Alls

Đọc “Vòng tay bỏ ngỏ” thương lắm buổi ban đầu

Năm 1966, khi họa sĩ Nguyễn Chí Hiếu vượt núi băng đèo từ Hà Nội về đến căn cứ của Hội Văn nghệ Giải phóng miền Nam tôi không hề nghĩ anh sẽ là một nhà thơ sau này. Là họa sĩ từng được chọn đi học ở Liên Xô và tốt nghiệp Trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội ở cái tuổi 25, vẻ thư sinh nho nhã của anh làm tôi chú ý. Khi biết anh quê ở Long An, nơi lúc ấy tôi từng coi như quê hương của mình, nơi tôi và các bạn nhà văn, nhà thơ thân thiết của mình như Hoài Vũ, Trần Đình Vân (Thái Duy) từng cùng với các văn nghệ sĩ Long An bám đất, bám hầm nằm bưng, ngủ bụi từ đầu tỉnh đến cuối tỉnh tôi thường qua Phòng Hội họa Giải phóng thăm anh, nghe anh kể chuyện đi nước ngoài, chuyện thương nhớ miền Nam, thương nhớ gia đình bao đêm không ngủ. Anh về lại chiến trường khi tình hình đang rất căng thẳng: Mỹ đã đưa bộ binh trực tiếp vào miền Nam từ năm 1965, biến “chiến tranh đặc biệt” thành chiến tranh “cục bộ”.

Bia-tap-tho---Vong-tay-bo-ngo
Bìa tập thơ Vòng tay bỏ ngỏ

Tôi không ngạc nhiên khi những bài thơ đầu tiên của anh là viết về chiến trường (Ngọn đèn kháng chiến, Các em đi, đêm tải đạn…).

Ngọn đèn rung lên từng hồi náo nức
Theo bước chân cả nước hành quân
Ta đánh Mỹ đâu chỉ bằng gươm, bằng súng
Còn bằng ngọn đèn đêm sáng giữa rừng…
(Ngọn đèn kháng chiến)

Đêm nay lại nghe tiếng pháo gầm vang phía trời xa lắc
Sao bồi hồi thương nhớ quá các em ơi!
Ôi có phải gió nổi bốn ngàn năm góp về một mùa xuân bão táp
Đã đưa các em đi
làm ánh chớp giữa trời.
(Các em đi)

Tôi bất ngờ với những câu thơ bị lôi kéo theo cảm xúc không cưỡng lại được, những câu thơ không hạn chế số chữ, số từ… nhưng vần điệu thì vẫn chặt chẽ, đúng niêm luật. Một cây bút mới khó có thể viết như vậy. Đêm đưa người bạn gái lên rừng, lên chiến khu với bao câu hỏi, thắc mắc làm cả hai người mất ngủ:

Ở rừng này đã lâu, anh gặp nhiều giống thú
biết lắm thứ cây và quen đủ loài hoa
Nhưng đêm ấy anh cũng không tài nào ngủ
có mùi hương rất lạ trong nhà…
(Ở rừng)

Lần đầu tiên được ngủ bên cạnh một người con gái hay bước đầu của tình yêu, có lẽ ở sự cảm nhận của người đọc.

Tôi đặc biệt chú ý đến những bài thơ anh viết về gia đình, về những người thân yêu ruột thịt, có hạnh phúc nhưng cũng có những nỗi đau của chia ly, kẻ Bắc người Nam:

Ánh sáng phương Nam dọi vào
một góc trời miền Bắc
Nơi con đứng bên hồ tỏa sáng long lanh

Anh về quê hương giữa mùa nước lũ
Đồng Tháp rộng vô cùng nỗi nhớ thương em.
(Nơi con đứng bên hồ)

Cùng trong hoàn cảnh như anh, khi phải xa gia đình, vợ con (người trên rừng, người trong thành phố), khi có tin vợ con bị giặc giết trong tù, tôi đọc những dòng anh viết về con mà rơi nước mắt:

Ngày con ra đời cha ở nơi đâu?
Tiếng con gọi giờ cha đã đáp
Nhưng trong tiếng vọng ầm ào của thác
Của rừng cây vách núi điệp trùng
Tiếng người gọi người sau trận lửa bom
Từ ấy đến nay không có người đáp lại.
(Ngày con ra đời cha ở nơi đâu?)

Nguyễn Chí Hiếu cũng dành những lời thơ hồn nhiên và xúc động kể lại tuổi thơ của mình trong vòng tay mẹ, khi mẹ còn đi cuốc lộ, vây đồn; kể lại buổi chia tay với cha, người cha thân yêu đã ôm con và hít thở rất lâu mái tóc rối bù, khét nắng của con để rồi không bao giờ về nữa vì nhiệm vụ cách mạng.

Nếu trong chiến tranh, điều kiện không cho phép đi nhiều, thì sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Nguyễn Chí Hiếu là một cây bút xông xáo đi nhiều, viết nhiều. Từ biên giới đến hải đảo, từ Đà Lạt đến Trường Sơn, từ Hà Nội đến thành phố Hồ Chí Minh, những thành phố mà anh chịu ơn và yêu thương như quê hương ruột thịt Long An của mình. Anh viết về Bác Hồ, về Bến Nhà Rồng, về Xẻo Đước, về Hà Tiên, về cây bàng mùa đông và hoa sữa Hà Nội, về Côn Sơn, về miền Trung với Huế, Cam Ranh, Đà Lạt. Điều đáng mừng là anh viết ngắn hơn, trí tuệ hơn:

Những kẻ vô danh
lại thích viết tên mình trên bia đá
cổng chùa, danh lam thắng cảnh
nơi các vĩ nhân lặng lẽ giấu mình.
(Không đề)

Ta sẽ sống suốt đời trong nhung nhớ
Suốt đời ôm mãi bóng hình em
Ôi, nước mắt
sông hồ
biển cả
đêm đêm ướt đẫm gối ta nằm.
(Lời cuối)

Một tập thơ chiến đấu, tràn ngập tình yêu và khát vọng, một tập thơ 55 bài trải dài trên 40 năm đối với tôi, người đã từng nhiều lần trao đổi, trò chuyện thơ với anh khi anh mới trở về miền Nam, về chiến trường (1966) là một điều bất ngờ thú vị. Xin cám ơn anh đã khơi dậy trong tôi những tình cảm, suy tư tưởng đã phai mờ theo năm tháng. Ôi cái buổi ban đầu, thương nhớ biết bao nhiêu!

8-2015

Giang Nam
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 443

Ý Kiến bạn đọc