Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Đọc Luận chiến văn chương

 

Chu Giang đã cho ra mắt bạn đọc quyển thứ năm cùng một tên sách: Luận chiến văn chương. Quyển một: 1995; quyển hai: 2012; quyển ba: 2015; quyển bốn: 2017; quyển năm: 2019. Bốn quyển trước đều được giải thưởng và tặng thưởng hạng A, hạng B của Hội Nhà văn Việt Nam và Hội đồng Lý luận Văn học và Nghệ thuật Trung ương. Có thể nói, đây là một tác giả Nhất quán – Thẳng thắn – Trung thực (có sở cứu) và độc đáo, có tác phong riêng đậm nét.

Ngay tên sách đã là một sự độc đáo. Sách lý luận – phê bình văn học – nghệ thuật từ thập kỷ sáu mươi thế kỷ trước đến nay thường có ý khiêm tốn: Trên một chặng đường, Trên hành trình, Tản mạn văn chương, Mấy vẻ mặt, Một vài suy nghĩ, cảm nhận…

Tác giả Chu Giang xác nhận ngay từ đầu: Luận chiến văn chương từ bài đầu tập đầu (1995) đến bài cuối tập cuối (2019) đều là luận chiến, trao đổi, đối thoại, bình luận, phản biện lại các ý kiến, các luận điểm của các tác giả khác. Cũng có một số bài tản văn, chân dung văn học nhưng chiếm tỷ lệ rất ít so với các bài luận chiến.

Chu Giang có giọng văn chắc chắn, hài hước, tự nhiên như ngôn ngữ thường ngày nhưng rất hàm ý, lôi cuốn bạn đọc phải suy ngẫm.

Nói lại luận điểm của nhà văn cao niên, Văn sư tử và văn cầy cáo: hàng vạn cầy cáo mới có một sư tử. Hội Nhà văn Việt Nam mới có gần ngàn hội viên, ai là sư tử, ai là cầy cáo! (Sđd. Quyển III: Văn sư tử và văn cầy cáo). Hoặc khi nói về nhà thơ Xuân Sách, cái vẻ đẹp nhất trong đời anh Xuân Sách là đám tang của anh: không ghi chức vụ, danh hiệu, chỉ mấy chữ ngắn gọn: Vô cùng thương tiếc cụ Ngô Xuân Sách. Đám tang do gia đình tổ chức, không cần đến cơ quan, đơn vị… Ta đến với cuộc đời bằng hai bàn tay trắng và trở về cát bụi với hai bàn tay trắng, Mọi buồn vui để lại cho đời. Hoặc một PGS-TS lại có cái ngôn ngữ của vợ Bình Mâu (chua ngoa, vắt nóc) (Sđd. Quyển V: Đề văn năm nay). Nhưng cũng có hình ảnh giàu cảm xúc như khi viết về Phùng Gia Lộc: Sông Chu mùa đông trong vắt, lạnh ngắt. Buồn hiu hắt. Qua cầu phao Phú Yên là nhà Phùng Gia Lộc. Ở đấy, một mảnh vườn hoang. Một căn nhà rách, một tấm thân tàn. Phùng Gia Lộc cuộn mình trong tấm chăn chiên, nặng nhọc thở… (Sđd. Quyển I: Phùng Gia Lộc). Hay khi nhắc lại câu nói của Hoàng Trung Thông: Tôi là nhà thơ, làm một nhà thơ cũng đủ lắm rồi… (cần gì phải phong Giáo sư!).

Chu Giang rất hay dùng điển tích, ca dao, tục ngữ nhưng có thay đổi và rất phù hợp với ý định diễn tả. Trích Bá Di – Thúc Tề để chỉ một vị giáo sư: chửi nhà Chu cứ chửi nhưng gạo nhà Chu cứ ăn, lương vẫn lĩnh, lộc chẳng từ… Nhất là thành ngữ được biến hóa mà vẫn bộc lộ được ý muốn nói.

So-546--Doc-Luan-chien-van-chuong

Trong suốt năm quyển Luận chiến văn chương, Chu Giang tỏ ra thẳng thắn đến quyết liệt. Không vòng vo, văn hoa, râu tóc… không ngần ngại thanh nghị (trao đổi) nhiều khi là chỉ nghị (chỉ trích) luận điểm của các tác giả “cây đa cây đề, các giáo sư đầu ngành, tên tuổi như nhà văn Nguyên Ngọc, nhà văn Trần Độ, các cố giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh, Đinh Xuân Lâm, Phan Huy Lê… Các giáo sư chủ biên sách giáo khoa như Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Khắc Phi, Trần Đình Sử, Nguyễn Văn Long. Có người nói Chu Giang cố tình để nổi danh là “thợ đánh”. Cần phải xem ở nội dung phản biện, ở vấn đề được đặt ra. Nếu xem xét nghiêm túc nội dung phản biện đối với tướng Trần Độ về định hướng rộng và chọn sẵn món ăn cho bạn đọc tự chọn thì sự phản biện đó là xác đáng. Đã định hướng thì phải lấy hướng làm chính, rộng, hẹp là diện không phải là hướng. Hướng chỉ dẫn cho hành động. Diện là năng lực của hành động. Miệt mài đi suốt ngày đêm mà lạc đường thì sẽ ra sao? Quan điểm của tướng Trần Độ là thủ tiêu tính chủ động trong công tác văn hóa – tư tưởng. Thực ra là thủ tiêu cái này để đưa vào cái kia. Làm gì có hành động vô mục đích!

Với nhà văn Nguyên Ngọc và Giải thưởng văn hóa Phan Châu Trinh càng rõ. Chu Giang đã phản biện Nguyên Ngọc ngay từ đầu về quan điểm trước đây văn học chỉ quan tâm đến số phận cộng đồng dân tộc, nay phải quan tâm đến số phận cá nhân. Phải phá vỡ cái gò bó của thể chế chính trị để hướng tới cá nhân con người… Cho đến giải thưởng Phan Châu Trinh vinh danh Phạm Quỳnh là Danh nhân văn hóa Việt Nam thời hiện đại với lòng yêu nước không thể lay chuyển… Chu Giang đã nói thẳng ra Nguyên Ngọc là con người phản bội lý tưởng và nói có sở cứ. Loạt bài “Nguyên bản Phạm Quỳnh” trong Luận chiến văn chương quyển V chứng tỏ điều đó. Đưa ra chính tác phẩm của Phạm Quỳnh, dư luận đương thời về Phạm Quỳnh và nhất là các văn bản của Phủ Toàn quyền Đông Dương về Tạp chí Nam Phong và Phạm Quỳnh mới đáo hạn vào năm 1967 thì rõ ràng mọi sự biện hộ cho Phạm Quỳnh là cố tình lẩn tránh cơ sở văn bản, lẩn tránh sự thật. Đáng tiếc là các giáo sư đầu ngành văn – sử lại tỏ ra không biết đến các văn bản đó.

Sự phản biện lại Gs. Trần Đình Sử là kiên trì (từ 1995) và ngày càng quyết liệt qua vụ Phê bình kiểm dịch. Có thể tóm tắt trong một câu: Có hai Tố Hữu trong một Trần Đình Sử và hai Trần Đình Sử trong một Tố Hữu. (Sđd. Quyển V : Thẩm định tự sướng).

Với Gs. Hồ Ngọc Đại cũng như vậy. Sau cơn bão mạnh về Công nghệ giáo dục hồi cuối năm 2018 và ở hội thảo đầu năm 2019 ở Hội Nhà văn, Chu Giang đã viết liền ba bài báo về Tư tưởng Giáo dục của Hồ Ngọc Đại, một đã in vào đầu quyển V: Luận chiến văn chương, hai đã đăng trên Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh các số 531 và 535 năm 2019. Tình hình tồi tệ ở trường học như các vụ 9 nam sinh cưỡng dâm một nữ sinh cùng lớp (ở Quảng Trị), rồi 5 nữ sinh đánh đập dã man, lột quần áo một nữ sinh cùng lớp ở Phù Ủng, Hưng Yên vừa rồi chứng tỏ sự nguy hại của tư tưởng giáo dục Hồ Ngọc Đại, khi vị giáo sư này cho rằng thời đại đã chuyển sang Phạm trù cá nhân và Giáo dục phải giúp cho học sinh phát triển chính cá nhân chúng…

Có thể Gs. Hồ Ngọc Đại chưa phải (trực tiếp) là sư phụ của các hành động tệ nạn trên nhưng một lý thuyết giáo dục, một triết lý giáo dục khuyến khích, ủng hộ con người cá nhân rồi sẽ dẫn đến các tội phạm đó, có đáng phê phán không? Tệ nạn trong học sinh, trong nhà trường có nhiều nguyên nhân: gia đình, xã hội, nhất là sách báo và màn hình nhỏ… Nhưng sinh hoạt của học sinh chủ yếu diễn ra ở nhà trường: chương trình học và sinh hoạt khác, các giáo sư, các thầy giáo sẽ trả lời như thế nào?

Cuối cùng xin có mấy dòng gọi là đôi điều phía sau trang viết. Đọc Luận chiến văn chương có cái thú vị được mở rộng tri thức xung quanh vấn đề phản biện. Ví dụ: Cho đến nay nhiều người vẫn cố tình dẫn câu Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn để ca ngợi Phạm Quỳnh. Nhưng Chu Giang đã dẫn lại câu đó đầy đủ như sau: Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn. Có gì mà lo, có gì mà sợ, còn điều chi nữa mà ngờ.

Nhưng để hiểu được câu Truyện Kiều còn… phải tiếp cận đầy đủ văn bản Bài diễn thuyết bằng quốc văn của Phạm Quỳnh đọc tại lễ kỷ niệm Nguyễn Du nhân ngày mất (10 tháng 3 âm lịch) do Hội Khai trí Tiến đức tổ chức ngày 8/9/1924, đăng lại trên Nam Phong số 86, tháng 8/1924. Để hiểu bài này của Phạm Quỳnh lại cần hiểu bài Luận về Chánh học cùng tà thuyết của cụ Ngô Đức Kế viết sau đó, đăng trên báo Hữu Thanh số 2, ngày 1/9/1924, rồi tiếp đó là bài Chánh học cùng tà thuyết có phải là quan hệ chung không? của cụ Huỳnh Thúc Kháng đăng trên Tiếng Dân số 317, ngày 7/9/1930. Phải đọc lại cả Dư luận đương thời về Phạm Quỳnh, về Chủ đích Nam Phong của Gs. Nguyễn Văn Chung, về Hà Nội Xưa và Nay của Bạch Diện Nguyễn Văn Cư (thân phụ của nhà văn Nguyễn Thị Bích Thuận cũng đã quá cố năm ngoái).

Cũng cần dẫn ra đây bài Phê bình Việt Nam Sử lược in ở quyển IV : Luận chiến văn chương, trang 323. Từ trào lưu Đổi Mới đến nay, nhiều người ca ngợi Trần Trọng Kim lên tận mây xanh. Nhưng Chu Giang đã đặt lại vấn đề một cách thuyết phục, có sở cứ. Một trong những sở cứ quan trọng là hồi ký Xứ Đông Dương của Paul Doumer, Toàn quyền Đông Dương 1897-1902. Những bức thư của tên Việt gian khát máu Nguyễn Thân bộc lộ y đã bao vây tiêu diệt Phan Đình Phùng, khác hẳn với thông tin và suy luận của Trần Trọng Kim.

Một tác giả nói rất chí lý: Tư liệu là không khí của nhà nghiên cứu. Đúng thế, thiếu không khí thì cũng sống được nhưng còi cọc, èo uột. Luận chiến của Chu Giang có sở cứ vững chắc, khó bác lại được. Có thể vì thế mà ông được tặng cho những hỗn danh như “thợ đánh”, “phê bình kiểm dịch”, “phê bình chỉ điểm”…

Nhưng cũng thú vị khi ông bộc bạch: … chỉ đúng điểm thì chỉ có lợi cho tất cả. Riêng mình chịu tiếng dữ mà mọi người được lợi lạc thì dữ sẽ hóa lành… (Luận chiến văn chương Quyển V, trang 12).

Được biết Chu Giang vốn là một người nông dân, một lực điền theo đúng nghĩa, thành thạo sơn tràng, thổ mộc (đóng gạch, nung vôi, đào đất, cắt gỗ…) từng kinh qua trận mạc. Là cử nhân Báo chí – Xuất bản khóa I (1969-1973), tại chức Văn Tổng hợp khóa 9 (1979-1985), Giám đốc – Tổng Biên tập NXB Văn học (2001-2005), xin tặng ông đôi câu đối:

Luận chiến văn chương sắc sảo, kiến thức dồi dào, giàu sáng tạo

Điều hành xuất bản vững vàng, văn phong độc đáo, mạnh đấu tranh.

Hà Nội, 10/4/2019

Đặng Minh Phương
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 546

Ý Kiến bạn đọc