Truyện ngắn

Đôi bờ sông Bứa

Chị Tuyền rót cho khách một ly nước vối màu hổ phách, nóng và thơm. Tiếng cười của người phụ nữ một thời xuân sắc, khúc khích như tiếng dòng nước róc rách của con sông Bứa (thuộc huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ) sau nhà.

- Anh hỏi chuyện ông nhà em á! Có mà kể cả ngày. Cái ông Đắc liều ấy!

Tôi hỏi tại sao gọi chồng là Đắc liều, chị lại khúc khích cười.

- Thì tên là Lê Hữu Đắc! Từ năm ôm tiền nhà đi bắc cầu treo qua sông, dân làng gọi là Đắc liều. Mà đúng là lão ấy liều thật.

Ấy là chuyện của năm hai ngàn linh một, vừa bước qua thế kỷ XXI thì lão Đắc dở chứng… liều. Mấy chục năm trời làm thương nghiệp, rồi bỏ nghề, hai vợ chồng còng lưng đẩy xe đạp lên tít trên Kim Thượng, Xuân Đài, Tất Thắng và cả mấy bản Dao trên Xóm Dù, để buôn bán dầu, muối. Cứ coi như cả đời tích cóp đi. Chị Tuyền khẳng định như vậy. Lúc ấy chị có một cửa hàng tạp hóa nhỏ tại chợ Minh Đài, hàng tháng đủ tiền nuôi mấy đứa con ăn học và cũng dư dả được một tẹo. Trong sổ tiết kiệm ở ngân hàng nhà nước, họ có khoảng 460 triệu đồng. Với thời điểm ấy thì giàu to, chẳng lo thiếu thốn. Đùng một cái, ông chồng lang thang ra bến sông Bứa, lối từ xã Mỹ Thuận sang chợ Minh Đài, suốt ngày ngắm nghía những chuyến bè nứa đưa bà con các dân tộc qua sông. Áo xanh váy trắng của người Dao. Quần áo xanh đỏ rực rỡ của người Mông. Nâu vàng xám của người Kinh. Nhất là những bộ quần áo đủ màu cùng khăn đỏ thắt trên vai của lũ học trò. Có người bảo lão tương tư cô nào đấy. Có người bảo lão “rồ hoa mướp”, làm việc suy nghĩ nhiều quá giờ hóa ra ngẩn ngơ. Chị Tuyền “tá hỏa tam tinh” khi một đêm lão chồng âu yếm vắt tay ôm qua ngực, thủ thỉ:

- Nhà mình bắc cái cầu qua sông đi mẹ cu!

- Cầu gì hở anh? Sông Bứa rộng mênh mông thế, tre gỗ đâu cho lại?

Lão cười hị hị, chê vợ chẳng hiểu quái gì về sông nước. Lão đo rồi! Quãng sông bè nứa thường qua rộng hơn 60 mét thôi. Bây giờ xây hai cái trụ bê tông hai bờ, kéo chiếc cầu treo là xong. Lão bàn chuyện làm cầu nhẹ tênh như ra chợ xơi tiết canh, lòng lợn. Bà vợ lo nhất là lão bàn đem gần nửa tỉ đồng tiền vốn ra để làm cầu. Biết tính chồng giỏi tính toán lo liệu từ trước tới nay, nhưng chuyện tày trời này chị Tuyền lo thắt ruột. Một đòn tâm lý cuối cùng lão đưa ra:

- Người xưa “bắc cầu, làm quán” tích đức cho con cháu. Mình 3 đứa con, sau này hàng đống cháu chắt. Mùa nước lũ nào nước cũng lớn, hai lần tôi chứng kiến mấy đứa học sinh lật bè rơi xuống sông. Cũng nên làm phúc em ạ!

Bà vợ xiêu lòng, đồng ý việc của lão chồng liều, đồng thời là một mình chị ôm cái cửa hàng nườm nượp khách ra vào những phiên cuối tuần, may còn có con bé lớn được ngày nghỉ học, lăn lưng giúp mẹ. Hàng xóm bặt không thấy mặt lão Đắc đâu. Còn lão âm thầm chạy xe máy hơn trăm cây số ra tận Vĩnh Phúc, ăn đợi nằm chờ tại Công ty tư vấn kỹ thuật Giao thông, nhờ thiết kế làm cầu treo. Sau đó ít lâu, bà Sa Thị Quyết – Phó Chủ tịch huyện Thanh Sơn được tiếp một nhà thi công cầu “bất đắc dĩ” là Lê Hữu Đắc. Ủy ban huyện thấy rõ đây là một Mạnh thường quân hết lòng vì dân, cần được trân trọng, nhưng cũng khó xử vì lão này “tay ngang”, xây cầu mà lỡ để xảy ra sự cố thì huyện, xã cũng “vạ lây”.

- Anh có tấm lòng vì bà con thế, thật đáng cảm phục! Nhưng nhắm sức mình có làm nổi không? Hay là anh cứ về lo cho các cháu học hành đi đã.

Lão Đắc biết người ta còn ngại, còn chưa tin mình, liền chìa bản tư vấn kỹ thuật của Công ty tư vấn Giao thông ra. Bản này, lão thuê kỹ sư giỏi hết 20 triệu đồng chứ ít ỏi gì. Vật nài, giải trình mãi, rồi thì xã, huyện đều đồng ý. Chị Tuyền nhớ lại, hôm đó lão chồng liều về nhà vui như trẻ con được quà, trằn trọc suốt đêm không ngủ. Ôm ấp, thủ thỉ với vợ chán, sáng hôm sau là lão mất hút “con mẹ hàng lươn”, không ngó ngàng gì tới nhà cửa, vợ con.

Thấy tự dưng xe ủi, xe tải ùn ùn kéo xuống bãi sông, san mặt bằng rồi chở nguyên vật liệu về đổ hàng đống, bà con xung quanh mới biết chắc rằng lão Đắc nhất định làm cầu treo. Phần lớn người ta mừng. Tự dưng có người làm cầu cho qua sông chẳng mừng mới lạ. Nhưng cũng có người lo thay cho lão, nhất là mấy cụ lão làng.

- Này bố Đắc! Năm nay tuổi 49, cẩn thận đấy! Đã xem xét kê đệm chưa?

- Thưa các cụ! Con làm việc thiện nên không cần xem gì cả!

Mot-khuc-song-Bua
Một khúc sông Bứa – Ảnh: cadao.me

Lão cười tự tin, trả lời chắc nịch. Nhưng ngày khởi công lão vẫn có cái lễ rượu thịt hoa quả cúng thần linh thổ địa, điều này từ trước tới nay thành lệ, không thể thiếu. Thuê được một công nhân kỹ thuật ngành cầu đường, trả lương cao ngất cây xanh, còn đâu lão thuê nhân công tại chỗ, có nhiều cái tiện. Suốt 3 tháng trời, bỏ mặc bà vợ với sạp hàng, lão ăn ngủ luôn tại bến sông, chỉ đạo, giám sát công trình. Đến đầu năm 2002, cầu treo Minh Thuận hoàn thành. Chị Tuyền mừng quá, chi tiền làm 20 mâm tiệc cho chồng mời quan khách và đại diện thôn bản hai xã tới dự. Bà con các dân tộc vui như được mùa, kéo về kín hai đầu cầu, đi thử qua lại không biết bao nhiêu lần. Niềm vui của họ rất lớn, vì cả đời liều mạng qua sông bằng bè nứa, giờ tự dưng có người bắc cầu cho đi. Phòng Tài chính huyện quyết định cho lão Đắc thu lệ phí cầu. Vậy là Nhà nước cũng quan tâm tới công sức, tiền bạc của lão. Với mức 1.000 đồng một lượt cho xe máy, 500 đồng lượt cho người đi bộ và xe đạp, học sinh mỗi năm góp 50 nghìn đồng một năm học, tính kỹ ra thì vào khoảng 7.000 đồng một tháng, quá rẻ so với tiền đi bè trước kia mà lại an toàn. Mới nghe thì thấy có nguồn thu hàng ngày, vì dân hai xã qua lại đông lắm, nhưng tính kỹ, lệ phí thu được chỉ đủ trả lương cho những người bảo vệ và để bảo dưỡng cầu. Cái quan trọng là tâm nguyện của mình hoàn thành, thấy trong lòng thanh thản, hạnh phúc. Đi khắp hai xã hai đầu cầu, người dân coi lão Đắc như vị cứu tinh, không ai dám gọi là Đắc liều nữa.

Mùa xuân, dòng sông Bứa nước trong xanh, róc rách chảy xuôi đằng sau Trạm Cọ của Đội kiểm lâm Xuân Sơn. Mấy cây chuối rừng ven bờ phía Mỹ Thuận lốm đốm hoa bắp đỏ, những đốm lửa soi ấm nụ cười sơn nữ qua lại trên chiếc cầu treo rập rình tình nghĩa. Người bạn đồng niên của lão Đắc có biệt danh là mít-tơ Lâu, Giám đốc vườn Quốc gia Xuân Sơn nhân chuyến công tác của tôi vào rừng, có mời ông chủ cầu lên trạm uống rượu với cá lăng mới bắt dưới sông. Chén rượu chuối rừng màu hổ phách sóng sánh trên tay chủ khách, nồng cay và ngọt chát.

- Nhẽ ra hồi làm cầu, lão mở rộng thêm nửa mét nữa thì xe U-oát kiểm lâm chạy nhờ qua Mỹ Thuận gần được 20 cây số, đỡ phải đi vòng ra Văn Lung.

Nghe Giám đốc vườn nói thế, lão Đắc lắc đầu cười.

- Cầu này tớ bắc cho dân đi thôi! Xe nhà nước các ông chịu khó đi vòng tí.

Mấy ly rượu làm mặt tôi nóng ran, rồi phừng phừng. Rượu ngon, bắt người uống mở miệng.

- Cầu treo trụ hơn 3 năm rồi ông Đắc nhỉ? Đã gỡ lại vốn chưa?

- Chưa! Cứ để vốn nằm đấy đã! Ba năm hai tháng rồi. Cầu này tôi nghiên cứu kỹ lịch sử trận lũ lụt năm 1971, mức nước hơn 7 mét, để thiết kế mặt cầu cao 9 mét. Yên trí!

Lão nhấc chai rượu, từ tốn ra thêm mấy ly nữa.

- Nào! Anh em mình làm ly này đón cơm! Tôi không uống được nhiều. Chiều lại có việc!

Xong chén rượu, xin bát cơm, lão ngả hẳn đầu sang tôi, nói nhỏ:

- Tớ giao cho hai thằng cháu quản lý, thu phí cầu. Tự thu, tự trang trải, khi nào bảo dưỡng thì báo lại. Thế thôi! Chắc vài năm nữa mới dư được chút lãi.

Mít-tơ Lâu cười ha ha, chỉ ra cái nghịch lý của người chủ cầu. Gần 500 triệu đồng, tiền lãi gửi ngân hàng mỗi tháng cũng hơn 4 triệu, chẳng phải lo lắng gì. Ôm tiền đi làm cầu, mỗi tháng thu phí khoảng 3 triệu, trả lương bảo vệ và bảo dưỡng cầu là vừa, chẳng dôi ra đồng nào, chứ đừng hi vọng gỡ lại vốn. Nhưng khi cái tâm người ta nghĩ tới cộng đồng, thì không tiền bạc nào so sánh được. Chỉ là bàn cho ra ngô ra khoai để biết thôi.

Sau khi xong cây cầu, người ta chẳng mấy khi thấy mặt lão Đắc ở nhà hay ngoài cầu. Lão tiếp tục hành trình vào vùng sâu vùng xa với những chuyến xe bão táp, buôn bán “gỡ gạc” lại vốn bỏ ra xây cầu và phụ bà vợ nuôi 3 đứa con vào đại học.

Cầu treo Minh Thuận dài 77m, rộng 1,5m, cao 9m so với mặt nước sông. Mọi tính toán đều vượt qua mực nước kỷ lục trận lụt năm 71. Cuộc sống tưởng yên bình trôi qua, mà ông trời lại muốn thử thách lòng người. Tháng 7-2005. Bất ngờ tôi nhận được điện thoại của lão Đắc:

- Buồn quá bạn ơi! Mưa lũ hai ngày cầu bị đứt rồi!

Như một phản ứng thân tình bạn hữu, tôi chạy ngay vào Minh Đài với lão. Mới biết trong hai ngày mưa lũ tệ hại, nước sông vượt cả mức kỷ lục năm 1971, cuốn phăng cây cầu treo. Chúng tôi đứng bên phía bờ nam nhìn dòng nước đỏ ngầu cuồn cuộn chảy. Thấy cây cầu thân yêu của lão Đắc bị lũ giật tung khỏi hai trụ cáp, nằm vắt dọc bờ sông phía bắc, vật vã như xác một con trăn khổng lồ, đen trũi. Nước mắt tứa ra, lão Đắc như người mất hồn. Chị Tuyền cũng tiếc công tiếc của không kém, nhưng sợ chồng lo quá mắc bệnh nên phải gắng lấy nghị lực động viên:

- Thôi! Còn người là may! Chứ hôm ấy lũ cuốn ông đi thì mẹ con tôi sống ra sao?

Chị kể đêm hôm lũ lên xấp xỉ mặt cầu, hai người cháu chạy về báo, lão Đắc lật đật soi đèn pin chạy ra. Mặt cầu treo chỉ cách mặt nước chừng 30cm, rung bần bật, réo u u. Lão Đắc liều mạng chạy ra giữa cầu kiểm tra. Chỉ 15 phút sau, nước mấp mé mặt cầu, cây cối, rêu rác từ thượng nguồn đổ về mắc kẹt vào dây cáp, càng làm cho dòng nước hung hãn bị chặn lại, chồm lên tận chân ông chủ. Những tấm ván lát cầu bị cuốn trôi, trơ lại hai sợi cáp. Lão Đắc cố gắng hết sức đạp những thứ mắc kẹt lại trên cầu mà không nổi, vừa đạp một cây gỗ trôi đi thì mấy cây nữa lại tấp vào. Dây cáp rung bần bật, tiếng người trong bờ hò hét, kêu gọi lão quay trở lại. Gần chục chiếc xe máy đồng loạt rọi đèn ra phía cầu, soi cho lão thấy đường.

Lão Đắc bảo, đêm ấy cầm chắc cái chết. “Mình tiếc cây cầu quá hóa liều”. Nước lũ lúc ấy chảy xiết lắm, cuốn băng băng, dây cáp võng xuống thành hình cánh cung. Lão cố bám sợi cáp trên, chân lần từng bước dây cáp dưới, chỉ còn khoảng 20 mét là tới bờ mà gần nửa tiếng lão mới thoát, chân tay sây sước, chảy máu mà không hay. Vào đến bờ, mấy cánh tay giơ ra lôi tuột lão lên bờ. Được chừng 10 phút, có tiếng kêu răng rắc, rồi hai trụ cầu tung lên, dây cáp, sắt thép bị cuốn chìm, dạt sang bờ bên kia. Hú vía! Chỉ cần loay hoay trên cầu vài phút nữa là lão Đắc liều xuống thăm hà bá.

Lão lo nghĩ phát ốm. Chị Tuyền thương chồng, an ủi:

- Anh đừng lo nghĩ quá! Cầu hỏng thì mình sửa lại có gì đâu?

- Nhưng tiền đâu mà sửa bây giờ?

Lúc ấy chị Tuyền mới hé cho chồng biết, mấy năm nay buôn bán dành dụm được hơn 100 triệu đồng, sẵn sàng giao cho chồng sửa cầu. Đang buồn nẫu ruột, lão Đắc choàng ôm hôn cám ơn vợ. Lão lại có trong tay 150 triệu đồng. Việc đầu tiên phải làm là mua nứa ghép 3 chiếc bè lớn. Thuê 6 thanh niên thạo sông nước chống bè hàng ngày, mỗi ngày 4 lượt đưa hơn 200 học sinh từ Mỹ Thuận qua sông tới trường. Việc đưa đón này hoàn toàn miễn phí, nhưng lương phải trả cho 6 người chống bè là 300 nghìn đồng một ngày. Ủy ban huyện cũng cảm thông với nhà lão, hỗ trợ cho 40 triệu đồng.

Việc sửa cầu diễn ra trong vòng một tháng. Để phòng nước dâng cao, lần này lão cho nâng trụ cáp và mặt cầu lên nửa mét nữa. Khỏi phải nói sự vui mừng của người dân hai xã bên cầu và người thân trong gia đình. Chị Tuyền cười trong nước mắt. “Hôm ấy vui lắm! Tối về tôi ôm chồng ngủ, cười khanh khách trong mơ. Lâu lắm mới ôm động viên chồng, vì mấy tháng trời lão ấy bỏ tôi nằm mình, toàn ngủ ngoài bờ sông”.

Mùa đông năm nay không lạnh giá như 15 năm trước, khi tôi vào Minh Đài thăm cây cầu treo Minh Thuận của lão Đắc. Xa nhau từng ấy năm, một ngày cuối tháng 9, tôi tìm về nơi cũ. Chợ Minh Đài tấp nập ngày phiên. Tôi đang định hỏi thăm nhà lão Đắc, thì chợt nhìn thấy một người đàn ông có nụ cười nhẹ, ngồi trước một cửa hàng tạp hóa. Ngờ ngợ nhận ra người quen, tôi dừng xe trước cửa. Lão Đắc nhận ra tôi ngay.

- Ông biến đi đâu lâu quá không thấy vào Thanh Sơn?

- Tôi “lang bạt” phương Nam kiếm sống lão ạ!

Việc đầu tiên tôi hỏi thăm là chuyện cây cầu treo của lão.

- Vừa dỡ ra bán sắt vụn rồi! May thu lại được 2/3 tiền gốc!

Lão dẫn tôi ra bờ sông, bằng chiếc xe máy qua một cây cầu bê tông rộng 8 mét mới bắc qua sông Bứa.

- Đấy! Cây cầu treo cũ còn lại hai cái mố bê tông kia kìa!

Năm 2015, khi cây cầu bê tông rộng rãi được nhà nước đầu tư xây dựng thì cầu treo của lão Đắc được nghỉ ngơi. Hai cây cầu cách nhau khoảng 100 mét và cầu mới vẫn được gọi là cầu Minh Thuận, như một cách ghi công cho người nông dân Lê Hữu Đắc. Vợ chồng ông bà Đắc – Tuyền rút về cổng chợ Minh Đài, mở một cửa hàng bách hóa tương đối lớn. Bà con các dân tộc bên xã Mỹ Thuận mỗi phiên chợ đều ghé thăm cửa hàng ông chủ cầu cũ, mua hàng hóa, vật tư sản xuất. Họ tới với cửa hàng Đắc – Tuyền rất đông, vừa vì tình nghĩa, vừa vì ông bà vui vẻ, dễ chịu, sẵn sàng bán thiếu cho dân, tới cuối vụ mới thu tiền.

Ba người con của ông bà đều đã ổn định công việc, đều là cán bộ nhà nước. “Bây giờ các cháu trưởng thành rồi, nhưng con cái vẫn bỏ cho ông bà trông nom. Hai ông bà vừa bán hàng, vừa chăm cháu”.

Bữa cơm thân mật có thịt lợn lửng và chai rượu thuốc màu vàng nhạt, không phải rượu chuối rừng như năm trước. Lão Đắc thông báo với tôi, mít-tơ Lâu đã về hưu 2 năm trước. Bữa rượu chỉ có hai người bạn cũ nâng ly.

- Năm nay 64 rồi ông ạ! Nhưng tính mình khổ, chưa muốn nghỉ dưỡng.

Lão Đắc nêu quan điểm là còn sức, còn tỉnh táo thì tiếp tục làm kinh tế. Không nên phụ thuộc vào các con, mà phải làm chỗ dựa cho con cháu. Lão bảo cây cầu treo của mình tồn tại được hơn 12 năm, nhưng cũng kịp hoàn thành tâm nguyện của người nông dân muốn làm việc thiện.

Lại sắp Tết rồi, có mấy địa chỉ trong các bản vùng sâu vùng xa cần giúp đỡ. Lão bảo sẽ đem tặng cho bà con ít quà xuân, vừa là của nhà, vừa đi “xin” người hảo tâm khác. “Ông bây giờ cũng có tuổi rồi, còn dám đi chơi với tôi nữa không?”. Đi thì đi! Mùa mới đang mở rộng lòng người bằng tiết trời se lạnh và hương vị rừng ngào ngạt.

Phùng Phương Quý
(Huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 474

Ý Kiến bạn đọc