Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Đọc thơ chữ Hán của Cao Bá Quát

Cao Bá Quát, tự là Chu Thần, hiệu là Cúc Đường, là một nhà thơ lớn và xuất sắc dưới chế độ phong kiến thời nhà Nguyễn. Ông sinh năm 1809 tại làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội. Là một con người tài năng xuất chúng, có nhân cách lớn của một nhà Nho, sống gần gũi nhân dân lao động nên có tư tưởng tiến bộ, thương dân, yêu nước, căm giận bộ máy cai trị nhà Nguyễn tham nhũng, hà khắc, thẳng tay đàn áp, bóc lột dân chúng. Nhưng, ông cũng có những hạn chế như chỉ thấy triều đình nhà Nguyễn thối nát chứ chưa thấy được cả chế độ phong kiến là thối nát. Còn với nhân dân thì ông có lòng thương cảm, bênh vực, nhưng chưa biết dựa hẳn vào nhân dân, nên nguyện ước lật đổ vua quan nhà Nguyễn không thực hiện được. Vả lại, có lật được thì ông cũng chưa biết phải xây dựng một bộ máy cầm quyền như thế nào. Điều đó không phải dễ, nếu không được trang bị những kiến thức của thời đại, phải xóa bỏ bóc lột, lập lại công bằng và dân chủ. Mà muốn được như thế thì phải chờ đến các thế hệ sau.

Vì ngay cả những nhà yêu nước giàu nhiệt huyết nhất của nước ta trước khi Nguyễn Ái Quốc tiếp thu được chủ nghĩa Mác – Lênin, cũng chưa định ra được phương hướng giành độc lập, dân chủ cho đất nước. Nói như thế để càng thông cảm và biết ơn những con người kiên trung thương dân mến nước nhưng còn hạn chế hiểu biết, hạn chế tầm nhìn và chưa “gặp thời”. Chính vì sự hạn chế đó nên cuộc đời của Cao Bá Quát là một bi kịch lớn và kéo dài. Cuối cùng, ông đã dấy lên được cuộc khởi nghĩa lớn rộng của nông dân phía Bắc, làm rúng động triều đình nhà Nguyễn, nhưng rốt cuộc thất bại và ông đã hi sinh.

Nhưng về thơ ca thì phải nói, Cao Bá Quát là một nhà thơ lớn và đáng kính trọng nhất, đáng học hỏi nhất. Chỉ tiếc là thơ của ông toàn bằng chữ Hán, nên việc phổ biến có khó khăn, hạn chế. Nhưng không sao. Chịu khó nghiên cứu thì người ta sẽ học được rất nhiều từ quan điểm, nghệ thuật và phong cách thơ đặc sắc của Cao Bá Quát.

So-527--Doc-tho-chu-han-cua-Cao-Ba-Quat---Anh-1

Sự nghiệp thơ của Cao Bá Quát gồm hơn 1.350 bài, mà bài nào cũng dạy cho ta được nhiều hoặc ít. Vì Cao Bá Quát làm thơ không phải để chơi, mà là để chiến đấu, để xây dựng hoặc đả phá một cái gì đáng đả phá, để tỏ lòng yêu nhân dân, yêu thiên nhiên, yêu đất nước. Điều kỳ lạ đáng ngạc nhiên và khâm phục là Cao Bá Quát giống như một tấm gương trong mà ánh sáng rọi vào là phát sáng bật lại ngay, bật thành thơ, như một vị thánh thơ, không cần phải tốn nhiều thời gian suy nghĩ.

Chỉ cần đọc bài “Dọc đường gặp người đói” thôi, ta đủ thấy tấm lòng, nhân cách của Cao Bá Quát đáng quý đến dường nào. Xin chọn cách dịch nghĩa bài thơ này thay vì dịch thơ, để thấy hết cái nghĩa đen của nó:

“Con nhà ai một mình đi thất thểu,
Áo rách, nón cũng không lành.
Chợt từ phía Nam đi tới,
Đón trước ta mà than thở.
- Anh đang lo phiền gì?
Thưa rằng:
- Tôi vất vả từ lâu.
Nhà nghèo, làm thuốc và coi bói
Lên sinh sống ở Kinh Kỳ
Kinh Kỳ chẳng có ai ốm,
Các thầy lang đầy dẫy như núi gò
Bơ vơ nhìn con đường về,
Hết tầm mắt, chỉ thấy mây che mù mịt.
Ngày thứ hai, bán cái tráp không
Ngày thứ ba, nhịn cả hai bữa.
Gặp người, chỉ mừng hụt.
Muốn nói nhưng tiếng đã khan.
- Ôi thôi! Anh hãy cầm nước mắt lại
Ăn với tôi một bữa cơm cho vui.
Đời người dằng dặc như ở quán trọ,
Ai dám khoe mình thư thái trọn đời.
Thong thả chứ! Đừng nuốt hấp tấp!
No quá, không làm cho khỏe người!”

Là một người có chí lớn, khí phách ngang tàng, Cao Bá Quát lúc nào cũng muốn được làm những chuyện phi thường. Bài thơ “Qua núi Dục Thúy” của ông như sau:

“Trời đất có núi ấy,
Muôn thuở có chùa này,
Phong cảnh đã quá tuyệt
Lại thêm ta tới đây.
Ta muốn lên đỉnh núi
Hát vang gửi nước mây
Ao ước mà không được,
Việc đời thường như vậy!”

Tâm trạng Cao Bá Quát giống như tâm trạng một con chim ưng bị nhốt trong lồng, rất bực bội vì phải khoanh tay, không được hành động, bay nhảy. Đọc bài “Cỏ trong vườn” của ông, ta dễ hiểu điều đó:

“Cỏ ở trong vườn, không biết tên là cỏ gì?
Màu hoa đỏ chói như muốn đốt cháy cả bao lan
Có sắc, được mọi người ưa,
Không hương, đối với đời nhạt nhẽo
Mọc cành ra, vẫn có vẻ xuân mà không ai hay.
Có quả, không ăn được.
Một mình cứ ôm ấp cái vẻ cao thượng riêng đó,
Khiến ta ngậm ngùi thở vắn than dài”

Vì bị Cao Bá Quát căm ghét nên bọn vua quan nhà Nguyễn oán thù và tìm mọi lúc để hành hạ ông. Nhân một sơ suất trong lúc coi thi, chúng ghép ông vào trọng tội và tra tấn, đánh đập rất dã man. Từ trong nghịch cảnh này, tài năng xuất chúng trong sáng tác của ông lại được bộc lộ rực rỡ. Thơ Cao Bá Quát không chỉ có cảm hứng mà còn có tính hiện thực phê phán rất cao, tố cáo rất mạnh, khiến cho thơ ông có tính chiến đấu ít ai sánh kịp. Hãy đọc “Bài ca cái roi song” của ông thì rõ:

“Sau hôm rằm tháng chín, khí trời đã dực
Mặt trời u ám, ban mai không có ánh sáng.
Người bị giam xù đầu, ngồi trên giường gãy
Ngọn gió lạnh buốt thổi phần phật vào áo quần
Chợt có lính của bộ đến, tiếng nói lanh lảnh
Gọi ra và thúc giục tới công đường.
Đứng dậy mang gông, đi theo sau hắn
Khăn rách xốc xếch, chân bước vội vàng
Lúc vào cửa, có lính canh ngục kèm hai bên
Người ở kinh đô ngơ ngác đứng xem,
vây kín như bức tường
Các quan lớn ngồi cùng nhau,
dưới có một viên quan nhỏ,
Gọi đem những hình cụ ra bày la liệt
Có cái roi song to, dài thật là dài,
Da nó tía, mình nó cứng, uốn nó lại thẳng đờ ra
Người bị tội nằm duỗi, vẻ sợ hãi xanh xám
Đầu quay nghiêng, mắt lấm lét,
như con dê hoảng hốt
Chân tay căng thẳng, hai mắt quáng lên
Lúc đó là sau trận mưa,
hơi thấp độc xông lên đến bàng quang.
Giờ lâu bị tra hỏi, miệng không nói được
Chỉ khan cổ kêu: Oan! Oan! Và gào trời
Quan thét lên như tiếng sét, rung cả rường nhà
Roi quất nhoang nhoáng,
bay đi liệng lại như ánh chớp
Lúc giơ lên,
như hai con thuồng luồng quật vào bờ ao lở,
Lúc ngừng, như nước lạnh đổ vào nồi nước sôi,
Hai cái nọc đứng sững, có vẻ vững chắc
Tiếng rên rỉ vang quanh dãy hành lang.
Than ôi! Một cành hoa hải đường đang xuân
Bị bẻ tan nát,
không kể gì đến cái hương thơm
ở Xương châu nữa
Bấy giờ đã muộn, trời sâm sẩm tối,
Ở nơi góc đài,
những giọt sương trong cũng vì ta mà bay lên
Roi song rủ xuống,
thôi không hăng hái như trước nữa
Chắp tay đứng, ruột mềm quặn lại
như cuốn vào ngón tay được
Được mất, do mệnh là sự thường
Ta cũng mày mặt như mọi người,
việc gì mà đau thương?
Ơn nhà, nợ nước, chưa chút đáp đền
Là người dũng cảm, đâu có chịu chết ở nơi văn tự?
Chao ôi! Roi song ơi!
Mày không thấy:
Ở phía Nam sông Đức Giang
Ở đỉnh núi Nguyệt Hằng
Trên đó có cây tùng, cây bách chết một nửa,
Nhưng vẫn cùng nhau đứng trơ trơ
giữa trời rét mướt
Ví phỏng có người thợ giỏi biết dùng, không bỏ nỏ
Thì những hạng cây như bồ kết và chướng não kia
có đáng kể vào đâu.
Vậy mà còn đẵn phá nó thì có đáng hay không?”

Nhìn cảnh đời bạo ngược, trái ngang, tâm trạng Cao Bá Quát lúc nào cũng dằn vặt, muốn tìm cách phá vỡ bế tắc của xã hội, nhưng biết làm sao, khi mà ông mới chỉ có tấm lòng mà thiếu phương hướng, thiếu lực lượng của quần chúng nhân dân! Càng đọc thơ ông, ta càng yêu ông. Ước gì ông được sống trong một thời đại khác, để cho tài năng của ông “có đất dụng võ” giúp ích cho đời, như ông muốn! Đọc bài hát ngắn “Đi trên bãi cát” mà ngậm ngùi, rơi lệ vì ông. Sự dùng dằng, đau đớn vì bế tắc, được ông mô tả cực kỳ hay, cực kỳ sinh động mà khó có ai đạt tới được:

“Bãi cát dài, lại bãi cát dài,
Đi một bước như lùi một bước
Mặt trời đã lặn mà vẫn còn đi
Khách trên đường nước mắt lã chã rơi
Anh không học được ông tiên có phép ngủ kỹ
Cứ trèo non, lội nước mãi, bao giờ cho hết ta oán!
Xưa nay hạng người danh lợi
Vẫn tất tả ở ngoài đường xa
Quán rượu ở đầu gió có rượu ngon
Người tỉnh thưởng ít, mà người say vô số!
Bãi cát dài, bãi cát dài, biết tính sao đây?
Bước đường bằng phẳng thì mờ mịt,
bước đường ghê sợ thì nhiều.
Hãy nghe ta hát khúc ca “đường cùng”.
Phía Bắc, núi Bắc, núi muôn trùng
Phía Nam, núi Nam, sóng muôn đợt
Anh còn đứng làm chi trên bãi cát?”

Cao Bá Quát còn có biệt tài là mô tả bằng thơ, rất duyên dáng và tế nhị. Là một nhà Nho, nhưng ông không cũ kỹ, ông quan sát tinh tế và thấy được cái hay trong tình yêu của một người phụ nữ nước ngoài, rất mới mẻ. Trong bài hành “Người đàn bà Tây Dương”, ông viết:

“Cô gái phương Tây, áo như tuyết
Ngồi kề vai chồng, dưới ánh nguyệt
Nhìn sang thuyền ta, đêm sáng choang
Níu áo, cùng chồng nói ríu rít
Uể oải cầm cốc sữa lên tay
Gió bể, e chừng đêm lạnh đây!
Nhích gần lại, đòi chồng đỡ dậy
Ta đang ly biệt, có ai hay!”

Cao Bá Quát có những cảm xúc lớn và độc đáo mà khó có ai sánh kịp. Bài “Tắm ở khe Bàn Thạch”, chỉ 4 câu thôi, ông đã nói lên được ý chí rộng lớn mênh mông:

“Sớm lên, đứng trên núi Hoành Sơn
Chiều xuống, tắm ở dòng khe Bàn Thạch
Nhặt lấy mỗi nơi một viên đá,
Cả non sông không đầy một vốc tay”

Cao Bá Quát có một sức viết phi thường. Ông viết có vẻ dễ dàng và không cần gắng sức. Nhưng ý thơ của ông thì chứa chan tình cảm, không xơ cứng. Có cảm giác ông có thể “ứng khẩu thành thi”. Bài “Đêm mười bảy dưới ánh trăng”, viết về một đề tài rất bình dị, vậy mà thơ ông vẫn lôi cuốn người đọc đến say mê:

“Trời cao, sao lác đác,
Trăng sáng trong như nước
Lanh lảnh tiếng sâu mùa kêu
Sàn sạt gió vàng nổi dậy
Trên nhà có một người đẹp
Ngồi tựa lan can, buồn không nói
Bỗng đứng dậy xem đêm đã khuya chưa
Bước một bước lại dừng một bước
Không lo đêm dài lạnh
Chỉ sợ trăng sắp tàn
(Nghĩ lại) khi thiếp tuổi đôi tám
Cũng đầy đặn như trăng
Lớn lên vẫn yêu cái đẹp xưa
Những tưởng giữ mãi được như thế
Kéo áo bọc lấy ánh trăng
Không nỡ dễ dàng bỏ phí
Xén ra viết thành bức thư hợp hoan,
Gửi cho chàng những điều tâm sự”

Đọc thơ Cao Bá Quát, ta đọc với cả tấm lòng vừa thưởng thức vừa xót thương, thông cảm, đồng thời ta còn học được ở ông rất nhiều vì quan điểm “nghệ thuật vị nhân sinh”, không phải để ngâm hoa vịnh nguyệt, mà để cứu dân độ thế.

Thơ ông đáng được gọi là “thơ có thép”.

Và ông đáng gọi là “nhà thơ cũng biết xung phong”.

Hoàng Xuân Huy
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 527

Ý Kiến bạn đọc