giáo thì như đã nói tránh được biết bao nhiêu sai lầm ngộ nhận…”. Chúng tôi không phủ nhận Nho giáo, Phật giáo có những tinh hoa đáng cho chúng ta học tập, nhưng trên thế giới này đâu phải chỉ có Nho giáo và Phật giáo là tốt nhất, tinh túy nhất, người Tây phương họ có học Nho đâu, mà vẫn sống tốt, rất nhân văn và cũng đã sản sinh ra những nhà tư tưởng lớn, được cả thế giới ngưỡng mộ đấy chứ. Còn riêng Việt Nam ta, cho dù bác Chu Giang, tôi hay nhiều người không được đọc “tứ thư, ngũ kinh”, nhưng cái đạo làm người bàng bạc trong xã hội, cái tinh thần yêu nước thương nòi, lá lành đùm lá rách, ăn trái nhớ kẻ trồng cây, kiến nghĩa bất vi vô dõng giả, lâm nguy bất cứu mạc anh hùng… chẳng phải là tinh hoa, là triết lý sống của người Việt Nam ta đó sao? Chẳng phải là tinh hoa của Nho giáo được ông cha ta tiếp thu và áp dụng trong đời sống đó sao? Tôi nhớ có đọc nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam nói về việc xây dựng nền văn hóa mới Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc có nói đến việc tiếp thu một cách có chọn lọc tinh hoa văn hóa của nhân loại. Chúng tôi nghĩ rằng Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng tinh hoa văn hóa nhân loại, trong đó có cả Nho giáo và Phật giáo trong công cuộc chống ngoại xâm, bảo vệ và xây dựng đất nước rồi đấy chứ.

Cuối cùng, xin được nói rằng “Kẻ sĩ” trên đất nước ta rất nhiều, mà 24.000 vị tiến sĩ cũng là kẻ sĩ có điều chưa phải là những danh sĩ hay đại danh sĩ. Vấn đề đáng nói ở đây là nhà nước, những người có trách nhiệm có biện pháp tốt nhằm phát huy được tài năng, sở học của họ để phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân.

Đôi điều xin được trao đổi cùng bác Chu Giang, có gì không đúng, chưa đúng xin bác chỉ giáo.

Trương Thanh Hùng
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 418

Ý Kiến bạn đọc